[1] Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Thanh C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh về tranh chấp vay tài sản với bà Trần Thị T và ông Trần Chấn T1 có địa chỉ tại phường L, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh.
[2] Vê nội dung vụ án: Theo hô sơ vụ án thê hiện, ngày 30/8/2023 ông Trân Chấn T1 có vay của ông C sô tiên là 100.000.000₫, lãi suất 1%/tháng, thời gian 6 tháng. Ngày 11/6/2024 bà Trần Thị T có vay của ông C số tiền 170.000.000₫, lãi suất là 1%/tháng, thời gian 1 tháng. Các hợp đồng vay tiền có công chứng đầy đủ, khi đến hạn ông T1, bà T không trả tiền nên ông Nguyễn Thanh C khởi kiện yêu cầu ông Trần Chân T1 và và Trân Thị T thanh toán số tiền vay 270.000.000đ, không yêu cầu tính lãi. Tất cả các giấy mượn tiền này đều đã đến hạn, nhưng ông T1, bà T vẫn không trả đầy đủ tiền nợ vay khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. [2.2] Ong T1 thừa nhận có vay tiên của ông C sô tiên 100.000.000đ, ông chưa trả đủ thì ông C yêu cầu bà T viết giấy vay tiền với số tiền 170.000.000đ, Bà T thừa nhận có ký tên vào Hợp đồng vay tiền với ông C số tiền 170.000.000đ, bà I nghĩ đây là tiền gốc và lãi của số tiền vay 100.000.000đ của ông T1 với ông C nên không yêu cầu ông C trả lại giáy vay tiền. Nay ông C khởi kiện yêu cầu bà T, ông 3 T1 trả tiền 270.000.000đ thì ông T1, bà T không đồng ý. Tòa án đã yêu cầu bà T, ông T1 cung cấp chứng minh nhưng các bên không cung cấp được số tiền đã vay và nhận của ông C là bao nhiêu. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh C thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông T1, bà T trả lại số tiền 200.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Căn cứ vào các Hợp đông vay tiên đã được công chứng có chữ kỳ cua ông T1, bà T, Hội đồng xét xử xét thây có căn cứ chấp nhận yêu câu khởi kiện của ông C, cần buộc vợ chồng ông T1, bà T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông C số tiền vay 200.000.000 đồng. không yêu cầu tính lãi
[3] Về án phí: bà Trần Thị T và ông Trần Chấn T1 phải chịu án phí là 10.000.000 đồng đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Ap dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điêu 466; Điêu 468; Điêu 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định vê mức thu, miên, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòà án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh C. Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Chấn T1 thanh toán cho ông Nguyễn Thanh C số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: bà Trần Thị T và ông Trần Chấn T1 phải chịu án phí là 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. ông Nguyễn Thanh C được hoàn lại số tiền án phí 6.750.000đ theo biên lai thu số 0001075 ngày 15/01/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, Tây Ninh.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyên yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi 4 hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.