[1]. Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông Nguyễn Văn Chí E làm đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bà V1, ông E, thấy rằng: [2.1]. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là "Biên nhận" ngày 13/10/2024, có nội dung bà V1, ông E có vay của bà L số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, bà V1, ông E đã nhận đủ số tiền trên. Tại cấp sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm, bà V1 thừa nhận chữ ký, chữ viết tên bà trong biên nhận là do bà viết và ký ra; bà có lăn tay tại cuối biên nhận. Ông Chí E cũng thừa nhận ông có ký 5 tên, ghi rõ họ tên và lăn tay tại cuối biên nhận. Bà V1 và ông Chí E cho rằng khi ông, bà kỳ tên vào biên nhận thì chỉ có ký vào giấy trắng, không biết nội dung trong biên nhận viết gì và bị ông Nguyễn Chí T đe doạ.
Tuy nhiên, ông bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này của mình về việc bị đe doạ, cưỡng ép. Bà V1 cho rằng chỉ có vay của bà L số tiền 65.000.000 đồng, số tiền vay 400.000.000 đồng ghi trong biên nhận ngày 13/10/2024 thực tế là số tiền 65.000.000 bà vay.
Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này. Bản án sơ thấm buộc bà V1 phải trả cho bà L số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng là có căn cứ. Bà V1 còn cho rằng trong các lần bà vay tiền thì có nhờ bà Đặng Thị L1 vay dùm. Tại biên bản lấy lời khai của Toà án đối với bà L1 thì bà L1 xác định không có vay dùm bà V1 khoản tiền nào. Như vậy, lời trình của bà V1 với lời khai của bà L1 là không phù hợp với nhau nên không có cơ sở xem xét. [2.2]. Về trách nhiệm liên đới của ông E: thấy rằng, khoản tiền vay trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà V1 và ông Chí E. Trong quá trình giải quyết vụ án bà V1 cũng cho rằng mục đích bà vay tiền là để chăm lo cho gia đình, lo cho các con; như vậy mục đích vay tiền là để phục vụ như cầu thiết yếu của gia đình nên ông Chí E phải có nghĩa vụ trả tiền cùng với bà V1 theo quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân gia đình. Đồng thời, tại biên nhận ngày 13/10/2024 thì ông Chí E cũng có ký tên xác nhận nợ tại cuối biên nhận. Bản án sơ thẩm buộc ông E cùng liên đới với bà V1 trả số tiền nợ là có căn cứ. [2.3]. Về tiền lãi: nguyên đơn bà L cho rằng thời hạn vay khoản tiền 400.000.000 đồng là 03 tháng, tính từ ngày 13-10-2024, đến ngày 13/01/2025 là hêt hạn hợp đông. Do các bên không thông nhất vê mức lãi suât nên câp sơ thâm tính lãi suât 1,66%/tháng là có căn cứ.
Tuy nhiên, mức lãi suât này là lãi suất trong thời hạn hợp đồng 03 tháng. Khi kết thúc hợp đồng, phải tính tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 0,83%/tháng mới phù hợp. Tính lại tiền lãi từ ngày xét xử sơ thấm như sau: (400.000.000 đồng x 1,66% x 03 tháng) + (400.000.000 đồng x 0,83% x 15 tháng 27 ngày) = 72.708.000 đồng.
Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa một phần nội dung bản án sơ thẩm về tiền lãi. Buộc bà V1, ông E cùng liên đới trả cho bà L số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là: 400.000.000 đồng + 72.708.000 đồng = 472.708.000 đồng.
[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. 6
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông E, bà V1 không phải chịu án phí phúc thẩm. H tạm ứng án phí cho ông E, bà V1. Điều chỉnh lại phần án phí dân sự sơ thấm đối với số tiền buộc vợ chồng ông em, bà V1 phải trả cho bà L.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: - Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn Chí E, bà Nguyễn Thị Hồng V1. - Sửa một phần Bản án dân sự sơ thấm số 130/2026/DSST ngày 11-5-2026 của Tòa án nhân khu vực 9 - Vĩnh Long. Cụ thế tuyên: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng L đối với bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông Nguyễn Văn Chí E. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông Nguyễn Văn Chí E có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Hồng L số tiền là 472.708.000 đồng, trong đó tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi là 72.708.000 đồng.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 22.908.320 đồng bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông Nguyễn Văn Chí E có nghĩa vụ liên đới chịu. H lại cho bà Nguyễn Hồng L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.594.000 đồng theo biên lai thu số 0007615 ngày 28/10/2025 củả Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 7
3. Án phí dân sự phúc thẩm: hoàn lại tạm ứng án phí mỗi người 300.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Chí E, bà Nguyễn Thị Hồng V1, theo các Biên lai thu lần lượt số 0009950 và 0009949 cùng ngày 22-05-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.