[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Hồng T làm đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thâm.
[2]. Xét kháng cáo của bà T, thấy rằng: Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ là bản photo tờ "Hợp đồng vay tiền" ngày 16/7/2025 có nội dung bà Trân Thị Xuân M có vay số tiền 260.000.000 đồng của bà Lê Hồng T. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Toà án đã ra Thông báo về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ số 65/TB-TA ngày 24/10/2025 cho người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn nhận trực tiếp vào ngày 24/10/2025. Sau khi nhận Thông báo cho đến ngày mở phiên toà xét xử phía nguyên đơn không cung cấp cho Toà án bản chính của tờ "Hợp đồng vay tiền" ngày 16/7/2025 và các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo nội dung Toà án đã thông báo.
Do đó, toà án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử và tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm ngày 07-9-2026 (vắng mặt người đang nhận uy quyền hợp pháp của bị đơn), người đại diện theo uy quyên của nguyên 3 đơn cung cấp chứng cứ mới là bản chính tờ Hợp đông vay tiền" ngày 16/7/2025 nên tòà án đã ngừng phiên toà để tiến hành triệu tập bị đơn bà T tham gia phiên tòà để làm rõ chứng cứ này.
Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm ngày 16-09- 2026, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và cả bị đơn đều vắng mặt, người nhận uỷ quyền của bị đơn có văn bản thông báo chấm dứt uy quyền.
Xét thấy, việc phía nguyên đơn cung cấp bản chính hợp đồng vay tiền là tình tiết mới ở cấp phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, cấp phúc thẩm không thể xem xét đánh giá tính có căn cứ của chứng cứ mới khi cả hai bên đều văng mặt. Ngoài ra, do đây là chứng cứ mới chưa được xem xét ở cấp sơ thấm nên cần huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòà án cấp sơ thấm giải quyết lại mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các bên. Do bản án sơ thẩm bị huỷ nên không xem xét kháng cáo của bà T về nội dung yêu cầu khởi kiện.
[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù chấp vh tác chúng cút có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xết xử rên được
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do bản án bị huỷ nên nên bà T không phải chịu án phí phúc thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: - Không xem xét kháng cáo của bà Lê Hồng T. - Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2026/DSST ngày 22-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long. Cụ thể tuyên:
1. Huỷ Bản án dân sự sơ thấm số 91/2026/DSST ngày 22-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long. Giao hồ sơ về Tòà án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: hoàn tạm ứng án phí 300.000 đồng cho bà Lê Hồng T, theo biên lai thu số 0010489 ngày 29-05-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.