Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị D nộp trong thời hạn, đúng qui định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố Tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản và nợ hụi” là đúng qui định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: [2.1]. Xét kháng cáo của bà Huỳnh Thị D, không đồng ý buộc ông Dương Văn Đ liên đới cùng với bà trả nợ, nhận thấy: Xét thấy: Bà Huỳnh Thị D và ông Dương Văn Đ là vợ chồng, việc tổ chức góp hụi của bà D thực hiện trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, bà D không có chứng cứ chứng minh việc sử dụng toàn bộ số tiền huê hồng vào mục đích cá nhân. Đồng thời, ông Đ biết bà D làm chủ hụi có đi góp tiền hụi cho bà D. Bà D thừa nhận việc tổ chức khui hụi được tổ chức tại nhà bà, tiền vay và tiền nợ hụi sử dụng vào mục đích choàng hụi và lo chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Như vậy, có đủ cơ sở xác định số tiền bà D thu được từ làm đầu thảo hụi là nhằm 5 phục vụ sinh hoạt gia đình, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khoản 1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình qui định“ Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”; khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình qui định” “ Vợ, chông có nghĩa vụ chung do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu yêu cầu của gia đình”. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đ cùng có nghĩa vụ liên đới với bà D trả nợ cho bà N là có căn cứ.
Từ những phân tích trên xét kháng cáo của Huỳnh Thị D không có cơ sở nên không được chấp nhận. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[4] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị D. Giữ y bản án sơ thẩm số 46/2026/DS-ST ngày 16/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp. Căn cứ Điều 357, 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; - Các Điều 15, 16, 17, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N; Buộc bà Huỳnh Thị D và ông Dương Văn Đ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N tổng số tiền là 408.428.000 đồng (bốn trăm lẻ tám triệu, bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng) (trong đó vốn vay 300.000.000 đồng, 45.000.000 đồng tiền lãi và 63.428.000 đồng tiền hụi). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, 6 hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004489 ngày 30/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Bà Huỳnh Thị D và ông Dương Văn Đ liên đới chịu 20.421.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.761.000 đồng theo biên lai thu số 0008018 ngày 13/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. 7 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Vĩnh Hữu—Nguyễn Chí Dững Nguyễn Thị Diệp Thúy