VBPLTin tứcÁn lệBản ánHỏi đáp AI
← Danh sách bản án
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Dân sựPhúc thẩmCông bố
⚖️Nhận định của Tòa án

[1] Xét, trình bày của ông Nguyễn Tấn Cương phù hợp với trình bày của người làm chứng ông Nguyễn Văn I (sinh năm 1949, nguyên Chủ nhiệm HTX D1, xã Q, huyện Q, từ năm 1984 đến năm 1994) đều khai thửa đất hiện tranh chấp (thửa đất số 229, tờ bản đồ 05, địa chỉ tại TDP D, phường B, tỉnh Quảng Trị) trước đây cụ Nguyễn H (cha ông C) sử dụng từ khoảng từ năm 1948 đến 1976 thì chuyển đến nơi khác ở, những người sống xung quanh cũng chuyển đi nơi khác sinh sống do khu vực này là vùng đồi, không có nước. Năm 1985-1986 cha mẹ ông C chết thì ông C vẫn tiếp tục đến trồng hoa màu, nhưng do trâu bò phá nên bỏ trống đất, ông C thỉnh thoảng có qua lại phát cây bụi làm củi đun nấu. Xét, ông C cho rằng cha ông L và những người chú, bác của ông L đến mượn ông C thửa đất này, nhưng ông C không xuất trình được tài liệu, chứng cứ, chứng minh, còn ông Lưu K thừa nhận mượn đất của ông C. Mặt khác, ông C cũng thừa nhận trước đây cụ H cha ông C và ông C chỉ sử dụng đất đến năm 1987 thì chấm dứt, chuyển đến nơi ở sinh sống, bỏ hoang đất không ai sử dụng, canh tác; ông C cũng không có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Suốt cả một thời gian dài, ông C không làm thủ tục kê khai để được cấp Giấy chứng nhận, không nộp thuế của người sử dụng đất và không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với thửa đất 229, tờ bản đồ 05.

[2] Theo trình bày của bị đơn ông Nguyễn Xuân L cũng như lời trình bày của người làm chứng là ông I thì ông L là người sử dụng đất từ năm 1988. Ngày 22/8/1994, ông L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 960m2 (trong đó 300m2 đất ở và 660m2 đất màu); ngày 15/10/2012 ông Nguyễn Xuân L và bà Lê Thị L1 được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL975132 (số vào sổ CHO 1845). Năm 2023, ông L và bà L1 làm đơn tách thửa đất 229 tờ bản đồ số 05 thành 04 thửa đất là các thửa 302, 303, 304, 305 tờ bản đồ số 5, Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài 5 nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 17/4/2023 đều mang tên ông Nguyễn Xuân L và bà Lê Thị L1. Mặc dù sau này ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại một thửa đất khác nhưng thửa đất 229, tờ bản đồ 05 đã được cấp giấy chứng nhận từ năm 1994 trong thời gian ông L đang sinh sống trên thửa đất này. Theo quy định của pháp luật đất đai qua các thời kỳ thì nhà nước không công nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách về đất đai của Nhà nước; do đó, mặc dù thửa đất tranh chấp trước đây cha ông C đã từng sử dụng, nhưng không được nhà nước giao đất hợp pháp nên việc ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L và bà L1 trả lại thửa đất là không có căn cứ. Đối với tài sản trên đất là cây mít trước đây cụ H cha ông C trồng, tuy nhiên từ khoảng năm 1986 thì ông C cũng đã từ bỏ việc sử dụng đất cũng đồng nghĩa với từ bỏ các tài sản trên đất, những cây khác theo kết quả thẩm định không thuộc diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L, không có tranh chấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Do yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông C không được chấp nhận nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông C yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gia đình ông L, và L1 được cấp là đúng pháp luật. Ông Nguyễn Tấn C kháng cáo không được chấp nhận, nhưng là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí phúc thẩm nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Quyết định

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Ông Nguyễn Tấn C được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

📄 Toàn văn bản án
100%
Đang tải PDF...