Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 136/HGT ngày 03/11/1999 của Tòa án nhân dân Quận 8, TP H (sau đây gọi tắt là Quyết định 136/HGT) đã công nhận sự thỏa thuận giữa các nguyên đơn là bà Lê Thị Đ2, bà Trần Thị K7, bà Trần Thị Anh Đ6 với bị đơn là ông Trần Trí B, bà Hứa Thiếu M và 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Văn Thị N3 và ông Thái Văn M9, ông Huỳnh Văn P và bà Lý Tú P1. Quyết định 136/HGT thể hiện: ông B, bà M có trách nhiệm trả cho bà K7 20 lượng vàng SJC, trả cho bà Đ6 200.000.000 đồng và tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ của bà Đ2 gồm 100 lượng vàng 24K 96% và 40 lượng vàng SJC bằng cách trừ lại 4.000m2 trong khu đất 18.084m2 gồm các thửa 408, 409, 410, 411, 412 do bà Đ2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích 15.121m2 đất thuộc các thửa đất số 408, 409, 410, 411, 412 và một phần thửa 397, 407 thuộc tờ bản đồ số 8 phường B, quận B, TP H thuộc quyền sử dụng của ông Trần Trí B, bà Hứa Thiếu M.
[2] Năm 1999, nguyên đơn là ông Huỳnh Văn P khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Trần Trí B phải có trách nhiệm thanh toán cho ông P hai khoản tiền mà ông P cho rằng ông B vay của ông, cụ thể: - Đối với khoản tiền 2.100.000.000 đồng: Từ ngày 15/5/1996 đến ngày 01/02/1997, ông B viết 8 giấy vay nợ ông P với tổng số tiền là 2.100.000.000 đồng. Ông B cho rằng, số nợ trên gồm có vốn nhập lãi nhưng ông B không có chứng cứ chứng minh. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, ông B thừa nhận có nợ ông P 2.100.000.000 đồng. Ông B đã trả cho ông P 320.000.000 đồng. Ngoài ra, trong số tiền 300.000.000 đồng ông B vay của ông P ngày 30/1/1997 thì ông B cho rằng chỉ nhận 100.000.000 đồng, còn 200.000.000 đồng, ông B nhờ ông P trả cho ông Tăng Nhuệ H16 (S) nhưng ông P vẫn chưa trả giúp cho ông H16. - Đối với khoản tiền 3.250.000.000 đồng: Theo hợp đồng vay mượn tiền được công chứng tại phòng C9 ngày 29/01/1997 thể hiện nội dung: Bên B là ông B, bà M (Bên mượn) đang lập thủ tục xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Đ2 diện tích 17.732m2 tại Ấp D, xã B, huyện B, TP H thuộc một phần thửa lô số 408, 409, 410, 411, 412 và của bà Văn Thị N3 diện tích 1037m2 thuộc một phần thửa 397, 407 thuộc tờ bản đồ số 8 bộ địa chính, xã B, huyện B. Bên A 17 là ông Huỳnh Văn P và vợ là bà Lý Tú P1 (Bên cho mượn) cho ông Trần Trí B và bà Hứa Thiếu M mượn 3.250.000.000 đồng để mua 17.732m2 đất của bà Lê Thị Đ2 và bà Văn Thị Như . Thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, không có lãi xuất; Điều 4 Hợp đồng quy định: “Quá thời hạn hợp đồng này, bên B không trả đủ số tiền đã mượn thì bên B cam kết và đồng ý lập mọi thủ tục để cho bên A được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.”. Điều 5 Hợp đồng quy định: “Trong trường hợp do yếu tố khách quan không được cơ quan chức năng chấp thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên A có quyền thu hồi số tiền mượn, theo quy định của pháp luật hiện hành”. Sau khi Quyết định giám đốc thẩm số 35/2015/QĐ-GĐT ngày 12/11/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã huỷ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối tại TP H và Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân TPHCM, trong quá trình giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lý Tú P1 và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn P và bị đơn ông Trần Trí B, bà Hứa Thiếu M thống nhất: - Các khoản nợ ông B, bà M nợ ông Huỳnh Văn P các bên thỏa thuận tổng cộng là 12.500.000.000 đồng gồm cả lãi. Ông B, bà M có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 12.500.000.000 đồng trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 23/12/2024, chậm nhất là ngày 23/6/2025 sẽ thanh toán dứt điểm số tiền trên. Trường hợp quá thời hạn ngày 23/6/2025 mà phía ông B, bà M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì còn phải chịu tiền lãi tương ứng mức lãi suất 9%/năm trên số tiền chưa thi hành. - Bà Lý Tú P1 và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn tự nguyện rút các phần yêu cầu khởi kiện sau: Buộc bị đơn ông Trần Trí B, bà Hứa Thiếu M phải chuyển giao diện tích 15.121m2 mà ông B, bà M đã được công nhận trọn quyền sử dụng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 136/HGT theo nội dung cam kết tại Điều 4 Hợp đồng vay tài sản ngày 29/01/1997 giữa các bên. Buộc bà Danh Thị Kiều N và ông Nguyễn Văn P2 dỡ bỏ các công trình xây dựng trái phép nằm trong phần đất có diện tích 15.121m2 thuộc các thửa đất số 408, 409. 410, 411, 412 và 01 phần thửa 397, 407 thuộc tờ bản đồ số 8 phường B, quận B. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết và ban hành quyết định theo thỏa thuận của các đương sự như đã nêu trên; sau khi giải quyết sơ thẩm, các đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với thỏa thuận này nên phần quyết định này có hiệu lực pháp luật thi hành.
[3] Tại “Hợp đồng mua bán” viết giấy tay ngày 02/01/2000 (không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền) có chữ ký của Bên bán (Bên A) là ông Trần Trí B, Bên mua (Bên B) là ông Danh Quốc C1, bà Hứa Thiếu M và người làm chứng là ông Trần Thanh Đ4 (riêng bà M không có ký tên trong hợp đồng) thể hiện ông Trần Trí B là “chủ sử dụng một phần thửa đất số 397, 407 tờ bản đồ số 8 bộ địa chính xã B, huyện B, TP H nhận chuyển nhượng từ bà Văn Thị 18 M10 theo báo cáo thuyết minh ngày 27/6/1996 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 845/QSDĐ ngày 12/02/1996 với diện tích và thuộc một phần thửa 408 (1), 411, 412 với diện tích là 4618 m2, tờ bản đồ số 8 bộ địa chính xã B, huyện B nhận chuyển nhượng từ bà Lê Thị Đ2 theo báo cáo thuyết minh ngày 26/3/1996 bản đồ 298/QSDĐ ngày 09/12/1995 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 136/HGT của TAND.Q8 ngày 03/01/1999”…“Bên A bán cho Bên B với tổng diện tích là 5655m2 với giá 3 tỷ Việt Nam đồng, Bên B nhận đất ngay và thanh toán cho Bên A 2,8 tỷ, còn lại 200 triệu Bên B sẽ thanh toán đủ khi Bên A tách thửa cho Bên B và hoàn tất sổ đỏ trong thời gian 01 năm”.
[4] Theo Văn bản số 330/BC-UBND ngày 15/9/2016 của UBND phường B về việc cung cấp số lượng công trình hiện có trên phần đất tranh chấp, từ năm 2002 đến năm 2014, hiện trạng khu đất có 10 công trình xây dựng không phép do Chủ đầu tư xây dựng là bà Danh Thị Kiều N; 03 công trình xây dựng không phép do Chủ đầu tư xây dựng là ông Danh Quốc C1 (em ruột bà Danh Thị Kiều N) xây dựng. Theo Văn bản số 1083/UBND ngày 26/11/2024 của UBND phường B về việc cung cấp số lượng công trình hiện có trên phần đất tranh chấp tọa lạc tại khu đất 5.655m2 thuộc các thửa 397, 407, tờ bản đồ số 8, phường B thì hiện trạng khu đất có 15 công trình đang cho thuê.
[5] Xét kháng cáo của bà Bùi Kim S và bà Nguyễn Thị H11: Đối với kháng cáo của bà Bùi Kim S: Bà S cung cấp cho Di chúc của ông Huỳnh Văn P lập ngày 02/7/2020 được chứng thực tại Văn phòng C10 với nội dung: “Bà Bùi Kim S là người có công phụng dưỡng, chăm sóc tôi sẽ được thừa kế toàn bộ quyền tài sản của tôi phát sinh từ Hợp đồng vay mượn tiền được Phòng C9, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 29/01/1997, số 04617 Q.1/97 (các biên nhận kèm theo), Bản án số 596/DSPT ngày 20/4/2000 và Bản án số 321/DSPT ngày 25/6/1999 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài bà Bùi Kim S, tôi không để lại tài sản nêu trên cho bất cứ ai khác.”. Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.”. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Huỳnh Văn P chết, Tòa án cấp sơ thẩm đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông P là các ông, bà Lý Tú P1, Huỳnh Lệ H1, Huỳnh Yến V, Huỳnh Chí C8 là có căn cứ, đúng pháp luật. Trong vụ án, ông P lập di chúc cho bà S được thừa kế tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm lẽ ra phải căn cứ khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự để đưa bà S tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng mới đúng quy định của pháp luật. Việc xác định bà S tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa phù hợp. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà Bùi Kim S không có yêu cầu độc lập và trình bày bà khởi kiện với những người thừa kế của ông P khi phát sinh tranh chấp liên quan đến di chúc. Tòa án cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện trong vụ án khác cho bà Bùi Kim S là có căn cứ, đúng pháp luật nên không 19 có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà S. Đối với kháng cáo của bà H1: bà H1 trình bày năm 2000 bà đã nhận chuyển nhượng của ông C1 2.000m2 đất trong phần đất 5.655m2 có tranh chấp giá 1.600.000.000 đồng, bà đã trả trước cho ông C1 800.000.000 đồng. Tại cấp sơ thẩm bà H1 trình bày trong trường hợp ông C1 không được Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập thì bà cũng không có yêu cầu trong vụ án này và sẽ tranh chấp với ông C1 trong vụ án khác. Tòa án cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện trong vụ án khác cho bà Nguyễn Thị H11 là có căn cứ, đúng pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H11.
[6]
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ, không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tách vụ án không đúng quy định của pháp luật và quá trình giải quyết bỏ sót người tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, cụ thể như sau: [6.1] Ông Danh Quốc C1 có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất 5.655m2 thuộc các thửa 397, 407, tờ bản đồ số 8, phường B theo “Hợp đồng mua bán” viết giấy tay ngày 02/01/2000. Bị đơn là ông Trần Trí B, bà M không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông C1 vì ông B không ký tên trong hợp đồng này. [6.2] Hồ sơ vụ án thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ ông B, bà M có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu hay không. Bản án sơ thẩm thể hiện trên diện tích 5.655m2 đất tranh chấp có nhiều công trình và nhiều hộ dân đang cư trú (trong đó có các công trình của gia đình bà Danh Thị Kiều N, ông Danh Quốc C1), các đương sự và người đại diện theo ủy quyền của ông C1 không yêu cầu Tòa án đo vẽ, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá, các công trình xây dựng trên đất không yêu cầu giải quyết trong vụ án này (tại Biên bản ngày 20/8/2024 và ngày 19/11/2024). Tại Bản tường trình ngày 23/5/2024 của ông Danh Quốc C1 trình bày có 65 công trình trên đất, ông C1 đã chuyển nhượng một số diện tích đất trong phần diện tích khu đất 5.655m2 thuộc các thửa số 397, 407 và một phần thửa 408 (1), 411, 412 tờ bản đồ số 8 phường B, quận B, TP H cho 56 người. [6.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Trí B xác nhận chưa thi hành khoản tiền nào cho nguyên đơn theo quyết định của bản án sơ thẩm vì không có khả năng thi hành án. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục duy trì việc kê biên quyền sử dụng 15.121m2 đất tại phường B, quận B mà ông B, bà M được công nhận theo Quyết định số 136/HGT để đảm bảo thi hành án.
Tuy nhiên, trên diện tích đất này có rất nhiều công trình, nhà ở do bà Danh Thị Kiều N và ông Danh Quốc C1 xây dựng cũng như còn nhiều người khác đã nhận chuyển nhượng đất tranh chấp và ở trên công trình, nhà ở này. Các đương sự có tranh chấp với nhau về Hợp đồng 20 chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ý chí của ông B đối với các công trình, nhà ở và những người ở trên đất để giải quyết hậu quả pháp lý đối với những công trình, nhà ở và người ở trên đất là chưa giải quyết triệt để vụ án, dẫn đến việc Bản án quyết định kê biên quyền sử dụng đất của ông B, bà M không thể thi hành được trong giai đoạn thi hành án. [6.4] Việc bỏ sót người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn và cho thực hiện thủ tục kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên đối với những người Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng, cụ thể là 10 ông, bà: Trần Thu H13, Trần Thị H14, Trần Thị K5, Nguyễn Ngọc S1, Nguyễn Văn S2, Trần Thị P8, Đoàn Thị Kim L9 (Đoàn Kim L9), Lê Văn K6, Lê Thị Ngọc H15, Giang Lò M8. Ngoài 10 ông bà có tên nêu trên còn có 03 người khác không được Tòa án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng có đơn kháng cáo là các ông, bà Dương Thị Ngọc H17, Trần Thị Ngọc L10, Đoàn Thành L11; Tòa án cấp sơ thẩm chưa cho những người này đóng tiền tạm ứng án phí kháng cáo. Toàn bộ 13 người trên đều cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh họ có mua bán, chuyển nhượng nhà đất với ông Danh Quốc C1, có nhiều người đang quản lý tài sản và ở trên diện tích đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các đương sự và người đại diện theo ủy quyền của ông Danh Quốc C1 không yêu cầu Tòa án thực hiện việc đo vẽ, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá; các công trình trên đất ông C1 không yêu cầu giải quyết nên không tiến hành thực hiện. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh, thu thập chứng cứ, không xem xét thẩm định tại chỗ dẫn đến bỏ sót rất nhiều người có mua bán, chuyển nhượng nhà, đất với ông Danh Quốc C1 và thực tế, họ đang ở quản lý trên diện tích đất tranh chấp là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa 10 ông/bà có tên như trên tham gia tố tụng, nhưng lại cho họ đóng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đối với vụ án này là không đúng quy định của pháp luật. Đối với 10 người này, Tòa án cấp phúc thẩm không giải quyết yêu cầu kháng cáo và được quyền liên hệ với Cơ quan Thi hành án để nhận lại số tiền đã nộp. Trong trường hợp 13 ông/bà có tên nêu trên cho rằng có liên quan đến việc mua bán, nhận chuyển nhượng đối với diện tích đất 5.655m2 có tranh chấp trong vụ án có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết khi vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[7] Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; chấp nhận ý kiến của Viện công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP H về việc: hủy một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TPHCM và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân TPHCM xét xử sơ thẩm lại phần bị hủy theo đúng quy định của pháp luật.
[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 21
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm các ông/bà: Danh Thị Kiều N, Nguyễn Văn P2, Trịnh Phạm H3, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Ngọc H4, Nguyễn Tấn L1, Nguyễn Thanh T, Danh Quốc C1, Nguyễn Thị L2, Võ Thị T7, Nguyễn Thị Kim L8, Phùng Mỹ K1, Lưu Quang K2, Nguyễn Kim M7, Phạm Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Yến P4, Trần Văn T9, Lương Xú H8, Trần Thị Mộng K3, Tạ Chấn C4, Trần Thị A3, Hồng B1, Nguyễn Thị L5, Nguyễn Văn L6. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Kim S và bà Nguyễn Thị H11.
2. Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 1016/2024/DS-ST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần Quyết định bản án đã tuyên. Cụ thể, phần Bản án sơ thẩm bị hủy như sau: “3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Danh Quốc C1 về việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 5.655m2 thuộc các thửa số 397, 407 tờ bản đồ số 8 phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán ngày 02/01/2000 giữa ông Danh Quốc C1 và ông Trần Trí B thuộc quyền sử dụng của ông Danh Quốc C1. 4. …và các ông bà khác…hoặc thực tế đang cư trú…
5. Tiếp tục duy trì việc kê biên quyền sử dụng 15.121m2 đất tại phường B, quận B mà ông Trần Trí B, bà Hứa Thiếu M được công nhận trọn quyền sử dụng theo Quyết định số 136/HGT ngày 03/11/1999 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án. … 8.3 Ông Danh Quốc C1 phải chịu án phí sơ thẩm là 200.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AE/2011/02978 ngày 21/6/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh”.
3. Giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm đối với phần nội dung đã tuyên, cụ thể: “4. Dành quyền khởi kiện trong vụ án khác cho ông Nguyễn Đình H10, bà Nguyễn Thị H11 có giao dịch mua bán chuyển nhượng nhà, đất với ông Danh Quốc C1 trên khu đất có diện tích 5.655m2 thuộc các thửa số 397, 407 tờ bản đồ số 8 phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh khi có yêu cầu và đủ điều kiện khởi kiện. …
6. Dành quyền khởi kiện trong vụ án khác cho bà Bùi Kim S với những người thừa 22 kế của ông Huỳnh Văn P (chết năm 2021) gồm bà Lý Tú P1, ông Huỳnh Chí C8, bà Huỳnh Lệ H1 (Enya L), ông Huỳnh Yến V liên quan đến di chúc ông Huỳnh Văn P lập ngày 02/7/2020 do Văn phòng C10 chứng nhận.
4. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại phần bị hủy theo đúng quy định của pháp luật.
5. Án phí: [5.1] Các ông bà Danh Thị Kiều N, Nguyễn Văn P2, Trịnh Phạm H3, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Ngọc H4, Nguyễn Tấn L1, Nguyễn Thanh T, Danh Quốc C1, Nguyễn Thị L2, Võ Thị T7, Nguyễn Thị Kim L8, Phùng Mỹ K1, Lưu Quang K2, Nguyễn Kim M7, Phạm Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Yến P4, Trần Văn T9, Lương Xú H8, Trần Thị Mộng K3, Tạ Chấn C4, Trần Thị A3, Hồng B1, Nguyễn Thị L5, Nguyễn Văn L6 không phải chịu án phí phúc thẩm dân sự. Hoàn trả cho các ông, bà có tên nêu trên số tiền tạm ứng án phí của mỗi