như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thấm.
[2] Nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Đoàn Thị L yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 và chồng là ông Nguyễn Văn C (Cu H2) trả số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đông và yêu câu tính lãi với mức lãi suất 10%/năm, kê từ ngày 06-3-2023 đên khi Tòa án xét xử sơ thâm. Bà Nguyên Thị L1 và ông C đông ý trả cho bà L1 số tiền 244.000.000 đồng và lãi suất theo quy định. Bản án sơ thâm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị L buộc bà Nguyễn Thị L1 và ông C trả cho bà Đoàn Thị L số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi là 199.166.666 đồng; không đồng ý bản án sơ thâm bà Nguyễn Thị L1 và ông C kháng cáo.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C thấy rằng: [3.1] Bà Đoàn Thị L (H) yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Văn C (Cu H2) trả cho bà số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi kể từ ngày 06-3-2023 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm, với mức lãi suất là 10%/năm, theo Giấy mượn tiền ngày 06-3-2023. 5 [3.2] Bà Nguyễn Thị L1 và ông C cho rằng chỉ còn nợ bà Đoàn Thị L (H) số tiền vay 244.000.000 đồng của các khoản vay từ năm 2013 đến năm 2019, ngày 06-3-2023 không có vay tiên của bà L (H) và cũng không viêt Giây mượn tiên ngày 06-3-2023 nên chỉ đông ý trả sô tiên vay còn nợ là 244.000.000 đông và lãi suất kể từ ngày bà L (H) khởi kiện cho đến thời điểm Tòa án xét xử. [3.3]
Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 06-3-2023 có nội dung: "Vợ chông chúng tôi có mượn của em H số tiền 1.000.000.000 đồng", có chữ ký "H2, L" chữ viết họ tên "Nguyễn Văn Cu H2, Nguyễn Thị LI" bên người mượn tiền. Bà Nguyễn Thị L1 và ông C cho răng không có ký tên vào giấy mượn tiền ngày 06- 3-2023. Tuy nhiên tại Kết luận giám định số 1040/KL-KTHS ngày 15-7-2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: "Chữ ký mang tên Nguyễn Văn Cu H2 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Nguyễn Văn C trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M01 đến M08) là do cùng một người ký ra; Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) với chữ viết đứng tên Nguyễn Văn C trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M02 đến M08) là do cùng một người viết ra; Chữ viết mang tên Nguyễn Thị L1 được đóng khung bằng mực màu đỏ trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) với chữ viết trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M08 đến M12) là không phải do cùng một người viết ra; Chữ ký được đóng khung bằng mực màu đỏ trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M08 đến M12) là do cùng một người ký ra".
Do đó, có cơ sở xác định Giấy mượn tiền ngày 06-3-2023 do ông C (Cu H2) viết và bà L1, ông C (Cu H2) có ký tên vào giấy mượn tiền này. Tại phiên tòa phúc thâm bà Nguyễn Thị L1 và ông C thừa nhận có ký tên vào giấy mượn tiền nhưng cho rằng không có nhận tiền và cấp sơ thẩm không đưa anh T vào tham gia tố tụng là thiếu người tham gia tố tụng nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm nhưng bà Nguyễn Thị L1 và ông C không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Văn C.
[4]
Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C. Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm tuy nhiên ông C, bà L1 là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; 6 - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C. - Giữ nguyên Bản án dân sư sơ thẩm số 128/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh. Căn cứ Điều 147, Điều 161, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị L (H) đối với bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C (C) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C (Cu H2) có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đoàn Thị L (H) số tiền 1.199.166.666 (Một tỷ một trăm chín mươi chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó: số tiền vay là 1.000.000.000 (Một tỷ đồng) và 199.166.666 (Một trăm chín mươi chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) tiền lãi suất. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thầm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành ản còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C (C) được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm nên không phải chịu. Hoàn trả cho bà Đoàn Thị L (H) số tiền 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012010 ngày 19-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh).
3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C (C) phải chịu 3.420.000 đồng chi phí giám định, ghi nhận bà Đoàn Thị L (H) đã nộp đủ. Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn C (C) có nghĩa vụ nộp trả lại cho bà Đoàn Thị L (H) số tiền 3.420.000 (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L1 được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có 7 quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án loặc bị cưỡng chê thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hàn! in dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luậ Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.