Quyết định 4814/QĐ-UBND Cần Thơ duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo 2026
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Số: /QĐ-UBND 4814 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Cần Thơ, ngày tháng 9 năm 2026 17 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố
Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025 ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ngày 25 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 17 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh;
Căn cứ Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 40/2016/NĐ-CP và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP;
Căn cứ Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày 28 tháng 02 năm 2025, Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT ngày 29 tháng 01 năm 2026; Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 11784/TTr-SNNMT ngày 09/9/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025, chi tiết theo Báo cáo đính kèm.
Điều 2. Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025 là một trong những cơ sở để các sở, ban, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan khai thác, sử dụng thông tin, số liệu trong Báo cáo phục vụ công tác lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố.
Điều 3. Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm công bố, công khai Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021
- 2025 theo quy định.
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; Thủ trưởng các sở, ban, ngành thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
| Nơi nhận: - Như Điều 4; - Bộ Nông nghiệp và Môi trường; - Cục Biển và Hải đảo Việt Nam; - CT và các PCT UBND thành phố; - Cổng Thông tin điện tử TPCT; - Cổng Thông tin điện tử SNNMT; - VP UBND TP (2H); - Lưu: VT.VK | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Trần Chí Hùng |
UÛY BAN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ CAÀN THÔ
SÔÛ NOÂNG NGHIEÄP VAØ MOÂI TRÖÔØNG
| BAÙO CAÙO HIEÄN TRAÏNG MOÂI TRÖÔØNG BIEÅN VAØ HAÛI ÑAÛO THAØNH PHOÁ CAÀN THÔ GIAI ÑOAÏN 2021 - 2025 | ||
| Cần Thơ, tháng 6 năm 2026 | ||
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................. I DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. VII DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................. IX DANH MỤC BIỂU ĐỒ ...................................................................................... X LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................... 1 TRÍCH YẾU ........................................................................................................ 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ ...................................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan đặc điểm điều kiện tự nhiên ........................................................ 7
1.1.1. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam và khu vực biển thành phố
Cần Thơ .............................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm vị trí địa lý .......................................................................... 8
1.1.3. Đặc điểm địa hình ............................................................................... 9
1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng ....................................................................... 10
1.1.5. Khí hậu ............................................................................................. 10
1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội............................................................ 11
1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế .............................................................. 11
1.2.2. Tình hình xã hội ................................................................................ 15
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực ven biển ..................................... 18
CHƯƠNG 2. SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG BIỂN ....................................................................................... 22
2.1. Sức ép dân số, vấn đề di cư, đô thị hóa và biến đổi khí hậu – nước biển dâng ..................................................................................................................... 22
2.1.1. Sức ép dân số và mật độ khu vực ven biển ...................................... 22
2.1.2. Quá trình tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển .................. 23
2.1.3. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các tác động liên quan ........... 24
2.2. Sức ép từ hoạt động nông nghiệp và thủy sản ............................................ 26
2.2.1. Hoạt động nông nghiệp .................................................................... 26
2.2.2. Nuôi trồng thủy sản .......................................................................... 29
2.2.3. Khai thác thủy sản ven biển .............................................................. 33
i
2.3. Sức ép hoạt động công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, kinh tế hàng hải, phát triển năng lượng, tác động giao khu vực biển, khai thác cát biển và nguồn thải từ sông Hậu ra cửa biển ................................................................................ 36
2.3.1. Sức ép hoạt động công nghiệp ven biển ........................................... 36
2.3.2. Sức ép của hoạt động xây dựng, san lấp và lấn biển ........................ 38
2.3.3. Sức ép của hoạt động giao thông vận tải và hoạt động cảng ............ 40
2.3.4. Tác động từ việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển ......................................................................... 41
2.3.5. Phát triển năng lượng vùng ven biển ................................................ 42
2.3.6. Khai thác cát biển ............................................................................. 44
2.3.7. Nguồn thải từ hệ thống sông Hậu và các thủy vực ven biển: ........... 45
2.4. Sức ép hoạt động du lịch và dịch vụ, kinh doanh, thương mại ................... 47
2.4.1. Đặc điểm phát triển du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển .......... 47
2.4.2. Sức ép từ hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển ......... 48
CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC .................................. 50
3.1. Nước mặt lục địa ......................................................................................... 50
3.1.1. Tài nguyên nước mặt lục địa thành phố Cần Thơ ............................ 50
3.1.2. Diễn biến ô nhiễm ............................................................................. 51
3.2. Diễn biến môi trường biển ven bờ .............................................................. 73
3.2.1. Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026: .............................................. 75
3.2.2. Kết quả quan trắc định kỳ nước biển ven bờ giai đoạn 2021 - 2025: ..
......................................................................................................... 79
3.3. Các vấn đề nổi cộm về môi trường biển tại các đảo, cụm đảo ................... 86
3.3.1. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa; công tác thu gom, xử lý còn
hạn chế .............................................................................................. 86
3.3.2. Ô nhiễm nước biển ven đảo do nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế
biến thủy sản quy mô nhỏ ................................................................. 88
3.3.3. Suy thoái hệ sinh thái ven đảo (rừng ngập mặn, bãi triều), suy giảm
nguồn lợi thủy sản ............................................................................. 90
3.3.4. Xói lở bờ đảo, xâm nhập mặn, tác động của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng ........................................................................................... 91
3.3.5. Áp lực từ giao thông hàng hải, neo đậu tàu thuyền và hoạt động du
lịch .................................................................................................... 91
3.3.6. Đánh giá tổng hợp tác động của nguồn thải nội địa đến môi trường
nước biển ven bờ khu vực các xã đảo............................................... 92
CHƯƠNG 4. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ................................... 94
ii
4.1. CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BIỂN ............................................ 94
4.1.1. Hệ sinh thái cửa sông ........................................................................ 94
4.1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn .............................................................. 96
4.1.3. Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi ........................................................ 98
4.1.4. Hệ sinh thái vùng nước ven bờ ......................................................... 99
4.2. Thành phần loài và đa dạng sinh học ........................................................ 100
4.2.1. Thành phần loài .............................................................................. 100
4.2.2. Phân loại theo giá trị bảo tồn và kinh tế ......................................... 107
4.2.3. Vùng phân bố .................................................................................. 110
4.3. Hiện trạng nguồn lợi thủy hải sản ............................................................. 111
4.4. Các yếu tố tác động đến đa dạng sinh học ................................................ 113
4.4.1. Biến đổi khí hậu .............................................................................. 113
4.4.2. Xâm nhập mặn ................................................................................ 113
4.4.3. Thay đổi dòng chảy và phù sa ........................................................ 114
4.4.4. Suy thoái và thu hẹp sinh cảnh ven biển ........................................ 114
4.4.5. Tác động từ hoạt động khai thác thủy sản ...................................... 114
4.4.6. Ô nhiễm môi trường biển: .............................................................. 115
CHƯƠNG 5. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG .................................... 116
5.1. Khái quát tình hình công tác quản lý rác thải đại dương trên địa bàn thành phố Cần Thơ ...................................................................................................... 116
5.2. Quản lý rác thải đại dương ........................................................................ 119
5.2.1. Các nguồn phát sinh rác thải đại dương ......................................... 119
5.2.2. Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý ......................... 124
5.2.3. Các điểm nóng ô nhiễm rác thải biển ............................................. 127
CHƯƠNG 6. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN .......... 130
6.1. Tác động của các nguồn gây ô nhiễm đối với môi trường biển và ven biển .. ................................................................................................................... 130
6.1.1. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ đất liền .................................. 130
6.1.2. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển
...................................................................................................... 132
6.1.3. Tác động của ô nhiễm từ rác thải nhựa .......................................... 134
6.2. Khai thác thiếu bền vững, gia tăng mức độ suy giảm tài nguyên biển ..... 136
6.2.1. Suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ .............................................. 136
6.2.2. Tác động của khai thác cát biển đến địa mạo và hệ sinh thái ven bờ ..
...................................................................................................... 137
iii
6.3. Suy giảm chất lượng môi trường nước biển.............................................. 139
6.4. Tác động của ô nhiễm môi trường biển đối với các vấn đề kinh tế - xã hội, cảnh quan và hệ sinh thái .................................................................................. 141
6.4.1. Đối với phát triển kinh tế - xã hội ................................................... 141
6.4.2. Đối với cảnh quan môi trường ........................................................ 143
6.4.3. Đối với hệ sinh thái ......................................................................... 145
6.5. Biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng, sự cố môi trường ................. 146
6.5.1. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng lên môi
trường biển ...................................................................................... 146
6.5.2. Sự cố môi trường biển .................................................................... 148
6.6. Xung đột môi trường ................................................................................. 149
6.6.1. Xung đột giữa các hoạt động kinh tế .............................................. 149
6.6.2. Xung đột lợi ích giữa các nhóm...................................................... 150
CHƯƠNG 7. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ................. 151
7.1. Tình hình thực hiện các chỉ tiêu về môi trường trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ................................................................................................... 151
7.1.1. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội, môi trường thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 - 2025 ..................................................................... 151
7.1.2. Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu về môi trường trong Kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 - 2025 ............................................................................ 152
7.2. Hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật ............................... 153
7.2.1. Hệ thống văn bản triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ môi trường, môi trường biển – ven biển của Trung ương ......... 153
7.2.2. Các văn bản pháp lý và chương trình, kế hoạch của thành phố Cần
Thơ liên quan đến quản lý môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021
– 2025 ............................................................................................. 156
7.3. Hệ thống quản lý môi trường .................................................................... 160
7.3.1. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường từ cấp thành phố đến
cấp xã, phường ................................................................................ 160
7.3.2. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo theo mô
hình hai cấp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan ............................................................................ 161
7.4. Vấn đề tài chính, đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường biển ................. 162
7.4.1. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ môi trường biển .
....................................................................................................... 162
iv
7.4.2. Đầu tư từ việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và
các nguồn lực xã hội hóa ................................................................ 163
7.5. Triển khai thực hiện các công cụ quản lý môi trường .............................. 164
7.5.1. Công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ
môi trường ...................................................................................... 164
7.5.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật
về môi trường ................................................................................. 165
7.5.3. Công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi
trường .............................................................................................. 166
7.5.4. Công tác quan trắc và cung cấp thông tin môi trường ................... 168
7.5.5. Hiện trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 169
7.5.6. Tình hình cấp phép, quản lý hoạt động nhận chìm ở biển theo quy định
tại Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ................................................... 170
7.6. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và vấn đề áp dụng các công nghệ mới ................................................................................................................... 171
7.6.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực môi trường
...................................................................................................... 171
7.6.2. Hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ .................................. 172
7.6.3. Vấn đề áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi
trường .............................................................................................. 173
7.7. Nâng cao nhận thức cộng đồng và vấn đề xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo ....................................................................................... 173
7.7.1. Các chương trình, kế hoạch hành động nhằm nâng cao nhận thức cộng
đồng ................................................................................................ 174
7.7.2. Hoạt động xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, tổ chức,
doanh nghiệp ................................................................................... 179
7.8. Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường Biển và hải đảo ............................ 185
7.8.1. Tổng quan hoạt động hợp tác quốc tế giai đoạn 2021 – 2025 ....... 185
7.8.2. Hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
môi trường biển .............................................................................. 186
7.8.3. Đánh giá kết quả hợp tác quốc tế và định hướng giai đoạn tiếp theo ..
...................................................................................................... 187
CHƯƠNG 8. CÁC THÁCH THỨC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO, PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP TRONG 5 NĂM TỚI ......................................................................................................... 188
8.1. Các thách thức về môi trường biển và hải đảo.......................................... 188
v
8.2. Phương hướng, cơ hội và giải pháp bảo vệ môi trường Biển và hải đảo trong 5 năm tới ............................................................................................................ 189
8.2.1. Phương hướng chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo gắn với
phát triển bền vững ......................................................................... 191
8.2.2. Các cơ hội trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo ....... 191
8.2.3. Các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai
đoạn 2026 – 2030 ............................................................................ 192
8.2.4. Tổ chức thực hiện, lộ trình triển khai và các chỉ tiêu giám sát....... 201 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ .............................................................................. 206 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 210
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp sáu xã/phường ven biển thành phố Cần Thơ ..................... 18 Bảng 2.1. Diện tích nuôi tôm tại khu vực ven biển ............................................ 29 Bảng 2.2. Cơ cấu đội tàu cá và công tác kiểm soát hành trình (VMS) giai đoạn 2021 – 2025 ......................................................................................................... 34 Bảng 2.3. Ước tính khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 ................................................................................... 35 Bảng 2.4. Số phương tiện đăng ký giao thông đường thủy ................................ 40 Bảng 2.5. Một số khu vực khai thác và nghiên cứu cát biển tại Cần Thơ .......... 45 Bảng 2.6. Tính chất hoạt động của các loại hình dịch vụ ven biển .................... 47 Bảng 2.7. Ma trận tổng hợp rủi ro các sức ép môi trường .................................. 49 Bảng 3.1. Các vị trí lấy mẫu nước mặt phục vụ báo cáo Hiện trạng Biển và Hải đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ ................................................................... 51 Bảng 3.2. Các vị trí quan trắc chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025 ...... 59 Bảng 3.3. Chỉ số VN_WQI và sự phù hợp với mục đích sử dụng ...................... 61 Bảng 3.4. Chỉ số VN_WQI qua các đợt quan trắc nước mặt tại khu vực thành phố Cần Thơ ............................................................................................................... 61 Bảng 3.5. Phương pháp phân tích mẫu ............................................................... 74 Bảng 3.6. Điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ .................................... 74 Bảng 3.7. Khối lượng chất thải rắn và rác thải nhựa phát sinh tại các xã đảo .... 87 Bảng 3.8. Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại các xã đảo ........................... 88 Bảng 4.1. Diễn biến diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 2021 – 2025 ................. 97 Bảng 4.2. Danh mục các loài cá tiêu biểu ......................................................... 101 Bảng 4.3. Danh mục loài giáp xác tiêu biểu ..................................................... 103 Bảng 4.4. Danh mục loài nhuyễn thể tiêu biểu ................................................. 105 Bảng 4.5. Loài quý hiếm, nguy cấp ghi nhận tại vùng biển Cần Thơ và vùng lân cận ..................................................................................................................... 107 Bảng 4.6. Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 ....................... 111 Bảng 5.1. Khối lượng CTRSH trên địa bàn các xã, phường ven biển .............. 120 Bảng 5.2. Một số chương trình, dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và khu vực cửa cống ............................................................................................................ 125 Bảng 6.1. Đánh giá nguy cơ môi trường liên quan khai thác cát biển .............. 139 Bảng 7.1. Tổng hợp chỉ tiêu môi trường giai đoạn trước sáp nhập .................. 151 Bảng 7.2. Kinh phí và ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường biển thành phố giai đoạn 2021 - 2025 ........................................................................................ 163
vii
Bảng 7.3. Thống kê các hoạt động tuyên truyền biển và hải đảo tiêu biểu giai đoạn 2021 – 2025 ....................................................................................................... 176 Bảng 7.4. Tổng hợp các dự án/chương trình xã hội hóa bảo vệ môi trường biển tại Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 ........................................................................ 183 Bảng 8.1. Tổng hợp các nhóm thách thức và định hướng giải pháp ưu tiên .... 190 Bảng 8.2. Phân công thực hiện các nhóm giải pháp bảo vệ môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030 ................................................ 199 Bảng 8.3. Các chỉ tiêu giám sát thực hiện công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030 .............................................................................................. 204
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính Cần Thơ sau sáp nhập ............................................ 8 Hình 3.1. Vị trí lấy mẫu nước mặt báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ .............................................................................................. 52 Hình 3.2. Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố Cần Thơ ...................................................................................................................... 80 Hình 4.1. Cửa sông Mỹ Thanh và Trần Đề ......................................................... 95 Hình 4.2. Khu sinh thái rừng ngập mặn xã Cù Lao Dung (địa phận An Thạnh Nam cũ) ........................................................................................................................ 96 Hình 4.3. Hình ảnh một số loài cá tiêu biểu ...................................................... 102 Hình 4.4. Hình ảnh một số loài giáp xác tiêu biểu ............................................ 104 Hình 4.5. Một số loài nhuyển thể tiêu biểu ....................................................... 106 Hình 4.6. Rong biển và cỏ biển ......................................................................... 106 Hình 5.1. Thành phần các loại chất thải rắn trên địa bàn các xã ven biển ........ 119 Hình 5.2. Cảng biển Trần Đề ............................................................................ 122 Hình 5.3. Khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Mỏ Ó .............................................. 122 Hình 5.4. Tổng quan nguồn phát sinh rác thải đại dương ................................. 124 Hình 5.5. Hiện trạng rác thải tại cửa sông Trần Đề .......................................... 128 Hình 5.6. Hiện trạng rác thải tại cửa Định An .................................................. 128 Hình 5.7. Hiện trạng rác thải tại khu vực bãi triều Vĩnh Châu ......................... 129 Hình 5.8. Hiện trạng rác thải tại khu vực Cù Lao Dung ................................... 129
ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Xu thế biến động nhiệt độ không khí trung bình năm .................... 24 Biểu đồ 2.2. Sự biến động bất thường của tổng lượng mưa năm ........................ 25 Biểu đồ 3.1. Giá trị nhiệt độ tại các điểm lấy mẫu nước mặt .............................. 52 Biểu đồ 3.2. Giá trị pH tại các điểm lấy mẫu nước mặt ...................................... 53 Biểu đồ 3.3. Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước mặt ..................................... 53 Biểu đồ 3.4. Giá trị BOD tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................. 54 5 Biểu đồ 3.5. Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................. 54 Biểu đồ 3.6. Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................... 55 Biểu đồ 3.7. Giá trị Amoni tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................ 55 Biểu đồ 3.8. Giá trị nitrit tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................... 56 Biểu đồ 3.9. Giá trị tổng nitơ tại các điểm lấy mẫu nước mặt ............................ 56 Biểu đồ 3.10. Giá trị tổng photpho tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................... 57 Biểu đồ 3.11. Giá trị Sắt tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................... 57 Biểu đồ 3.12. Giá trị Coliforms tại các điểm lấy mẫu nước mặt ........................ 58 Biểu đồ 3.13. Giá trị TOC tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................. 58 Biểu đồ 3.14. Giá trị pH tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ..................... 75 Biểu đồ 3.15. Giá trị DO tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .................... 76 Biểu đồ 3.16. Giá trị TSS tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ................... 76 Biểu đồ 3.17. Giá trị Amoni tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ............... 77 3- Biểu đồ 3.18. Giá trị P-PO tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .............. 77 4 Biểu đồ 3.19. Giá trị sắt tổng tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ............. 78 Biểu đồ 3.20. Giá trị Coliforms tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .......... 78 Biểu đồ 3.21. Giá trị trung bình thông số pH giai đoạn năm 2021 – 2025 ......... 81 Biểu đồ 3.22. Giá trị trung bình thông số DO giai đoạn năm 2022 – 2025 ........ 82 Biểu đồ 3.23. Giá trị trung bình thông số TSS giai đoạn năm 2021 – 2025 ....... 82 Biểu đồ 3.24. Giá trị trung bình thông số Amoni giai đoạn 2021 – 2025 ........... 83
3-
Biểu đồ 3.25. Giá trị trung bình thông số P-PO
giai đoạn 2021 – 2025 .......... 84
4
Biểu đồ 3.26. Giá trị trung bình thông số Sắt tổng giai đoạn 2021 – 2025 ........ 85 Biểu đồ 3.27. Đánh giá của người dân về xu hướng thay đổi của nguồn lợi thủy sản trong 05 năm qua ........................................................................................... 90 Biểu đồ 5.1. Mức độ xuất hiện rác thải trên biển qua khảo sát cộng đồng ven biển ........................................................................................................................... 120 Biểu đồ 5.2. Tần suất ghi nhận các loại chất thải trên mặt biển ....................... 121 Biểu đồ 5.3. Tỷ lệ các phương thức xử lý CTRSH của hộ dân ......................... 127
x
LỜI NÓI ĐẦU
Thành phố Cần Thơ được hình thành trên cơ sở hợp nhất Cần Thơ (cũ), Hậu Giang và Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Sau sáp nhập, thành phố không chỉ mở rộng đáng kể về quy mô diện tích, dân số và không gian phát triển kinh tế mà còn trở thành địa phương có vai trò trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong kết nối giao thương nội vùng và phát triển kinh tế biển. Với đường bờ biển dài hơn 72 km, trải dài qua các xã, phường như Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề và Vĩnh Hải, thành phố có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển, logistics, nuôi trồng và khai thác thủy sản, năng lượng tái tạo cũng như du lịch sinh thái ven biển. Khu vực ven biển còn sở hữu hệ sinh thái đặc trưng với rừng ngập mặn, bãi triều và vùng cửa sông Hậu, đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn 2021 – 2024, nền kinh tế thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định với mức tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 7,3 - 7,6%/năm, và tiếp tục đạt mức 7,23% trong năm 2025. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể, khu vực công nghiệp và dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng chính: năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn thành phố tăng 10,0 - 10,43%, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng mạnh 20,02%. Đối với khu vực ven biển, các hoạt động kinh tế chủ lực như nuôi trồng tôm nước lợ, khai thác thủy sản ven bờ, phát triển năng lượng tái tạo, cũng như dịch vụ logistics và cảng biển đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, môi trường biển và ven biển của thành phố đang chịu nhiều áp lực ngày càng gia tăng. Ô nhiễm môi trường nước tại một số khu vực ven biển vẫn còn xảy ra do nước thải từ hoạt động nuôi tôm thâm canh, sinh hoạt dân cư và các hoạt động sản xuất chưa được thu gom, xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường. Bên cạnh đó, mặc dù công tác bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua việc diện tích rừng nhìn chung được duy trì ổn định và có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021 – 2025, song tại một số khu vực ven biển vẫn ghi nhận hiện tượng suy giảm cục bộ. Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến tác động của sạt lở bờ biển, triều cường, thời tiết cực đoan và các yếu tố bất lợi do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến khả năng duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng ven biển.
1
Nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng ven biển cũng có xu hướng suy giảm do áp lực khai thác kéo dài trong nhiều năm. Ngoài tác động của hoạt động khai thác, các yếu tố như nước biển dâng, biến đổi chế độ thủy văn tại khu vực cửa sông, suy giảm chất lượng môi trường nước, suy thoái các sinh cảnh quan trọng (rừng ngập mặn, bãi bồi ven biển) và sự suy giảm nguồn thức ăn tự nhiên đã ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tái tạo quần thể thủy sinh vật. Đặc biệt, rác thải nhựa phát sinh tại các cửa sông, bãi biển, khu dân cư ven biển và hoạt động khai thác thủy sản đang trở thành một trong những vấn đề môi trường đáng quan ngại. Ô nhiễm do chất thải nhựa không chỉ làm suy giảm chất lượng cảnh quan và môi trường sống của các loài sinh vật biển mà còn ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, phát triển du lịch ven biển và sức khỏe cộng đồng. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Báo cáo Hiện trạng Môi trường Biển và Hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ, hệ sinh thái và đa dạng sinh học; nhận diện các nguồn gây ô nhiễm, những tồn tại trong công tác quản lý và năng lực ứng phó đối với các sự cố môi trường biển; đồng thời phân tích các thách thức đặt ra trong giai đoạn phát triển mới sau sáp nhập. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường biển phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Báo cáo được xây dựng với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển cùng các sở, ngành và địa phương trên địa bàn thành phố. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ kỳ vọng báo cáo sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng; đồng thời là cơ sở quan trọng hỗ trợ công tác quản lý, xây dựng chính sách và định hướng các giải pháp bảo vệ môi trường biển, hải đảo của thành phố trong giai đoạn 2026 – 2030. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của thành phố trong tương lai.
2
TRÍCH YẾU
Báo cáo Hiện trạng Môi trường Biển và Hải đảo Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 được Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ xây dựng theo quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đây là báo cáo hiện trạng môi trường biển đầu tiên của thành phố sau khi hợp nhất Cần Thơ (cũ), Hậu Giang và Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Sau sáp nhập, thành phố chính thức có không gian biển với đường bờ biển dài hơn 72 km tiếp giáp Biển Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển trong giai đoạn phát triển mới. Mục đích của báo cáo là đánh giá tổng thể hiện trạng, diễn biến và xu hướng chất lượng môi trường biển và ven biển giai đoạn 2021 – 2025; nhận diện các nguồn gây ô nhiễm, các áp lực từ phát triển kinh tế – xã hội và những vấn đề môi trường nổi cộm tại khu vực ven biển. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố sau sáp nhập, trong đó tập trung vào chuyên đề quản lý rác thải nhựa vùng ven biển và cửa sông. Phạm vi đánh giá tập trung vào vùng biển ven bờ, cửa sông và các hệ sinh thái ven biển thuộc địa bàn thành phố, bao gồm khu vực Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề, Vĩnh Hải và vùng cửa sông Hậu đổ ra Biển Đông. Thời gian đánh giá trong giai đoạn 2021 – 2025, đồng thời cập nhật, bổ sung số liệu quan trắc thực hiện vào tháng 3/2026, gồm: số liệu quan trắc tại 03 cửa sông Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh và số liệu quan trắc nước biển ven bờ tại 06 điểm thuộc địa bàn các xã, phường ven biển. Báo cáo là tài liệu phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố và chính quyền địa phương cấp xã trong công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, quy hoạch và hoạch định chính sách bảo vệ môi trường biển; đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu cho các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia, cơ sở đào tạo và các tổ chức liên quan phục vụ nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, báo cáo còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp và người dân khu vực ven biển về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và phát triển bền vững. Báo cáo được xây dựng theo khung phân tích DPSIR (Động lực – Sức ép – Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng), bảo đảm tính hệ thống và khả năng liên kết giữa các nhóm thông tin. Người đọc quan tâm đến chất lượng môi trường nước mặt nội địa và chất lượng nước biển ven bờ có thể tham khảo Chương 3; nội dung về hệ sinh thái và đa dạng sinh học tại Chương 4; chuyên đề quản lý rác thải đại dương tại Chương 5; các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại
Chương 8 cùng phần Kết luận của báo cáo.
3
Tóm tắt các chương mục của báo cáo:
Chương 1 – Tổng quan điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội: giới thiệu đặc điểm địa lý, khí hậu, chế độ thủy văn và hải văn vùng ven biển thành phố Cần Thơ; đồng thời phác thảo bức tranh phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2025, bao gồm tốc độ tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế biển, hạ tầng cảng biển và các hoạt động hội nhập quốc tế. Chương này xác lập bối cảnh nền tảng để phân tích các sức ép và hiện trạng môi trường ở các chương tiếp theo.
Chương 2 – Sức ép phát triển kinh tế – xã hội đối với môi trường biển: phân tích các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và yếu tố tự nhiên đang tạo áp lực lên môi trường biển, ven biển thành phố Cần Thơ. Các sức ép chủ yếu được xác định bao gồm gia tăng dân số, đô thị hóa, biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản; phát triển công nghiệp, hạ tầng, giao thông, cảng biển, năng lượng và khai thác tài nguyên; cùng với các hoạt động du lịch, dịch vụ ven biển. Kết quả đánh giá cho thấy tải lượng chất thải từ đất liền, áp lực khai thác tài nguyên, suy giảm sinh cảnh tự nhiên, gia tăng rác thải nhựa và các tác động của biến đổi khí hậu đang làm gia tăng nguy cơ suy thoái môi trường biển, đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
Chương 3 – Hiện trạng môi trường nước: trình bày kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ giai đoạn 2021 – 2025, bao gồm chuỗi số liệu định kỳ và đợt quan trắc bổ sung đến tháng 3/2026. Nhìn chung, phần lớn thông số chất lượng nước còn nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT; tuy nhiên, một số khu vực cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh cục bộ, có xu hướng gia tăng theo thời gian.
Chương 4 – Hiện trạng đa dạng sinh học: đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh học vùng ven biển, bao gồm các hệ sinh thái đất ngập nước, rừng ngập mặn, bãi triều và nguồn lợi thủy sinh. Diện tích rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển giai đoạn 2021 – 2025 nhìn chung duy trì tương đối ổn định, có biến động tăng giảm nhẹ theo từng năm. Giai đoạn 2023 – 2024 diện tích giảm nhẹ do tác động của sạt lở, triều cường và thời tiết cực đoan. Đến năm 2025, diện tích tăng lên 6.810,13 ha chủ yếu do cập nhật phạm vi thống kê và mở rộng phạm vi rừng phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản ven bờ có xu hướng suy giảm do áp lực khai thác kéo dài, cùng với tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm chất lượng môi trường nước và suy thoái các sinh cảnh quan trọng như rừng ngập mặn, bãi bồi ven biển, làm ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Chương 5 – Quản lý rác thải đại dương: đánh giá hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý rác thải vùng ven biển, tập trung vào rác thải nhựa và các nguồn phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản
4
và giao thông đường thủy. Chương phân tích khối lượng phát sinh ước tính, các khu vực có nguy cơ tích tụ rác thải cao, đồng thời đánh giá thực trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại khu vực ven biển. Kết quả cho thấy rác thải nhựa đã trở thành một trong những áp lực môi trường đáng quan ngại đối với hệ sinh thái và cảnh quan ven biển; công tác quản lý vẫn còn gặp nhiều khó khăn do hạ tầng thu gom, xử lý chưa đồng bộ và đặc điểm phân tán của các khu dân cư ven biển. Điều này đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp nhằm kiểm soát rác thải ngay từ nguồn phát sinh, góp phần giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường biển.
Chương 6 – Tác động của ô nhiễm môi trường biển: đánh giá các tác động của ô nhiễm và suy thoái môi trường biển đối với chất lượng nước, hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản, hoạt động kinh tế và sức khỏe cộng đồng vùng ven biển. Kết quả cho thấy môi trường biển chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau, bao gồm nước thải sinh hoạt, hoạt động nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy và rác thải nhựa. Các tác động nổi bật được ghi nhận là suy giảm chất lượng nước biển ven bờ, suy giảm nguồn lợi thủy sản và sinh cảnh tự nhiên, gia tăng nguy cơ dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến cảnh quan và các hoạt động kinh tế biển. Chương cũng phân tích vai trò của biến đổi khí hậu, xói lở bờ biển và các xung đột môi trường trong việc làm gia tăng áp lực đối với tài nguyên, môi trường biển và hệ sinh thái ven biển.
Chương 7 – Quản lý môi trường biển và hải đảo: đánh giá tổng thể công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy hệ thống cơ chế, chính sách và bộ máy quản lý từng bước được hoàn thiện; các chỉ tiêu môi trường cơ bản đạt và vượt kế hoạch đề ra. Công tác đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường, thanh tra, kiểm tra, quan trắc và kiểm soát ô nhiễm được triển khai tương đối đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường biển và ven biển. Thành phố cũng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy xã hội hóa và mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn còn một số khó khăn như nguồn lực tài chính và nhân lực chuyên môn còn hạn chế, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến còn gặp nhiều thách thức và sự liên kết, chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương chưa thực sự hiệu quả.
Chương 8 – Các thách thức trong bảo vệ môi trường biển và hải đảo, phương hướng, cơ hội và giải pháp trong 5 năm tới: phân tích các thách thức chủ yếu đối với môi trường biển Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030, gồm gia tăng ô nhiễm từ đất liền, suy giảm nguồn lợi thủy sản, suy thoái hệ sinh thái, tác động của biến đổi khí hậu, hạn chế hạ tầng và bất cập trong quản lý. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi trường và thích ứng khí hậu; đồng thời xác định cơ hội từ chuyển đổi số, khoa học công nghệ, liên kết
5
vùng và hợp tác quốc tế. Các nhóm giải pháp ưu tiên tập trung vào kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, giảm rác thải nhựa đại dương, hiện đại hóa quan trắc và cơ sở dữ liệu, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy cộng đồng cùng tham gia bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Kết luận và kiến nghị: môi trường biển Cần Thơ đang đối mặt với áp lực ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi và rủi ro thiên tai lớn, đòi hỏi phải quản lý tổng hợp kịp thời. Báo cáo kiến nghị các nhóm giải pháp đồng bộ: UBND thành phố sớm ban hành Kế hoạch quản lý vùng bờ (ICZM) giai đoạn 2026 – 2030, phục hồi rừng ngập mặn và siết chặt kiểm soát xả thải; nâng tỷ lệ thu gom rác lên trên 95%, ngăn chặn khai thác tận diệt và hỗ trợ sinh kế bền vững cho ngư dân; các Bộ ngành cùng đối tác quốc tế (GIZ, UNDP, World Bank, IUCN) ưu tiên hỗ trợ hướng dẫn kỹ thuật và nguồn vốn để địa phương triển khai hiệu quả.
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
1.1. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam và khu vực biển thành phố
Cần Thơ a. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam: Biển Đông là một biển nửa kín, được bao quanh bởi bờ biển của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ: phía Bắc giáp Trung Quốc (bao gồm cả đảo Đài Loan), phía Tây và Tây Nam giáp với Việt Nam, Campuchia, Thái Lan; phía Nam và Đông Nam giáp với Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines. Với tổng diện
2
tích ước tính khoảng 3,9 triệu km
, chiều dài khoảng 3.500 km, chiều rộng khoảng 1.100 km, Biển Đông sở hữu hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh
2
Bắc Bộ diện tích khoảng 126.250 km
và Vịnh Thái Lan diện tích khoảng 293.000 2 km . Việt Nam là quốc gia ven biển nằm ở phía Tây Biển Đông, có vị trí chiến lược quan trọng. Nước ta sở hữu hơn 3.000 hải đảo ven bờ cùng với hai quần đảo xa bờ có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế, chính trị và quốc phòng là Hoàng Sa (thuộc Thành phố Đà Nẵng) và Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Đặc điểm nổi bật nhất tạo nên tính nhạy cảm và sự trù phú về sinh thái của vùng biển nước ta là tỷ lệ tiếp cận bờ biển cực kỳ cao (trung bình cứ 100 km² đất liền lại có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần so với mức trung bình toàn cầu). Sự tương tác mãnh liệt giữa hệ thống lục địa thông qua 114 cửa sông, cửa lạch và đại dương đã kiến tạo nên các hệ sinh thái đới bờ đa dạng như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng triều lầy cửa sông. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực chịu sự tác động trực tiếp từ các rủi ro thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng và các hệ lụy từ quá trình phát triển kinh tế ven bờ. b. Khái quát đặc điểm khu vực biển thành phố Cần Thơ Sự kiện hợp nhất thành phố Cần Thơ (cũ), tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội không chỉ là sự thay đổi về địa giới hành chính, mà còn được xem là một bước ngoặt chiến lược trong công tác quy hoạch không gian phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Lần đầu tiên, thành phố Cần Thơ chính thức sở hữu đường bờ biển dài 72 km kết nối trực tiếp với Biển Đông qua địa bàn các xã, phường: Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề, Vĩnh Hải và kết nối trực tiếp với Biển Đông, nằm ở mạn sườn Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với ba cửa sông lớn đổ ra Biển Đông là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, đặc điểm này đã tạo thành vùng sinh thái cửa sông chuyển tiếp đặc thù, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chế độ bán nhật triều không đều.
7
Không gian biển này còn được định vị là xung lực phát triển cho các ngành kinh tế biển mũi nhọn của thành phố bao gồm: nuôi trồng thủy sản (tôm, nghêu), năng lượng tái tạo (điện gió) và logistics cảng biển (cảng Trần Đề). Tuy nhiên, song hành cùng tiềm năng phát triển, khu vực này cũng đang phải đối mặt với các thách thức môi trường ngày càng gay gắt, bao gồm tình trạng xâm nhập mặn lấn sâu vào nội địa, xói lở bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn và nguy cơ ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản. Thực trạng này đòi hỏi thành phố cần có các giải pháp quản lý tổng hợp vùng bờ và các chiến lược thích ứng bền vững nhằm bảo đảm tài nguyên biển trong giai đoạn phát triển mới.
1.1.2. Đặc điểm vị trí địa lý
Hnh 1.1. Bản đồ hành chính Cần Thơ sau sáp nhập 8
Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập (bao gồm TP. Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng) đã mở ra một thực thể lãnh thổ tích hợp đồng thời ba chức năng chiến lược: đô thị – trung tâm dịch vụ cấp vùng (Cần Thơ), công nghiệp – logistics nội đồng (Hậu Giang) và kinh tế biển – cảng nước sâu – năng lượng tái tạo (Sóc Trăng). Thành phố sau sáp nhập với diện tích tự nhiên hơn 6.360 km², quy mô dân số 4.199.806 người với số lượng đơn vị hành chính là 103 đơn vị hành chính cấp xã, phường (31 phường và 72 xã). Địa giới của thành phố Cần Thơ tiếp giáp như sau:
- Phía Đông, Đông Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Biển Đông;
- Phía Tây giáp tỉnh An Giang;
- Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau;
- Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh An Giang.
1.1.3. Đặc điểm địa hnh
Cần Thơ mang đặc trưng địa hình của đồng bằng phù sa thấp, bằng phẳng, đan xen với không gian cửa sông và bãi triều ven biển rộng lớn điển hình của hạ lưu sông Mê Kông. Độ cao trung bình so với mực nước biển nhìn chung rất thấp, phổ biến từ 0,5 – 2,5 mét (vùng nội đồng có nơi dưới 0,4 m). Địa hình có xu hướng cao ở các dải đất ven sông Hậu, thấp dần về phía nội đồng và thoải dần ra các bãi bồi hướng Biển Đông. Địa hình thành phố được chia thành ba dạng chính là:
- Vùng đồng bằng ven sông Hậu (Cần Thơ cũ): Đây là vùng có địa hình cao nhất, với độ cao từ 1,5 đến 2,5 m, hình thành bởi quá trình bồi tụ phù sa lâu đời của sông Hậu. Nền đất tại đây tương đối vững chắc, cực kỳ thuận lợi cho việc phát triển các khu đô thị nén, trung tâm thương mại và hạ tầng công nghiệp nặng.
- Vùng trũng nội đồng (Hậu Giang (trước sáp nhập)): Địa hình trũng thấp với độ cao từ 0,3 đến 0,8 m. Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới kênh rạch nội đồng dày đặc. Do đặc thù địa hình thấp, vùng này đóng vai trò như một túi chứa nước tự nhiên, nhưng đồng thời cũng là khu vực nhạy cảm, dễ bị tổn thương do tình trạng ngập úng vào mùa lũ và xâm nhập mặn lấn sâu vào mùa khô.
- Vùng ngập triều ven biển và cửa sông (Sóc Trăng trước sáp nhập): Độ cao biến động mạnh từ dưới 0,5 m (vùng trũng nội đồng) đến 1,0–1,5 m (gờ đê tự nhiên ven các cửa sông). Khu vực ven biển có địa hình ngập triều điển hình, với hệ thống bãi bồi và rừng ngập mặn phát triển.
9
1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng
Tài nguyên đất của thành phố Cần Thơ thể hiện sự đa dạng và phân hóa rõ rệt theo không gian, phản ánh lịch sử bồi tụ phức tạp của hệ thống sông Mekong và tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Các nhóm đất chính được phân chia thành ba tiểu vùng tương ứng với đặc điểm đại hình và mức độ phản ánh của nước mặn, nước ngọt:
- Nhóm đất phù sa (Fluviols): Phân bố chủ yếu ven sông Hậu và các kênh trục lớn thuộc khu vực Cần Thơ cũ. Nhóm đất chiếm ưu thế, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, giàu dinh dưỡng, độ phì nhiêu cao, ít bị nhiễm phèn, mặn. Là vùng đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp thâm canh, phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến.
- Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols/Gleysols): Phân bố rộng rãi tại khu vực ven biển và các cửa sông thuộc địa bàn Sóc Trăng (trước sáp nhập), đặc biệt tại các huyện Trần Đề, Cù Lao Dung, Vĩnh Châu. Đất mặn chịu ảnh hưởng trực tiếp của xâm nhập mặn theo mùa và thủy triều, có hàm lượng muối hòa tan cao. Mặc dù có độ phì tiềm tàng khá, nhưng độ mặn là yếu tố hạn chế chính đối với canh tác nông nghiệp truyền thống. Nhóm đất này đặc biệt phù hợp cho các mô hình nuôi trồng thủy sản nước lợ – mặn. Xu hướng gia tăng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang làm mở rộng diện tích đất mặn, thu hẹp không gian sản xuất lúa và cây trồng nước ngọt, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quy hoạch sử dụng đất thích ứng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông – ngư nghiệp một cách linh hoạt, bền vững.
- Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols): Chiếm diện tích đáng kể tại khu vực nội đồng trũng thấp thuộc Hậu Giang (trước sáp nhập) và một phần Sóc Trăng (trước sáp nhập). Đất phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt động có đặc điểm chua (pH thấp), nghèo lân, chứa nhiều độc chất như sắt (Fe²⁺), nhôm (Al³⁺) và sunfat. Khi bị xáo trộn hoặc oxy hóa, đất phèn giải phóng axit sulfuric gây độc cho cây trồng và ô nhiễm nguồn nước. Việc cải tạo và sử dụng đất phèn đòi hỏi hệ thống thủy lợi điều tiết nước tinh vi, kỹ thuật lên liếp, rửa phèn và lựa chọn cây trồng phù hợp.
1.1.5. Khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm hoàn toàn trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mang những nét đặc trưng điển hình của vùng Nam Bộ: Khí hậu nóng năm quanh năm, với nhiệt độ trung bình năm trên toàn vùng dao động trong khoảng 27 – 28°C và hai mùa mưa – khô rõ rệt.
- Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam. Lượng mưa chiếm khoảng 90-95% tổng lượng mưa năm. Mưa nhiều vào các tháng 7 – 10 thường kèm theo giông, sấm sét và gió mạnh.
10
- Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Thời tiết nắng gắt, ít mưa, độ ẩm thấp hơn, dễ xảy ra hạn hán cục bộ và xâm nhập mặn ở khu vực ven sông.
1.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1. Tnh hnh phát triển kinh tế
Giai đoạn 2021 - 2025, thành phố Cần Thơ có nhiều biến động quan trọng về không gian phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và hợp nhất thành phố Cần Thơ với tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng từ ngày 01/7/2025. Sau hợp nhất, thành phố Cần Thơ mới có diện tích tự nhiên 6.360,83 km², trở thành địa phương có quy mô lãnh thổ lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời sở hữu hệ thống không gian phát triển đa dạng bao gồm khu vực đô thị trung tâm, vùng nông nghiệp - công nghiệp Hậu Giang (trước sáp nhập) và vùng kinh tế biển Sóc Trăng (trước sáp nhập). Việc mở rộng không gian phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho liên kết nội vùng, khai thác hiệu quả các lợi thế về công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và kinh tế biển, đồng thời tạo nền tảng hình thành cực tăng trưởng mới của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Trong giai đoạn 2021 - 2024, kinh tế thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định với mức tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 7,3 - 7,6%/năm. Năm 2024, quy mô GRDP toàn thành phố (sau chuẩn hóa theo đơn vị hành chính mới) đạt khoảng 349.127,73 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 86 triệu đồng/người/năm (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Đến năm 2025, mặc dù phải đồng thời thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình quản lý và sắp xếp bộ máy hành chính sau sáp nhập, nền kinh tế địa phương vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 7,23%, thấp hơn mục tiêu 8,3% đề ra nhưng vẫn thuộc nhóm tăng trưởng khá của khu vực. Quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt khoảng 306.170 tỷ đồng, vượt mức dự kiến trong Đề án sắp xếp đơn vị hành chính; GRDP bình quân đầu người đạt 94,94 triệu đồng/người/năm, tăng đáng kể so với giai đoạn trước hợp nhất (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đến năm 2025, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra đồng thời với quá trình đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp, phát triển logistics và các hoạt động kinh tế biển, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và gia tăng giá trị sản xuất trên địa bàn. Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng. Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn thành phố tăng từ 10,0 - 10,43% so với năm trước. Các địa phương trước khi sáp nhập đều ghi nhận mức tăng
11
trưởng tích cực, trong đó Hậu Giang (trước sáp nhập) tăng khoảng 10,91%, Cần Thơ (trước sáp nhập) tăng 7,87% và Sóc Trăng (trước sáp nhập) tăng khoảng 8,5% trong 6 tháng đầu năm. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt là chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất thực phẩm, năng lượng tái tạo và vật liệu xây dựng. Một số ngành có tốc độ tăng trưởng nổi bật như sản xuất giày da, năng lượng điện gió và sản xuất xi măng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp chế biến góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản của địa phương, đồng thời làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên nước, năng lượng và hạ tầng xử lý chất thải công nghiệp.
Hoạt động đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 đạt khoảng 84.680 tỷ đồng, tăng 10,45% so với năm trước (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Nguồn vốn đầu tư tập trung vào phát triển hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, logistics, năng lượng tái tạo, đô thị và các công trình phục vụ phát triển kinh tế biển. Các dự án trọng điểm như tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, các khu công nghiệp mới và hệ thống cảng biển đang từng bước hoàn thiện, góp phần tăng cường khả năng kết nối giữa thành phố với các tỉnh trong khu vực và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Một trong những thay đổi quan trọng sau sáp nhập là việc thành phố Cần Thơ sở hữu khoảng 72 km đường bờ biển thuộc địa bàn tỉnh Sóc Trăng trước đây. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển theo hướng tổng hợp, bao gồm dịch vụ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch biển và các dịch vụ hậu cần nghề cá. Quy hoạch Thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định vùng Đông Nam là vùng động lực phát triển kinh tế biển với các ngành kinh tế chủ đạo gồm dịch vụ cảng biển, công nghiệp cơ khí, sửa chữa và đóng tàu, logistics biển, du lịch sinh thái và du lịch biển (Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ, 2025). Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 360.072 tỷ đồng, tăng 20,02% so với năm 2024. Hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối và các cơ sở dịch vụ tiếp tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp. Khu vực dịch vụ ngày càng khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế thành phố. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt nhiều kết quả tích cực. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt khoảng 5,508 tỷ USD, tăng 10,8% so với năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm thủy sản chế biến, gạo, nông sản thực phẩm chế biến, hàng may mặc và sản phẩm công nghiệp. Việc hợp nhất vùng nguyên liệu nông nghiệp và thủy sản của Hậu Giang, Sóc Trăng với hệ thống logistics và dịch vụ của Cần Thơ (trước sáp nhập) đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.
12
Ngành nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh lương thực. Năm 2025, sản lượng lúa toàn thành phố đạt trên 4,7 triệu tấn, vượt kế hoạch đề ra và tăng nhẹ so với năm 2024. Bên cạnh sản xuất lúa, các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao tiếp tục được mở rộng diện tích và ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục là ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt tại khu vực ven biển. Các mô hình nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, nuôi tôm công nghệ cao và nuôi kết hợp nhiều đối tượng thủy sản tiếp tục được mở rộng. Đáng chú ý, mô hình nuôi cá rô phi nước lợ kết hợp trong các vùng nuôi tôm nhằm cải thiện chất lượng nước ao nuôi đã được triển khai và bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cũng như môi trường. Hoạt động chế biến thủy sản tiếp tục phát triển mạnh, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động và đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của địa phương. Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích nuôi thâm canh và mật độ nuôi cao cũng tạo áp lực lớn đối với môi trường nước, hệ sinh thái ven biển và công tác quản lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản. Du lịch tiếp tục phục hồi và phát triển mạnh sau đại dịch COVID-19. Năm 2025, thành phố đón khoảng 11,19 triệu lượt khách du lịch, tăng 18% so với năm 2024; tổng doanh thu du lịch đạt khoảng 9.991 tỷ đồng, tăng 20% so với năm trước. Sự kết hợp giữa du lịch sông nước, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Khmer và các sản phẩm du lịch biển đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và nâng cao sức hấp dẫn của địa phương. Trong tương lai, khu vực ven biển được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những không gian phát triển du lịch trọng điểm của thành phố. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2025 đạt khoảng 25.805 tỷ đồng, vượt dự toán được giao và tăng 8,3% so với năm 2024. Kết quả này phản ánh sự phục hồi và phát triển tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Tuy nhiên, công tác giải ngân vốn đầu tư công còn gặp nhiều khó khăn do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch và hoàn thiện các thủ tục pháp lý sau sáp nhập. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 mới đạt khoảng 51,74% kế hoạch được giao, thấp hơn yêu cầu đặt ra. Định hướng phát triển không gian kinh tế trong thời gian tới được xác lập theo mô hình đa cực, gắn với 04 vùng động lực phát triển và 06 hành lang kinh tế trọng điểm theo Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, vùng phía Bắc tập trung phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và logistics; vùng trung tâm phát triển dịch vụ chất lượng cao, thương mại, tài chính, giáo dục, y tế và kinh tế số; vùng phía Tây phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông sản và năng lượng tái tạo; vùng Đông Nam tập trung phát triển kinh tế biển với các ngành chủ lực như dịch vụ cảng biển, logistics, công nghiệp cơ khí, đóng mới và sửa chữa tàu biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản, du lịch sinh thái và du lịch biển. Định hướng này tạo cơ sở để phát huy lợi thế tổng hợp của địa phương sau khi mở rộng không gian phát triển, đồng thời tăng cường tính kết nối giữa các vùng kinh tế trong nội tỉnh và với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
13
Trong giai đoạn tới, kinh tế biển được xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới của thành phố Cần Thơ. Việc sở hữu khoảng 72 km đường bờ biển cùng hệ thống cửa sông, vùng bãi bồi, rừng ngập mặn và ngư trường ven bờ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng tổng hợp, hiện đại và bền vững. Xu thế phát triển sẽ tập trung vào mở rộng hệ thống cảng biển và dịch vụ logistics; phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao gắn với vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến; nâng cao năng lực dịch vụ hậu cần nghề cá; phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi; khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch biển và du lịch cộng đồng; đồng thời thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Những định hướng này phù hợp với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên vùng ven biển. Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế của thành phố sẽ gắn chặt với xu thế tăng cường liên kết vùng trong Đồng bằng sông Cửu Long. Sau khi hợp nhất, thành phố Cần Thơ vừa giữ vai trò trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ, giáo dục và logistics của vùng, vừa trở thành đầu mối kết nối giữa khu vực nội địa với không gian kinh tế biển. Việc đầu tư đồng bộ các tuyến giao thông chiến lược như cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, cao tốc Bắc - Nam phía Đông, hệ thống quốc lộ, đường thủy nội địa và các cảng biển sẽ góp phần tăng cường kết nối giữa các vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản với các trung tâm chế biến, xuất khẩu và dịch vụ logistics. Đồng thời, sự liên kết với các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các trung tâm kinh tế lớn sẽ thúc đẩy hình thành chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - tiêu thụ quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến và dịch vụ biển. Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng không gian phát triển kinh tế biển và tăng cường liên kết vùng, áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển dự báo sẽ tiếp tục gia tăng. Việc phát triển hạ tầng cảng biển, khu công nghiệp, logistics, đô thị ven biển, mở rộng nuôi trồng thủy sản tập trung và gia tăng lưu lượng vận tải đường thủy có thể làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, phát sinh chất thải và nguy cơ ô nhiễm môi trường nước, suy giảm chất lượng hệ sinh thái ven biển nếu không được quản lý hiệu quả. Đồng thời, môi trường biển của thành phố không chỉ chịu tác động từ các hoạt động phát triển trong phạm vi địa phương mà còn chịu ảnh hưởng của các nguồn thải từ lưu vực sông Hậu, hệ thống cửa sông và các hoạt động kinh tế của các địa phương lân cận thông qua quá trình lan truyền nước, bùn cát và chất ô nhiễm. Do đó, trong giai đoạn tới, yêu cầu tăng cường liên kết vùng trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, chia sẻ dữ liệu quan trắc, kiểm soát nguồn thải và phối hợp ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ ngày càng trở nên cấp thiết, góp phần bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
14
1.2.2. Tnh hnh xã hội
Giai đoạn 2021 - 2025, cùng với những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, thành phố Cần Thơ cũng đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống người dân và bảo đảm an sinh xã hội. Việc hợp nhất thành phố Cần Thơ với tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng từ ngày 01/7/2025 đã hình thành một không gian xã hội rộng lớn với đặc điểm dân cư đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý dân cư, cung cấp dịch vụ công và bảo đảm phát triển bền vững. Theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ sau hợp nhất có quy mô dân số khoảng 4,2 triệu người. Tuy nhiên, số liệu dân cư thực tế thường trú năm 2025 đạt trên 3,2 triệu người. Thành phố có 103 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 31 phường và 72 xã, phân bố trên không gian rộng lớn từ khu vực đô thị trung tâm đến các vùng nông thôn, vùng ven biển và cửa sông. Mật độ dân cư tập trung cao tại khu vực nội thành Cần Thơ, trong khi các địa bàn ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp có mật độ dân số thấp hơn nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển, nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực của địa phương (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Cơ cấu dân cư của thành phố mang tính đa dạng về văn hóa và dân tộc. Ngoài cộng đồng người Kinh chiếm đa số, thành phố còn có khoảng 494.000 người dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer sinh sống tập trung tại các địa bàn thuộc Sóc Trăng trước đây. Đồng bào Khmer có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống và duy trì các sinh kế gắn với nông nghiệp, thủy sản và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại khu vực ven biển. Việc bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao trình độ dân trí và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer, tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của địa phương trong những năm tới (UBND thành phố Cần Thơ, 2025). Nguồn lao động của thành phố tương đối dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65,2%, trong đó tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ đạt khoảng 32,5% (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện thông qua việc mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh đào tạo lao động phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm như công nghiệp chế biến, logistics, du lịch và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao.
15
Hoạt động giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, các dự án đầu tư trên địa bàn đã tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 94.622 lao động thông qua hơn 698 dự án đầu tư trong nước và 78 dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Riêng tại khu vực Sóc Trăng trước đây, trong 6 tháng đầu năm 2025 đã giải quyết việc làm cho khoảng 14.500 lao động. Việc mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trung tâm logistics và các cơ sở chế biến nông sản, thủy sản đã tạo ra nhu cầu lao động lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ (Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng, 2025; Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được quan tâm đầu tư. Thành phố Cần Thơ giữ vai trò là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp tương đối hoàn chỉnh. Mạng lưới trường học các cấp được đầu tư nâng cấp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và đáp ứng nhu cầu học tập của người dân trên địa bàn. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động vùng ven biển và lao động thuộc hộ nghèo tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao khả năng tiếp cận việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân. Lĩnh vực y tế tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Thành phố hiện là trung tâm y tế chuyên sâu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và cơ sở y tế tuyến cơ sở được đầu tư tương đối đồng bộ. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em được triển khai thường xuyên. Hệ thống y tế cơ sở tại các vùng ven biển và nông thôn từng bước được củng cố nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong điều kiện biến đổi khí hậu, thiên tai và các nguy cơ dịch bệnh ngày càng phức tạp. Công tác an sinh xã hội và giảm nghèo tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực. Thành phố đã ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025 với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn thành phố xuống dưới 0,63% và tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số xuống dưới 1,58% (UBND thành phố Cần Thơ, 2025). Để thực hiện mục tiêu này, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, hỗ trợ tín dụng ưu đãi và phát triển sản xuất đã được triển khai rộng rãi. Quỹ “Vì người nghèo” của thành phố đã huy động được trên 2.400 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng và sửa chữa hơn 15.000 căn nhà cho các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở. Đồng thời, các mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn OCOP và liên kết chuỗi giá trị tiếp tục được nhân rộng, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn (UBND thành phố Cần Thơ, 2025).
16
Các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục phát huy vai trò trong công tác giảm nghèo và phát triển cộng đồng. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tiếp cận vốn vay ưu đãi, đào tạo nghề và ứng dụng công nghệ số trong sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến năm 2025, các chương trình hỗ trợ của Hội đã giúp khoảng 8.257 hộ phụ nữ thoát nghèo và cận nghèo, góp phần cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế cho phụ nữ tại các khu vực nông thôn và ven biển. Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tiếp tục được mở rộng phạm vi bao phủ. Thành phố bảo đảm 100% người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế theo quy định. Các chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc người có công với cách mạng, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp tục được thực hiện đầy đủ, góp phần bảo đảm ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch cộng đồng tiếp tục được duy trì và phát triển. Thành phố là nơi giao thoa của nhiều giá trị văn hóa đặc sắc giữa cộng đồng người Kinh, Khmer và Hoa. Các lễ hội truyền thống như lễ hội Oóc Om Bóc, đua ghe Ngo, các hoạt động văn hóa dân gian Nam Bộ và các loại hình nghệ thuật truyền thống tiếp tục được bảo tồn và phát huy. Đây không chỉ là giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa tại khu vực ven biển và vùng cửa sông. Song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thành phố tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính. Sau khi hợp nhất, hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng quản lý của ba địa phương được từng bước tích hợp, đồng bộ hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ người dân. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai, tài nguyên nước, môi trường, thủy sản và phòng chống thiên tai được tăng cường, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển đô thị thông minh và quản lý tổng hợp tài nguyên vùng ven biển. Nhìn chung, giai đoạn 2021 - 2025, thành phố Cần Thơ đạt nhiều thành tựu quan trọng về phát triển xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, mở rộng các khu nuôi trồng thủy sản và tác động của biến đổi khí hậu cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác quản lý xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vùng ven biển. Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của thành phố trong thời gian tới.
17
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực ven biển
Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ sau sáp nhập bao gồm 06 xã, phường: Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải. Đây là vùng không gian đặc thù nằm ở phía Đông Nam thành phố, tiếp giáp trực tiếp với Biển Đông, đồng thời là khu vực cửa ngõ kết nối giữa hệ thống sông Hậu với vùng biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long. Sự hình thành khu vực ven biển đã tạo ra bước chuyển quan trọng về không gian phát triển của thành phố Cần Thơ, từ một đô thị trung tâm nội vùng trở thành địa phương có đầy đủ các yếu tố phát triển kinh tế biển, logistics cảng biển và năng lượng tái tạo ven biển. Khu vực ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của thành phố, đồng thời là vùng chịu tác động nhạy cảm của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển. Đây cũng là khu vực tập trung nhiều hệ sinh thái đặc thù như bãi triều, rừng ngập mặn, vùng cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ quy mô lớn. Bảng 1.1. Tổng hợp sáu xã/phường ven biển thành phố Cần Thơ Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Bản đồ tra cứu các đơn vị hành chính Việt Nam. Truy cập trực tuyến tại: https://sapnhap.bando.com.vn/ (ngày 16/05/2026) Theo các số liệu tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ của 6 xã, phường ven biển, có thể tóm tắt tình hình kinh - tế xã hội khu vực ven biển thành phố Cần Thơ như sau:
| STT | Đơn vị | Diện tích 2 (km ) | Dân số (người) | Đặc điểm nổi bật |
| 1 | Cù Lao Dung | 150,13 | 44.937 | Cù lao giữa sông Hậu, phát triển nông nghiệp sinh thái, nuôi thủy sản và du lịch cộng đồng |
| 2 | Trần Đề | 93,92 | 52.771 | Trung tâm cảng biển, logistics, khai thác thủy sản và cửa ngõ ra biển |
| 3 | Vĩnh Châu | 98,26 | 68.437 | Trung tâm nuôi tôm nước lợ và sản xuất nông nghiệp ven biển |
| 4 | Vĩnh Phước | 103,15 | 51.897 | Khu vực nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp thích ứng mặn |
| 5 | Lai Hòa | 55,37 | 29.426 | Khu vực ven biển có đông đồng bào Khmer sinh sống, phát triển thủy sản và thương mại nhỏ |
| 6 | Vĩnh Hải | 83,75 | 27.820 | Vùng ven biển kết hợp nuôi thủy sản, khai thác biển và điện gió ven biển |
| Tổng | 584,58 | 275.288 | ||
18
a. Đặc điểm phát triển kinh tế: Kinh tế khu vực ven biển phát triển chủ yếu dựa trên nông nghiệp thích ứng mặn, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và các hoạt động thương mại – dịch vụ ven biển. Trong đó, thủy sản là ngành kinh tế chủ lực và có tốc độ phát triển nhanh nhất. Theo số liệu tổng hợp năm 2025, tổng sản lượng thủy sản tại các địa phương ven biển đạt quy mô lớn, trong đó xã Trần Đề đạt khoảng 81.514 tấn, xã Cù Lao Dung đạt 29.580 tấn, phường Vĩnh Phước đạt 29.415 tấn, phường Vĩnh Châu đạt 28.067 tấn, xã Lai Hòa đạt 16.880 tấn và xã Vĩnh Hải đạt khoảng 12.248 tấn. Các địa phương ven biển hiện đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất thủy sản của toàn thành phố, đặc biệt đối với nuôi trồng thủy sản nước lợ và khai thác hải sản ven bờ. Nuôi tôm nước lợ là ngành sản xuất đặc trưng của khu vực ven biển. Phường Vĩnh Phước có diện tích nuôi thủy sản khoảng 6.020 ha, trong đó riêng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 3.521 ha với sản lượng khoảng 23.706 tấn. Xã Lai Hòa có diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.468,6 ha với tổng sản lượng thủy sản đạt trên 16.880 tấn. Xã Vĩnh Hải có diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.559 ha. Các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và bán thâm canh tiếp tục phát triển mạnh tại Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải, góp phần nâng cao giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển. Bên cạnh thủy sản, sản xuất nông nghiệp ven biển cũng có sự phân hóa rõ rệt theo điều kiện sinh thái từng địa phương. Xã Cù Lao Dung phát triển mạnh cây mía với diện tích khoảng 3.150 ha trong tổng số khoảng 7.600 ha gieo trồng cây hàng năm; diện tích cây ăn trái đạt khoảng 2.376 ha. Địa phương hiện có 10 mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích khoảng 197 ha cho các sản phẩm như nhãn Idor, thanh nhãn và dừa. Tại phường Vĩnh Châu, hành tím tiếp tục là sản phẩm nông nghiệp đặc trưng với diện tích khoảng 3.504 ha và sản lượng khoảng 58.832 tấn; tổng diện tích sản xuất rau màu đạt khoảng 5.341 ha với sản lượng trên 125.514 tấn. Trong khi đó, phường Vĩnh Phước có diện tích hành tím khoảng 524 ha với sản lượng khoảng 8.810 tấn; xã Lai Hòa có diện tích hành tím khoảng 164 ha. Những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng này góp phần hình thành vùng chuyên canh nông nghiệp thích ứng mặn đặc trưng của khu vực ven biển thành phố. Hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá tập trung chủ yếu tại xã Trần Đề. Trong năm 2025, địa phương ghi nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng, trong đó có khoảng 19.618 lượt tàu khai thác xa bờ; tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 156.100 tấn, riêng thủy sản đạt khoảng 89.000 tấn. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển hệ thống logistics nghề cá và định hướng hình thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai (Ủy ban nhân dân xã Trần Đề, 2025).
19
Ngoài ra, chương trình OCOP tại khu vực ven biển đạt nhiều kết quả tích cực. Xã Cù Lao Dung hiện có 07 sản phẩm OCOP và 03 điểm giới thiệu sản phẩm; xã Trần Đề có 07 sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 sao; phường Vĩnh Châu có 24 sản phẩm OCOP được chứng nhận của 08 doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Các sản phẩm OCOP góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn và tăng cường liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh các ngành kinh tế truyền thống, khu vực ven biển còn có tiềm năng lớn về phát triển năng lượng tái tạo và logistics biển. Các địa phương như Vĩnh Châu và Vĩnh Hải có điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ven biển và điện gió ngoài khơi nhờ tốc độ gió ổn định và vùng bãi bồi rộng. Đồng thời, khu vực Trần Đề được xác định là trung tâm động lực phát triển kinh tế biển gắn với định hướng hình thành cảng biển nước sâu Trần Đề theo quy hoạch hệ thống cảng biển quốc gia. b. Đặc điểm dân cư, lao động và an sinh xã hội: Dân cư khu vực ven biển phân bố chủ yếu dọc theo các tuyến sông, cửa sông, đê biển và các trục giao thông chính. So với khu vực nội ô trung tâm, mật độ dân cư thấp hơn và mang đặc trưng dân cư nông thôn ven biển. Cơ cấu dân cư khá đa dạng, bao gồm các dân tộc Kinh, Khmer và Hoa; trong đó cộng đồng người Khmer chiếm tỷ lệ tương đối cao tại các địa phương như Vĩnh Châu, Lai Hòa và Vĩnh Hải, góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng ven biển Nam Bộ. Lao động tại khu vực ven biển chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, sản xuất nông nghiệp và lao động thời vụ. Công tác giải quyết việc làm đạt kết quả khá tích cực trong năm 2025. Xã Trần Đề giải quyết việc làm cho khoảng 1.250 lao động, đạt trên 171% kế hoạch; phường Vĩnh Châu giải quyết việc làm cho khoảng 1.146 lao động, đạt gần 140% kế hoạch. Xã Vĩnh Hải giải quyết việc làm cho khoảng 652 lao động; xã Cù Lao Dung giải quyết việc làm cho khoảng 386 lao động và có 20 trường hợp xuất khẩu lao động; xã Lai Hòa giải quyết việc làm cho khoảng 291 lao động và có 08 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Sinh kế của cư dân ven biển phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và biến động thị trường thủy sản. Hoạt động sản xuất mang tính mùa vụ khá rõ nét, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản. Một bộ phận lao động địa phương tiếp tục tham gia lao động ngoài tỉnh hoặc xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập và giảm áp lực việc làm tại chỗ. Hệ thống hạ tầng xã hội và điều kiện dân sinh từng bước được cải thiện. Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch tại một số địa phương đạt mức khá cao như xã Trần Đề đạt khoảng 99,9% dân số được cấp nước sạch tập trung; phường Vĩnh Phước đạt khoảng 96% khu vực đô thị. Tuy nhiên, tại một số khu vực ven biển và vùng dân cư phân tán, tỷ lệ tiếp cận nước sạch vẫn còn thấp, điển hình như xã Cù Lao Dung chỉ có khoảng 32% hộ dân được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung.
20
Công tác thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt từng bước được cải thiện nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương. Xã Trần Đề đạt tỷ lệ thu gom rác thải khu vực đô thị khoảng 95,5%, trong khi xã Cù Lao Dung hiện mới đạt khoảng 68% kế hoạch thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt. Điều này cho thấy hạ tầng môi trường khu vực ven biển vẫn còn nhiều hạn chế và cần tiếp tục được đầu tư đồng bộ trong thời gian tới. c. Hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề môi trường: Khu vực ven biển đang từng bước được đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi và hạ tầng phục vụ sản xuất. Xã Cù Lao Dung hiện có tổng chiều dài hệ thống giao thông khoảng 153,4 km, gồm các tuyến đường tỉnh, đường huyện và giao thông nông thôn; đồng thời có 28 cây cầu, 11 bến khách ngang sông và 06 bến thủy nội địa. Phường Vĩnh Châu và xã Lai Hòa đang triển khai nhiều dự án nâng cấp giao thông, giải phóng mặt bằng và hoàn thiện hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế ven biển. Hệ thống thủy lợi và công trình kiểm soát mặn từng bước được củng cố nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nhiều khu vực ven biển vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của triều cường, xâm nhập mặn và sạt lở bờ sông, bờ biển. Bên cạnh tiềm năng phát triển, khu vực ven biển cũng đang đối mặt với nhiều thách thức môi trường. Tình trạng xói lở bờ sông, bờ biển diễn biến ngày càng phức tạp; riêng xã Cù Lao Dung ghi nhận nhiều đoạn sạt lở nghiêm trọng với tổng chiều dài hơn 480 m, ảnh hưởng khoảng 55 hộ dân và hơn 115 ha đất sản xuất. Ngoài ra, hoạt động nuôi tôm thâm canh phát triển nhanh đang tạo áp lực lớn đối với môi trường nước ven biển. Một số địa phương như Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải vẫn còn tồn tại những hạn chế trong công tác quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là thu gom và xử lý nước thải ao nuôi. Đồng thời, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, triều cường và thời tiết cực đoan tiếp tục là những yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất, sinh kế và hệ sinh thái khu vực ven biển. Trong bối cảnh đó, việc phát triển kinh tế biển của thành phố cần gắn với quản lý tổng hợp vùng bờ, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, nâng cao chất lượng hạ tầng môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
21
CHƯƠNG 2. SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI
MÔI TRƯỜNG BIỂN
2.1. SỨC ÉP DÂN SỐ, VẤN ĐỀ DI CƯ, ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU – NƯỚC BIỂN DÂNG
2.1.1. Sức ép dân số và mật độ khu vực ven biển
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ có quy mô dân số trên 4,19 triệu người. Trong đó, dân số sinh sống tại khu vực ven biển và vùng đệm ven biển gồm các địa phương Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước và Lai Hòa khoảng 275.288 người, chiếm khoảng 6,6% dân số toàn thành phố. Dân cư phân bố chủ yếu tại các khu vực cửa sông, ven biển, dọc theo hệ thống sông, kênh rạch và các tuyến giao thông chính, gắn với các hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và thương mại. Mật độ dân số trung bình tại khu vực ven biển dao động khoảng 160 – 220 người/km², tuy nhiên phân bố không đồng đều giữa các địa phương. Tại các khu vực trung tâm của xã Trần Đề, phường Vĩnh Châu và các cụm dân cư ven các tuyến giao thông chính, mật độ dân số cục bộ có thể đạt khoảng 500 – 700 người/km². Sự tập trung dân cư tại các khu vực này làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, nước sạch và các dịch vụ hạ tầng môi trường như cấp nước, thoát nước, thu gom, vận chuyển và xử lý nước thải, chất thải rắn sinh hoạt. Trong điều kiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng môi trường tại một số khu vực ven biển chưa được đầu tư đồng bộ, áp lực đối với các công trình thu gom, xử lý chất thải và tiêu thoát nước có xu hướng gia tăng. Giai đoạn 2021 – 2025, tốc độ tăng dân số tự nhiên tại các địa phương ven biển có xu hướng chậm lại so với giai đoạn trước, tuy nhiên quy mô dân số cư trú vẫn duy trì ở mức cao. Đồng thời, sự phát triển của các hoạt động kinh tế biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, thương mại và hạ tầng giao thông tiếp tục làm gia tăng nhu cầu tập trung dân cư tại một số khu vực ven biển, đặc biệt là khu vực Trần Đề và Vĩnh Châu. Điều này làm gia tăng nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ công và các công trình bảo vệ môi trường. Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, mở rộng không gian đô thị và đầu tư hạ tầng giao thông, khu vực ven biển được dự báo sẽ tiếp tục thu hút dân cư và các hoạt động phát triển kinh tế. Quá trình này sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên nước, hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải, đồng thời làm tăng lượng nước thải sinh hoạt và chất thải rắn phát sinh tại khu vực ven biển. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo của thành phố trong giai đoạn tới. Các số liệu về lượng nước thải sinh hoạt và chất thải rắn phát sinh từ khu vực ven biển được trình bày chi tiết tại Mục 2.1.2.
22
2.1.2. Quá trnh tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển
Giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư hạ tầng giao thông và định hướng phát triển kinh tế biển, quá trình tập trung dân cư và đô thị hóa tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ tiếp tục diễn ra, tập trung chủ yếu tại các địa phương Vĩnh Châu, Trần Đề và Cù Lao Dung. Sự hình thành và mở rộng các khu dân cư, khu thương mại - dịch vụ, hạ tầng giao thông và các công trình phục vụ phát triển kinh tế biển đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ môi trường tại khu vực ven biển. Quá trình đô thị hóa làm gia tăng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và một phần đất tự nhiên sang đất ở, đất giao thông, đất thương mại - dịch vụ và các công trình hạ tầng kỹ thuật. Hoạt động san lấp mặt bằng, nâng nền và xây dựng các công trình hạ tầng diễn ra ngày càng nhiều tại các khu vực ven biển, làm gia tăng diện tích bề mặt xây dựng, nhu cầu vật liệu xây dựng và nhu cầu tiêu thoát nước đô thị. Cùng với sự mở rộng không gian đô thị, nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt, dịch vụ và các hoạt động kinh tế tại khu vực ven biển tiếp tục gia tăng, tạo áp lực đối với hệ thống cấp nước và các nguồn nước phục vụ sinh hoạt. Đồng thời, quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng nhu cầu đầu tư hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và bảo vệ môi trường. Theo ước tính, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại 06 xã, phường ven biển của thành phố khoảng 21.993,36 m³/ngày. Trong khi đó, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung tại nhiều khu vực ven biển vẫn chưa được đầu tư đồng bộ, làm gia tăng áp lực đối với công tác thu gom, xử lý nước thải và quản lý nguồn thải phát sinh từ các khu dân cư ven biển. Bên cạnh nước thải sinh hoạt, quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại 06 xã, phường ven biển ước tính khoảng 157,4 tấn/ngày. Khối lượng chất thải ngày càng tăng đặt ra yêu cầu mở rộng năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, đồng thời làm gia tăng nguy cơ phát sinh các điểm tập kết chất thải không đúng quy định và thất thoát chất thải từ khu dân cư ra hệ thống sông, kênh rạch và khu vực ven biển nếu không được quản lý hiệu quả. Ngoài các nguồn thải sinh hoạt, quá trình đô thị hóa còn làm gia tăng nhu cầu phát triển hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, viễn thông và các công trình công cộng. Hoạt động xây dựng, cải tạo và mở rộng các công trình hạ tầng làm gia tăng nhu cầu khai thác vật liệu xây dựng, vận chuyển vật liệu, phát sinh chất thải xây dựng và các nguồn phát thải trong quá trình thi công, tạo thêm sức ép đối với công tác quản lý môi trường tại khu vực ven biển.
23
Nhìn chung, quá trình tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, tài nguyên nước và các dịch vụ môi trường, đồng thời làm tăng lượng nước thải sinh hoạt, chất thải rắn sinh hoạt và chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với môi trường biển và hải đảo, đòi hỏi công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng môi trường và quản lý nguồn thải phải được thực hiện đồng bộ trong quá trình phát triển đô thị ven biển.
2.1.3. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các tác động liên quan
Trong giai đoạn 2021 – 2025, biến đổi khí hậu và nước biển dâng tiếp tục là một trong những nguồn sức ép tự nhiên quan trọng đối với môi trường biển, vùng cửa sông và khu vực ven biển của thành phố Cần Thơ. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét thông qua xu thế gia tăng nhiệt độ, biến động bất thường của lượng mưa, gia tăng tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan, triều cường, xâm nhập mặn và sạt lở bờ biển. Những yếu tố này đang làm thay đổi các điều kiện tự nhiên, thủy văn và địa mạo ven biển, tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các hệ sinh thái biển và ven biển. Nhiệt độ không khí tại khu vực có xu hướng gia tăng trong những năm gần
0 đây, đặc biệt vào mùa khô khi nhiệt độ cao nhất có thời điểm vượt 35 C. Cùng với đó, các đợt nắng nóng kéo dài xuất hiện thường xuyên hơn, làm thay đổi chế độ nhiệt của môi trường nước tại các vùng cửa sông và ven biển. Đây là một trong những yếu tố gây áp lực lên các quá trình sinh thái tự nhiên và làm gia tăng tính nhạy cảm của các hệ sinh thái thủy sinh trước những biến động môi trường. Dữ liệu quan trắc khí tượng giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy xu thế tăng nhiệt rõ rệt, đặc biệt đạt đỉnh cực đoan vào các năm 2024 và 2025 trên toàn khu vực. Biểu đồ 2.1. Xu thế biến động nhiệt độ không khí trung bnh năm
24
Bên cạnh xu thế gia tăng nhiệt độ, chế độ mưa trên địa bàn cũng có nhiều biến động bất thường. Nhiều trận mưa lớn với cường độ cao xuất hiện trong thời gian ngắn, xen kẽ với các giai đoạn khô hạn kéo dài, làm gia tăng tính bất ổn của chế độ dòng chảy và quá trình trao đổi nước giữa sông, cửa sông và vùng ven biển. Tính chất bất ổn của khí hậu khu vực được thể hiện rõ qua biên độ dao động tổng lượng mưa năm giữa các năm. Biểu đồ 2.2. Sự biến động bất thường của tổng lượng mưa năm Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan được thể hiện qua tần suất thiên tai xảy ra liên tục trong giai đoạn 2021 - 2025. Năm 2021 ghi nhận 185 vụ thiên tai; năm 2022 ghi nhận 34 vụ; năm 2023 xảy ra 27 vụ dông, lốc cùng nhiều sự cố sạt lở; năm 2024 tiếp tục xuất hiện các đợt lốc, sét, mưa lớn và sạt lở; đến năm 2025 ghi nhận 78 đợt mưa dông lốc, 06 đợt ngập lụt, triều cường và nhiều điểm sạt lở trên địa bàn. Diễn biến này cho thấy mức độ bất ổn của điều kiện khí hậu khu vực đang có xu hướng gia tăng rõ rệt (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025). Triều cường và nước biển dâng là những sức ép nổi bật đối với khu vực cửa sông và ven biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, nhiều đợt triều cường vượt mức báo động III và liên tục xác lập các mốc lịch sử mới. Ngày 12/10/2022, m ực nước đỉnh triều tại trạm Cần Thơ đạt 2,27 m; đến ngày 06/11/2025 tiếp tục tăng lên 2,35 m, vượt báo động III khoảng 35 cm và là mức cao nhất từng được ghi nhận tại khu vực. Xu thế gia tăng mực nước triều phản ánh ảnh hưởng ngày càng rõ nét của nước biển dâng kết hợp với các yếu tố khí tượng thủy văn cực đoan đối với vùng cửa sông và ven biển (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021–2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
25
Cùng với triều cường, tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng xuất hiện sớm hơn và kéo dài hơn trong những năm gần đây. Từ mùa khô 2023 – 2024, xâm nhập mặn xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 01 tháng. Độ mặn cao nhất trên sông Hậu ghi nhận đạt 24,2‰ tại Trần Đề và 20,6‰ tại Long Phú; phạm vi ảnh hưởng của mặn trên sông Hậu đạt 55 – 60 km và trên sông Mỹ Thanh đạt 65 – 70 km. Đến mùa khô 2024 – 2025, xâm nhập mặn tiếp tục xuất hiện từ cuối tháng 12/2024 và duy trì ở mức cao đến tháng 4/2025. Diễn biến này phản ánh áp lực ngày càng lớn của nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước mùa khô đối với khu vực cửa sông và ven biển (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021
– 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
Dưới tác động tổng hợp của nước biển dâng, triều cường, sóng biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan, tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển và đê biển tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực. Đặc biệt, khu vực ven biển Vĩnh Châu thường xuyên xuất hiện các điểm xâm thực mạnh trên tuyến đê biển, nhất là đoạn K39 – K45 và khu vực xã Vĩnh Hải. Diễn biến này cho thấy áp lực ngày càng gia tăng đối với sự ổn định của đường bờ, hệ thống đê biển và các hệ sinh thái ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng rõ nét. Nhìn chung, nhiệt độ gia tăng, biến động bất thường của lượng mưa, gia tăng tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan, triều cường đạt mức kỷ lục, xâm nhập mặn lấn sâu và tình trạng sạt lở bờ biển diễn biến phức tạp là những sức ép chủ yếu do biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra đối với môi trường biển, vùng cửa sông và ven biển thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 – 2025.
2.2. SỨC ÉP TỪ HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
2.2.1. Hoạt động nông nghiệp
Tại khu vực các xã, phường ven biển như Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải, hoạt động sản xuất nông nghiệp tiếp tục duy trì quy mô lớn với cơ cấu cây trồng đặc thù thích ứng điều kiện xâm nhập mặn và nước lợ. Các địa phương này hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn đối với lúa chất lượng cao, hành tím, rau màu, cây ăn trái và mô hình luân canh lúa – tôm. Trong đó, xã Cù Lao Dung có tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt khoảng 7.600 ha, với cây mía là cây trồng chủ lực chiếm khoảng 3.150 ha; diện tích cây ăn trái đạt 2.376 ha, bao gồm nhiều vùng sản xuất phục vụ xuất khẩu. Xã Trần Đề duy trì diện tích lúa gần 6.800 ha, chủ yếu là lúa thơm và lúa đặc sản. Phường Vĩnh Châu và phường Vĩnh Phước tiếp tục là vùng chuyên canh hành tím lớn của khu vực với tổng diện tích trên 4.000 ha. Trong khi đó, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải phát triển mạnh rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày và mô hình canh tác kết hợp phục vụ nuôi trồng thủy sản.
26
Sự mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tại các địa phương ven biển kéo theo nhu cầu lớn về sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và các chế phẩm hỗ trợ canh tác. Trong hoạt động trồng trọt, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV với khối lượng lớn làm phát sinh lượng hóa chất tồn dư đáng kể. Các chất này theo nước mưa hoặc nước tưới chảy tràn vào kênh rạch, sông ngòi, làm gia tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng như nitơ và photpho trong nước. Đặc biệt, khu vực ven biển có nền nông nghiệp đặc trưng với mô hình luân canh lúa – tôm và canh tác lúa hai vụ tại các vùng có hệ thống đê bao ngăn mặn. Đây là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là nguồn phát sinh đáng kể các chất dinh dưỡng và hóa chất nông nghiệp vào hệ thống thủy vực. Trong mô hình lúa – tôm, quá trình tháo rửa đồng ruộng sau vụ lúa và cấp thoát nước ao nuôi thường diễn ra trực tiếp thông qua mạng lưới kênh nội đồng, làm tăng khả năng lan truyền chất ô nhiễm sang các thủy vực tiếp nhận. Theo ước tính của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2018) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), mức sử dụng phân bón tại Đồng bằng sông Cửu Long trung bình khoảng 200 – 250 kg/ha/năm, trong khi hiệu quả hấp thu của cây trồng chỉ đạt khoảng 30 – 50%. Phần dinh dưỡng còn lại, tương đương khoảng 50 – 70% lượng phân bón sử dụng (khoảng 100 – 175 kg/ha/năm), không được cây trồng hấp thụ sẽ tồn lưu trong đất hoặc có khả năng thất thoát ra môi trường thông qua quá trình rửa trôi, thấm lọc hoặc dòng chảy mặt. Dựa trên diện tích gieo trồng năm 2025 tại các địa phương ven biển, ước tính lượng dinh dưỡng dư thừa tiềm năng phát sinh như sau: khu v ực Cù Lao Dung khoảng 760 – 1.330 tấn/năm; khu vực Trần Đề khoảng 680 – 1.190 tấn/năm; khu vực chuyên canh hành tím và rau màu tại Vĩnh Châu, Vĩnh Phước khoảng 934 – 1.635 tấn/năm. Như vậy, tổng lượng dinh dưỡng dư thừa tiềm năng phát sinh tại các khu vực nông nghiệp ven biển ước tính khoảng 2.374 – 4.155 tấn/năm. Đây là nguồn áp lực không điểm có khả năng góp phần làm gia tăng nguy cơ phú dưỡng nguồn nước và tác động đến môi trường khu vực cửa sông
– ven biển.
Bên cạnh phân bón hóa học, việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất lúa, hành tím và rau màu tại các địa phương ven biển cũng là nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Các vùng chuyên canh hành tím tại Vĩnh Châu và Vĩnh Phước thường có tần suất sử dụng thuốc BVTV cao do đặc điểm cây trồng dễ phát sinh sâu bệnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và đất cát ven biển. Trong khi đó, các vùng sản xuất lúa thâm canh tại Trần Đề và các khu vực luân canh lúa – tôm thường sử dụng đồng thời thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ và phân bón vô cơ nhằm duy trì năng suất. Các hoạt chất phổ biến như nhóm organophosphate và pyrethroid có độc tính cao đối với sinh vật thủy sinh và khả năng tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn.
27
Theo nghiên cứu của Cục Bảo vệ Thực vật (2021), tồn dư thuốc BVTV đã được phát hiện trong trầm tích và nước tại nhiều kênh rạch thuộc vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó một số điểm có nồng độ vượt ngưỡng an toàn sinh thái. Điều này đặt ra nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài thủy sinh nhạy cảm như cá, giáp xác và động vật đáy. Đáng chú ý, trong mô hình lúa – tôm, sự luân phiên giữa nước ngọt và nước mặn có thể làm thay đổi tính chất hóa học của các hợp chất tồn dư. Một số hoạt chất BVTV có thể bị biến đổi hoặc kéo dài thời gian tồn lưu trong môi trường nước lợ – mặn, từ đó làm tăng nguy cơ độc tính đối với tôm nuôi và các loài sinh vật khác. Ngoài ra, việc xả nước từ ao nuôi sau mỗi vụ sản xuất, chứa dư lượng thức ăn, chất thải hữu cơ, bùn đáy và hóa chất xử lý ao, cũng góp phần làm gia tăng tải lượng ô nhiễm ra môi trường xung quanh. Trong lĩnh vực chăn nuôi, hoạt động chăn nuôi tại khu vực ven biển tiếp tục phát triển ổn định với quy mô đàn vật nuôi tương đối lớn và phân bố rộng tại các địa phương. Xã Cù Lao Dung có đàn bò khoảng 1.860 con, đàn heo khoảng 9.030 con và đàn gia cầm khoảng 70.150 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 2.308 tấn. Xã Trần Đề có tổng đàn gia súc khoảng 6.897 con và đàn gia cầm khoảng 65.315 con. Xã Lai Hòa duy trì đàn gia súc khoảng 910 con và đàn gia cầm khoảng 20.123 con. Xã Vĩnh Hải có tổng đàn gia súc và gia cầm khoảng 16.380 con, trong đó gia cầm chiếm khoảng 15.000 con, còn lại gồm bò, heo và dê. Quy mô chăn nuôi tuy không lớn theo hướng công nghiệp tập trung nhưng phân bố rộng trong khu dân cư và xen kẽ với vùng sản xuất nông nghiệp – thủy sản. Tuy nhiên, nước thải và chất thải chăn nuôi chứa hàm lượng cao chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh, chất dinh dưỡng như amoni, nitrat và phosphat. Nếu không được thu gom, xử lý đúng quy định, các nguồn thải này có thể xả trực tiếp ra kênh rạch hoặc thấm xuống tầng nước ngầm, gây ô nhiễm môi trường nước và phát sinh mùi hôi cục bộ. Tại các địa phương ven biển, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chưa đầu tư đầy đủ hệ thống xử lý chất thải, dẫn đến nguy cơ phát sinh ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, trong năm 2025, dịch tả lợn Châu Phi (ASF) xuất hiện tại một số địa phương ven biển như Cù Lao Dung và Trần Đề. Tại xã Cù Lao Dung, dịch bệnh xuất hiện từ tháng 10/2025, lan ra 5 ấp và buộc tiêu hủy 337 con heo với tổng khối lượng khoảng 25.441 kg. Tại xã Trần Đề, ghi nhận 10 trường hợp ASF tại 5 ấp, tiêu hủy khoảng 146 con với tổng khối lượng khoảng 11.366 kg. Quá trình tiêu hủy vật nuôi bệnh và xử lý chất thải phát sinh nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt có thể làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước mặt xung quanh.
28
Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi tại các địa phương ven biển đang tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường nước mặt và hệ sinh thái ven biển. Áp lực này không chỉ mang tính cục bộ mà còn có tính lan truyền theo không gian thông qua mạng lưới kênh rạch dày đặc, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm liên vùng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, các tác động này có xu hướng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn, đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp, bao gồm giảm thiểu sử dụng hóa chất nông nghiệp, thúc đẩy canh tác bền vững, kiểm soát nước thải chăn nuôi và tăng cường giám sát chất lượng môi trường nước tại các khu vực sản xuất tập trung.
2.2.2. Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ, hiện là một trong những ngành kinh tế chủ lực của khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh về quy mô diện tích và sản lượng, hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng đang tạo ra nhiều sức ép đối với môi trường vùng ven biển, cửa sông và các hệ sinh thái tự nhiên. Khu vực ven biển thành phố hiện hình thành các vùng nuôi thủy sản tập trung quy mô lớn tại các địa phương như phường Vĩnh Châu, phường Vĩnh Phước, xã Trần Đề, xã Cù Lao Dung, xã Lai Hòa và xã Vĩnh H ải, với đối tượng nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng và tôm sú. Trong giai đoạn 2021 - 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ luôn duy trì ở mức cao, dao động từ khoảng 51.000 - 54.660 ha. Trong đó, tôm thẻ chân trắng chiếm ưu thế với khoảng 75 - 76% tổng diện tích nuôi, tương đương từ 38.300 - 41.460 ha, phần còn lại là tôm sú. Đáng chú ý, mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh chiếm tỷ trọng rất lớn, đạt khoảng 93,7% năm 2021 và 94,5% năm 2022, phản ánh xu hướng gia tăng cường độ sản xuất trong khu vực.
Bảng 2.1. Diện tích nuôi tôm tại khu vực ven biển
| Năm | Tổng diện tích nuôi tôm (ha) | Tôm thẻ chân trắng (ha) | Tôm sú (ha) |
| 2021 | 53.000 | 40.000 | 13.000 |
| 2022 | 54.660 | 41.460 | 13.200 |
| 2023 | 53.511,3 | 40.071,1 | 13.440,2 |
| 2024 | 51.069 | ||
| 2025 | 51.000 | 38.300 | 12.700 |
Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022)
29
Hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh tại khu vực ven biển, đã và đang tạo ra nhiều sức ép đối với môi trường biển và ven biển. Các sức ép chính được phân tích như sau: a. Gia tăng tải lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng ra môi trường biển: Hoạt động nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh là một trong những nguồn gây sức ép đáng kể đến môi trường nước ven biển. Trong quá trình nuôi, các ao nuôi phát sinh lượng nước thải lớn từ hoạt động thay nước, xi-phông đáy ao và thu hoạch, chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, thức ăn dư thừa, phân thải cùng các hợp chất chứa nitơ và phốt pho. Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015), Lưu lượng thải trung bình trên mỗi hecta sau mỗi vụ nuôi tôm khoảng 9.000 - 12.000 m³/ha. Với tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của thành phố khoảng 51.000 ha (năm 2025), hoạt động nuôi tôm nước lợ phát sinh lượng nước thải rất lớn sau mỗi vụ nuôi, khoảng 459
3 đến 612 triệu m , tạo áp lực đáng kể đối với hệ thống kênh rạch, vùng cửa sông và vùng nước ven biển nếu không được thu gom, xử lý và quản lý phù hợp. Bên cạnh lượng nước thải phát sinh lớn, hoạt động nuôi tôm còn tạo ra tải lượng chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng đáng kể. Theo Ngô Thụy Diễm Trang và cộng sự (2022), với sản lượng tôm thẻ chân trắng năm 2024 khoảng 188.200 tấn, tải lượng ô nhiễm phát sinh từ nước thải nuôi tôm ước tính khoảng 27.289 – 33.688 tấn COD/năm, 10.840 – 14.591 tấn tổng nitơ (TKN)/năm và 2.353 – 3.068 tấn tổng phốt pho (TP)/năm. Đối với tôm sú, theo hệ số phát thải của Pham và cộng sự (2010), với sản lượng khoảng 23.800 tấn/năm, tải lượng ô nhiễm phát sinh ước tính khoảng 18.312 tấn COD/năm, 6.164 tấn BOD/năm, 27.846 tấn TSS/năm, 714 tấn tổng nitơ (TN)/năm và 88,1 tấn tổng phốt pho (TP)/năm. Đây là nguồn phát sinh lượng lớn chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng và các chất dinh dưỡng có khả năng gây áp lực đáng kể lên môi trường tiếp nhận nếu nước thải không được thu gom, xử lý đạt yêu cầu trước khi xả ra môi trường. Nguồn gốc của tải lượng ô nhiễm này chủ yếu xuất phát từ thức ăn dư thừa, chất bài tiết của tôm, xác sinh vật và quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong ao nuôi. Theo Boyd và Tucker (2012), chỉ khoảng 20 – 30% lượng nitơ và 15 – 25% lượng phốt pho trong thức ăn được chuyển hóa thành sinh khối tôm, phần còn lại tồn tại trong nước hoặc tích tụ trong bùn đáy dưới dạng các hợp chất hữu cơ và vô cơ. Các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng cho thấy nước thải từ ao nuôi tôm thâm canh thường có nồng độ COD dao động từ 80 – 250 mg/L, tổng nitơ (TN) từ 4 – 15 mg/L và tổng phốt pho (TP) từ 0,5 – 3,0 mg/L, cao hơn đáng kể so với nền chất lượng nước tự nhiên tại các vùng ven biển (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2021; Trần Ngọc Hải và cộng sự, 2023).
30
b. Suy thoái chất lượng trầm tích và môi trường đáy: Trong quá trình nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, lượng bùn đáy phát sinh liên tục từ thức ăn dư thừa, chất thải của tôm, xác sinh vật chết và các chất rắn lơ lửng lắng tụ. Theo Tổng cục Thủy sản (2017) và Đỗ Thị Cẩm Vân, Vũ Đắc Duy (2019), lượng bùn thải khô phát sinh từ ao nuôi tôm thâm canh dao động khoảng 1,5 – 2,0 tấn/ha/vụ. Với tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của thành phố khoảng 51.000 ha, khối lượng bùn thải khô phát sinh ước tính khoảng 76.500 – 102.000 tấn/vụ. Đây là nguồn chất thải có hàm lượng chất hữu cơ, nitơ và phốt pho cao; nếu không được thu gom, lưu chứa và xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường sẽ làm gia tăng áp lực ô nhiễm đối với hệ thống kênh cấp, thoát nước, vùng cửa sông và vùng nước ven biển. Khối lượng bùn thải lớn tích tụ trong ao nuôi cũng là nguyên nhân làm suy giảm chất lượng trầm tích và môi trường đáy. Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ cho thấy hàm lượng chất hữu cơ, tổng nitơ và tổng phốt pho trong bùn đáy ao nuôi thâm canh cao hơn đáng kể so với nền đất tự nhiên. Sự tích tụ kéo dài của lớp bùn hữu cơ làm giảm khả năng khuếch tán oxy vào nền đáy, thúc đẩy quá trình phân hủy yếm khí và phát sinh các khí độc như amoniac (NH₃), hydro sunfua (H₂S) và metan (CH₄). Khi bùn đáy được xả bỏ trực tiếp hoặc theo nước xi-phông ra hệ thống kênh rạch mà không qua xử lý, các chất ô nhiễm tích tụ trong bùn có thể tiếp tục phát tán ra vùng cửa sông và vùng nước ven biển, làm gia tăng tải lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng, góp phần suy giảm chất lượng môi trường nước và trầm tích đáy. Bên cạnh đó, tại các vùng nuôi sử dụng nước mặn thường xuyên, hiện tượng natri hóa đất (sodification) có thể làm suy giảm cấu trúc đất, giảm khả năng thấm nước và gia tăng nguy cơ thoái hóa đất tại khu vực ven biển nếu không có các biện pháp cải tạo và quản lý phù hợp. c. Ô nhiễm hóa chất, kháng sinh và nguy cơ kháng kháng sinh: Áp lực dịch bệnh trong nuôi tôm thâm canh dẫn đến việc sử dụng phổ biến các loại hóa chất khử trùng và thuốc kháng sinh. Kết quả khảo sát tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy khoảng 75% cơ sở nuôi tôm có sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi hoặc khi xảy ra dịch bệnh. Theo Rico et al. (2013), từ 70 – 80% lượng kháng sinh đưa vào ao nuôi không được hấp thụ hoàn toàn mà phát tán ra môi trường thông qua phân thải và nước ao. Các hoạt chất thường được ghi nhận gồm Oxytetracycline, Florfenicol, Sulfamethoxazole, Trimethoprim và một số nhóm Fluoroquinolone. Dư lượng kháng sinh tồn lưu trong nước và trầm tích có thể làm thay đổi cấu trúc quần xã vi sinh vật tự nhiên, thúc đẩy sự hình thành các chủng vi khuẩn kháng thuốc, trong đó có các loài Vibrio spp. gây bệnh nguy hiểm trên tôm. Đây là một trong những vấn đề môi trường mới nổi được nhiều tổ chức quốc tế cảnh báo đối với ngành nuôi trồng thủy sản thâm canh.
31
d. Phát sinh rác thải nhựa và vi nhựa: Mô hình nuôi tôm thâm canh hiện nay sử dụng khối lượng lớn vật liệu nhựa như bạt lót HDPE, ống PVC, phao nổi, lưới che và bao bì thức ăn. Dưới tác động của bức xạ mặt trời, nhiệt độ cao và quá trình mài mòn cơ học, các vật liệu này dần phân rã thành các hạt vi nhựa thứ cấp có kích thước nhỏ hơn 5 mm. Theo nghiên cứu của GIZ và Viện Nghiên cứu Hải sản (2023), riêng tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) phát sinh khoảng 15.790 tấn chất thải nhựa mỗi năm từ hoạt động nuôi tôm. Phần lớn lượng chất thải này chưa được thu gom và tái chế triệt để, một phần bị đốt ngoài trời hoặc thất thoát trực tiếp ra môi trường. Các hạt vi nhựa có khả năng hấp phụ kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật và kháng sinh, từ đó trở thành tác nhân vận chuyển các chất ô nhiễm trong môi trường biển. Sự tích tụ vi nhựa trong chuỗi thức ăn biển hiện được xem là một trong những nguy cơ môi trường đáng quan tâm tại vùng ven biển thành phố Cần Thơ. e. Nguy cơ phát sinh dịch bệnh và tác động đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên: Sự gia tăng diện tích nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ làm gia tăng áp lực kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường thủy vực. Mật độ nuôi cao, lượng thức ăn công nghiệp lớn, tích tụ chất hữu cơ cùng việc sử dụng hóa chất, chế phẩm xử lý môi trường làm tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu gây nhiệt độ tăng, xâm nhập mặn và biến động chất lượng nguồn nước. Tại các vùng nuôi tôm tập trung, hoạt động cấp thoát nước thường xuyên giữa các ao nuôi làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Khi dịch bệnh bùng phát trên diện rộng, lượng nước thải, bùn thải và xác thủy sản phát sinh lớn có thể gây áp lực lên hệ thống kênh rạch, vùng cửa sông và khu vực ven biển tiếp nhận nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, việc gia tăng tải lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, hóa chất và các chất xử lý môi trường phát sinh từ hoạt động nuôi thâm canh có thể tạo thêm sức ép đối với các hệ sinh thái thủy sinh tự nhiên tại khu vực cửa sông và ven biển. f. Mâu thuẫn giữa mở rộng nuôi tôm và bảo tồn rừng ngập mặn: Tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, nhu cầu mở rộng diện tích nuôi tôm nước lợ, đặc biệt là nuôi thâm canh và siêu thâm canh, tạo ra áp lực nhất định đối với công tác bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn ven biển. Trong điều kiện giá trị kinh tế từ nuôi tôm cao hơn đáng kể so với nhiều loại hình sản xuất khác, người dân và doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên chuyển đổi hoặc sử dụng quỹ đất ven biển cho mục đích nuôi trồng thủy sản, làm gia tăng nguy cơ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn và vùng đệm sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ.
32
Sự suy giảm hoặc phân mảnh rừng ngập mặn không chỉ làm mất nơi cư trú, sinh sản và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh, chim nước và sinh vật ven biển mà còn làm suy giảm khả năng phòng hộ bờ biển, chống xói lở, hấp thụ carbon và lọc tự nhiên các chất ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Trong khi đó, việc gia tăng diện tích nuôi thâm canh thường kéo theo nhu cầu cấp thoát nước lớn, sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp, hóa chất và chế phẩm xử lý môi trường, làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái rừng ngập mặn lân cận. Mặt khác, các mô hình nuôi sinh thái kết hợp bảo tồn rừng ngập mặn như tôm – rừng được đánh giá là hướng phát triển bền vững hơn, góp phần duy trì độ che phủ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, do năng suất và lợi nhuận ngắn hạn thường thấp hơn so với mô hình nuôi thâm canh nên việc nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, mâu thuẫn giữa mục tiêu gia tăng sản lượng và hiệu quả kinh tế từ nuôi tôm với yêu cầu bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn ven biển là một trong những thách thức quan trọng đối với quản lý tài nguyên và môi trường vùng ven biển thành phố Cần Thơ. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ này có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái ven biển trong dài hạn.
2.2.3. Khai thác thủy sản ven biển
Khai thác thủy sản là một trong những hoạt động kinh tế biển truyền thống và đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển thành phố Cần Thơ. Trong giai đoạn 2021 – 2025, sản lượng khai thác biển duy trì ở mức cao, dao động khoảng 56.000 – 63.000 tấn/năm (chi tiết tại Bảng 4.6), chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng khai thác thủy sản của địa phương. Việc duy trì hoạt động khai thác với quy mô lớn trong thời gian dài đã tạo áp lực đáng kể lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên và các hệ sinh thái biển, đặc biệt tại khu vực ven bờ và vùng cửa sông. Một trong những sức ép lớn nhất đối với môi trường biển là cường lực khai thác tập trung tại các vùng biển ven bờ. Mặc dù tổng số tàu cá có xu hướng giảm trong những năm gần đây, hoạt động khai thác vẫn duy trì sản lượng tương đối ổn định, cho thấy áp lực khai thác trên mỗi đơn vị tàu có xu hướng gia tăng. Điều này làm gia tăng nguy cơ khai thác vượt khả năng phục hồi tự nhiên của các quần đàn thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao và các loài sinh sống tại vùng biển ven bờ.
33
Bảng 2.2. Cơ cấu đội tàu cá và công tác kiểm soát hành trình (VMS) giai
đoạn 2021 – 2025
| Năm | Tổng số tàu cá (chiếc) | Tàu cá ≥15 m (chiếc) | Tàu cá <15 m (chiếc) | Tỷ lệ lắp đặt VMS |
| 2021 | 998 | 338 | 660 | 98% |
| 2022 | 998 | 337 | 661 | 100% |
| 2023 | 1.000 | 342 | 658 | 100% |
| 2024 | 804 | 342 | 462 | 100% |
| 2025 | 796 | 347 | 449 | 100% |
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022); Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025) Mặc dù tổng số tàu cá đã giảm từ khoảng 1.000 chiếc năm 2023 xuống còn 796 chiếc năm 2025, nhóm tàu cá có chiều dài dưới 15 m vẫn chiếm khoảng 56,4% tổng số tàu cá. Đây là nhóm tàu hoạt động chủ yếu tại vùng ven bờ và vùng lộng, nơi tập trung nhiều bãi đẻ, bãi giống và khu vực sinh trưởng của các loài thủy sinh. Việc nhóm tàu này vẫn chiếm tỷ trọng lớn cho thấy cường lực khai thác tiếp tục tập trung tại các vùng biển ven bờ, tạo sức ép đáng kể đối với công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản. Ngoài sức ép do cường lực khai thác và việc sử dụng một số ngư cụ có tính chọn lọc thấp, hoạt động khai thác thủy sản còn gây sức ép đối với môi trường biển thông qua việc phát sinh nước thải, chất thải rắn, dầu mỡ và rác thải nhựa. Nếu không được thu gom, quản lý phù hợp, các nguồn thải này có thể làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường biển và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái ven bờ. Trong các loại chất thải phát sinh từ hoạt động khai thác thủy sản, rác thải nhựa là một trong những nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường biển. Rác thải nhựa phát sinh chủ yếu từ bao bì thực phẩm, chai lọ nhựa, túi nilon, hộp xốp, dây cước, phao nổi, ngư lưới cụ hư hỏng và các vật tư phục vụ khai thác. Theo kết quả khảo sát tại một số địa phương ven biển Việt Nam, lượng rác thải nhựa phát sinh từ tàu cá dao động từ khoảng 200 đến trên 2.000 kg/tàu/năm, phụ thuộc vào nghề khai thác, quy mô tàu, vùng hoạt động và thời gian bám biển. Trong cơ cấu rác thải nhựa phát sinh, ngư lưới cụ và vật tư khai thác chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 70%), tiếp theo là vật liệu phục vụ bảo quản và phân loại sản phẩm (khoảng 20%), trong khi rác thải sinh hoạt chỉ chiếm khoảng 3 – 7% tổng lượng phát sinh. Tuy nhiên, rác thải sinh hoạt trên tàu lại là nguồn có nguy cơ thất thoát ra biển cao nhất, chiếm khoảng 60% tổng lượng rác nhựa rò rỉ, chủ yếu do tập quán xả trực tiếp các chai nhựa, túi nilon, hộp xốp và bao bì sau sử dụng trong quá trình khai thác (WWF Việt Nam, 2020).
34
Căn cứ số lượng tàu cá hoạt động trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 – 2025 và áp dụng hệ số phát sinh trung bình 1.100 kg rác thải nhựa/tàu/năm, khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác thủy sản được ước tính khoảng 875,6 – 1.100 tấn/năm, trung bình khoảng 1.011,1 tấn/năm. Nếu áp dụng tỷ lệ thất thoát trung bình 5,6% theo kết quả khảo sát trên phạm vi cả nước (WWF Việt Nam, 2020), lượng rác thải nhựa có nguy cơ phát tán trực tiếp ra môi trường biển từ hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn ước khoảng 49 – 61,6 tấn/năm. Đây là nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường biển và các hệ sinh thái ven bờ nếu không được quản lý, thu gom và đưa vào bờ xử lý theo quy định. Bảng 2.3. Ước tính khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác
thủy sản giai đoạn 2021 – 2025
| Năm | Số tàu cá (chiếc) | Hệ số phát sinh (kg/tàu/năm) | Khối lượng phát sinh (tấn/năm) |
| 2021 | 998 | 1.100 | 1.097,8 |
| 2022 | 998 | 1.100 | 1.097,8 |
| 2023 | 1.000 | 1.100 | 1.100,0 |
| 2024 | 804 | 1.100 | 884,4 |
| 2025 | 796 | 1.100 | 875,6 |
Ghi chú: Khối lượng rác thải nhựa được ước tính theo phương pháp hệ số phát sinh. Hệ số 1.100 kg/tàu/năm được xác định là giá trị trung bình của khoảng phát sinh rác thải nhựa (200 – 2.000 kg/tàu/năm) tổng hợp từ kết quả khảo sát các đội tàu khai thác thủy sản tại Quảng Ninh, Phú Yên và Kiên Giang; giá trị chỉ mang tính đại diện phục vụ đánh giá hiện trạng do chưa có số liệu điều tra riêng cho thành phố Cần Thơ. Trong những năm qua, công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) đã được triển khai quyết liệt. Tỷ lệ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) đối với tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên đạt từ 98 – 100%, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác trên biển. Tuy nhiên, tình trạng mất kết nối thiết bị giám sát hành trình vẫn còn xảy ra. Năm 2021 ghi nhận khoảng 70 tàu mất kết nối VMS; năm 2023 có 107 tàu mất kết nối khi vào bờ ngừng hoạt động và 32 tàu mất kết nối ngoài khơi; năm 2024 ghi nhận 120 tàu mất kết nối khi vào bờ và 14 tàu mất kết nối ngoài khơi. Thực trạng này làm giảm hiệu quả giám sát hoạt động khai thác và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi khai thác không tuân thủ quy định.
35
Đối với các hành vi vi phạm khai thác IUU, tình hình đã có chuyển biến tích cực trong những năm gần đây. Năm 2021 ghi nhận 01 tàu cá của địa phương vi phạm vùng biển nước ngoài và bị lực lượng chức năng Malaysia bắt giữ; tuy nhiên từ năm 2022 đến năm 2025 không ghi nhận trường hợp tàu cá nào vi phạm vùng biển nước ngoài. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các biện pháp tuyên truyền, kiểm tra, kiểm soát và quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên biển. Nhìn chung, hoạt động khai thác thủy sản ven biển vẫn đang tạo sức ép đáng kể đối với nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái biển thông qua cường lực khai thác cao, sự tập trung của đội tàu tại các vùng ven bờ và nguy cơ khai thác vượt khả năng phục hồi của nguồn lợi tự nhiên. Mặc dù công tác quản lý nghề cá và chống khai thác IUU đã đạt được nhiều kết quả tích cực, việc tiếp tục kiểm soát cường lực khai thác, bảo vệ các khu vực sinh sản và sinh trưởng của nguồn lợi thủy sản, đồng thời tăng cường các biện pháp phục hồi nguồn lợi và bảo tồn hệ sinh thái biển vẫn là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm phát triển nghề cá theo hướng bền vững trong thời gian tới.
2.3. SỨC ÉP HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG, GIAO THÔNG
VẬN TẢI, KINH TẾ HÀNG HẢI, PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG, TÁC ĐỘNG GIAO KHU VỰC BIỂN, KHAI THÁC CÁT BIỂN VÀ NGUỒN THẢI TỪ SÔNG HẬU RA CỬA BIỂN
2.3.1. Sức ép hoạt động công nghiệp ven biển
Hoạt động công nghiệp tại khu vực ven biển đang bước vào giai đoạn tăng tốc, gắn với định hướng hình thành các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN) phục vụ kinh tế biển, logistics và chế biến nông – thủy sản. Theo quy hoạch, khu vực này có khoảng 10 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 5.000 ha và 18 cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 1.000 ha, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu và khu vực cửa Mỹ Thanh. Trong đó, các khu công nghiệp trọng điểm gồm Khu công nghiệp Trần Đề (khoảng 160 ha), Khu công nghiệp Mỹ Thanh (khoảng 217 ha) và Khu công nghiệp Đại Ngãi. Khu công nghiệp Trần Đề đã từng bước đi vào hoạt động từ năm 2025, gắn với hệ thống cảng cá Trần Đề và định hướng phát triển Cảng biển Trần Đề trong tương lai; Khu công nghiệp Mỹ Thanh được định hướng phát triển theo mô hình công nghiệp sạch, công nghiệp khí – điện và dịch vụ logistics biển. Bên cạnh đó, các cụm công nghiệp ven biển được quy hoạch nhằm phục vụ chế biến nông sản, thủy sản, kho lạnh và dịch vụ hậu cần nghề cá; tuy nhiên, hạ tầng bảo vệ môi trường tại một số khu vực vẫn đang trong quá trình đầu tư, hoàn thiện.
36
Song song với sự phát triển các khu, cụm công nghiệp, ngành chế biến thủy sản tiếp tục là lĩnh vực công nghiệp chủ lực tại khu vực ven biển thành phố. Theo kết quả rà soát hiện trạng, khu vực ven biển hiện có khoảng 08 cơ sở, doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực chế biến, sơ chế thủy sản, tập trung chủ yếu tại các địa bàn Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa, Vĩnh Hải và Cù Lao Dung. Trong đó có các doanh nghiệp chế biến quy mô lớn như Nhà máy chế biến tôm xuất khẩu Fimex VN, Nhà máy Chế biến Thủy sản Cao cấp Trần Đề, Công ty TNHH Chế biến Thủy sản Vạn Xuân, Công ty TNHH Thủy sản Kim Anh (Cơ sở 2), cùng các cơ sở chế biến và hợp tác xã như Công ty TNHH Thủy sản Tấn Phát, Cơ sở Chế biến hải sản khô Ba Tri, Hợp tác xã Artemia và Thủy sản Vĩnh Châu, Hợp tác xã Thủy sản Sinh thái Cù Lao Dung và Trại nuôi tôm, sơ chế Vĩnh Tân (Vina Cleanfood). Các cơ sở này hình thành chuỗi liên kết từ thu mua nguyên liệu, sơ chế, chế biến đông lạnh, bảo quản, kho lạnh đến xuất khẩu, với tổng công suất thiết kế đạt hàng chục nghìn tấn sản phẩm mỗi năm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển của thành phố. Sự phát triển của ngành chế biến thủy sản kéo theo nhu cầu sử dụng nước, năng lượng và hạ tầng logistics ngày càng lớn, đồng thời phát sinh lượng đáng kể nước thải sản xuất, phụ phẩm chế biến, bùn thải, chất thải rắn và khí thải công nghiệp. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với môi trường nước mặt, vùng cửa sông và vùng biển ven bờ nếu không được thu gom, xử lý và kiểm soát hiệu quả. Áp lực môi trường từ hoạt động công nghiệp thể hiện rõ nhất ở nước thải sản xuất, đặc biệt đối với ngành chế biến thủy sản – lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp ven biển. Nước thải phát sinh chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng (TSS), dầu mỡ, nitơ, phốt pho và vi sinh vật. Nếu không được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải, các nguồn thải này sẽ làm gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đưa vào hệ thống sông, kênh rạch, vùng cửa sông và vùng biển ven bờ, tạo sức ép đối với công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước. Bên cạnh đó, hoạt động chế biến còn phát sinh lượng lớn chất thải rắn công nghiệp và phụ phẩm thủy sản như đầu, xương, nội tạng, vỏ tôm, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải, bao bì và vật liệu đóng gói. Nếu không được phân loại, thu gom, tái sử dụng hoặc xử lý đúng quy định, các loại chất thải này có thể gây phát sinh mùi hôi, ô nhiễm thứ cấp đối với môi trường đất và nước, đồng thời làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh và côn trùng tại khu vực xung quanh. Ngoài ra, hoạt động công nghiệp còn phát sinh khí thải từ các lò hơi, máy phát điện, phương tiện vận chuyển và các dây chuyền sản xuất, với các thành phần chủ yếu gồm bụi, SO₂, NOₓ, CO và hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC). Các chất ô nhiễm này có khả năng phát tán trong khí quyển, lắng đọng xuống bề mặt đất và nguồn nước thông qua quá trình khuếch tán hoặc nước mưa, góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường không khí và môi trường nước khu vực ven biển.
37
Bên cạnh các nguồn thải, quá trình mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cảng biển và hạ tầng logistics cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất ven biển, tiềm ẩn nguy cơ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, bãi triều và đất nuôi trồng thủy sản nếu không được quy hoạch hợp lý. Đồng thời, việc gia tăng lưu lượng vận tải hàng hóa và hoạt động sản xuất cũng tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống hạ tầng thu gom, xử lý nước thải và chất thải tập trung. Nhìn chung, phát triển công nghiệp ven biển là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao giá trị chuỗi sản xuất thủy sản của thành phố. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển đó là sự gia tăng đáng kể các nguồn gây áp lực đối với môi trường nước, không khí, đất và hệ sinh thái ven biển. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý chất thải, tăng cường giám sát việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, đồng thời thúc đẩy áp dụng sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn nhằm bảo đảm phát triển công nghiệp ven biển theo hướng bền vững.
2.3.2. Sức ép của hoạt động xây dựng, san lấp và lấn biển
Quá trình phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và cảng biển tại khu vực ven biển đang kéo theo nhu cầu san lấp mặt bằng quy mô lớn, đặc biệt tại các vùng đất ngập nước ven biển – nơi có địa hình thấp và thuận lợi cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Sau khi điều chỉnh không gian phát triển theo quy hoạch, áp lực san lấp tại các khu vực cửa sông – ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu và khu vực lân cận tăng mạnh, gắn liền với sự hình thành đồng thời của ba nhóm dự án lớn gồm: điện gió, khu công nghiệp và hạ tầng cảng biển – logistics. Trong giai đoạn 2021 – 2025, cấu trúc các dự án ven biển cho thấy mức độ tác động không gian ngày càng rõ rệt. Nhóm dự án đã và đang triển khai gồm các khu công nghiệp Trần Đề và Mỹ Thanh (đã trình bày tại mục 2.3.1) đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng và kêu gọi đầu tư; cùng hệ thống các dự án điện gió ven biển với tổng công suất khoảng 1.435 MW (chi tiết tại mục 2.3.5). Song song, tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng đoạn qua tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) dài khoảng 58,4 km đang thi công với nhu cầu san lấp khoảng 8,1 triệu m³ cát, cùng các công trình cầu lớn như cầu Đại Ngãi đang triển khai. Đây là nhóm dự án tạo ra áp lực trực tiếp lớn nhất đối với hoạt động khai thác và san lấp vật liệu. Ở nhóm dự án chuẩn bị đầu tư, đáng chú ý là Khu kinh tế ven biển Trần Đề với quy mô khoảng 40.000 ha bao trùm không gian Trần Đề – Vĩnh Châu – Long Phú, cùng các khu công nghiệp mở rộng và khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ Trần Đề quy mô khoảng 850 ha. Đây là các dự án sẽ tạo ra nhu cầu san lấp và chuyển đổi đất quy mô rất lớn trong giai đoạn sau 2025, đặc biệt khi gắn với hành lang logistics của cảng Trần Đề.
38
Nhóm dự án theo quy hoạch dài hạn có tác động mang tính cấu trúc không gian rõ nét nhất là cảng nước sâu Trần Đề, với tổng diện tích khoảng 4.960 ha (trong đó 960 ha ngoài khơi và 4.000 ha khu hậu cần phía bờ), tổng vốn dự kiến trên 61.500 tỷ đồng, kèm theo hệ thống cầu vượt biển khoảng 18 km và đê chắn sóng hơn 8 km. Đây là dự án có tính chất lấn biển quy mô lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện quy hoạch chi tiết và chuẩn bị đầu tư, chưa triển khai san lấp thực tế nhưng sẽ là nguồn phát sinh khối lượng san lấp rất lớn trong tương lai. Một trong những tác động đáng kể của các hoạt động trên là suy giảm hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Đây là các hệ sinh thái có giá trị sinh thái cao, đóng vai trò là nơi cư trú, sinh sản và ươm giống của nhiều loài thủy sinh. Việc san lấp trực tiếp làm mất sinh cảnh tự nhiên, làm suy giảm đa dạng sinh học và gián đoạn hành lang sinh thái sông – cửa sông – biển. Đặc biệt, các khu vực bãi triều và rừng ngập mặn bị thu hẹp sẽ làm giảm chức năng “bộ lọc sinh học” tự nhiên, từ đó suy giảm khả năng tự làm sạch môi trường ven biển. Bên cạnh đó, hoạt động san lấp và xây dựng quy mô lớn còn làm thay đổi chế độ thủy động lực và hình thái bờ biển. Việc can thiệp vào địa hình tự nhiên có thể làm thay đổi hướng và tốc độ dòng chảy tại cửa sông, gián đoạn quá trình vận chuyển bùn cát và phá vỡ cân bằng bồi tụ – xói lở. Thực tế tại nhiều khu vực ven biển cho thấy xu hướng xói lở gia tăng, đặc biệt tại các đoạn đê biển xung yếu, trong bối cảnh suy giảm rừng phòng hộ và gia tăng các công trình nhân tạo ven bờ. Quá trình thi công san lấp cũng làm gia tăng độ đục và ô nhiễm môi trường nước. Việc sử dụng khối lượng lớn cát, đất và vật liệu san lấp có thể làm tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), giảm khả năng xuyên sáng của nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và hoạt động nuôi trồng thủy sản. Nếu nguồn vật liệu không được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp (kim loại nặng, chất hữu cơ) là đáng lưu ý, đặc biệt trong các khu vực cửa sông – ven biển có hệ sinh thái nhạy cảm. Đáng chú ý, các hoạt động san lấp đất ngập nước diễn ra đồng thời với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa và nuôi trồng thủy sản, tạo ra áp lực tích lũy lên môi trường ven biển. Sự cộng hưởng này làm gia tăng tải lượng ô nhiễm tại vùng cửa sông, suy giảm khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu, đồng thời làm gia tăng rủi ro ngập lụt và xâm nhập mặn. Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu tác động mạnh của nước biển dâng, việc suy giảm các vùng đệm tự nhiên như đất ngập nước sẽ làm tăng đáng kể mức độ tổn thương sinh thái – xã hội.
39
Về khung pháp lý, các quy định hiện hành như Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 đã quy định tương đối đầy đủ về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và quản lý tổng hợp vùng bờ. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong giám sát hoạt động san lấp phân tán, kiểm soát nguồn vật liệu và điều phối quản lý liên vùng, liên ngành đối với các dự án có quy mô không gian lớn. Tổng thể, trong bối cảnh phát triển nhanh các dự án ven biển giai đoạn 2021
– 2025 và định hướng mở rộng mạnh sau năm 2025, hoạt động san lấp và lấn biển tại khu vực ven biển cần được kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua quy hoạch không gian tích hợp, tăng cường giám sát môi trường, và bảo tồn các hệ sinh thái đất ngập nước còn lại, nhằm bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế và tính bền vững môi trường lâu dài.
2.3.3. Sức ép của hoạt động giao thông vận tải và hoạt động cảng
Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông đường thủy nội địa, hàng hải và hoạt động cảng, đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và kinh tế biển của thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô vận tải và lưu lượng tàu thuyền, các hoạt động này cũng làm gia tăng áp lực về phát sinh chất thải và nguy cơ ô nhiễm đối với khu vực cửa sông và ven biển.
Bảng 2.4. Số phương tiện đăng ký giao thông đường thủy
| Hạng mục | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Tháng 5/2025 |
| Cấp đăng ký phương tiện thủy nội địa | 341 | 495 | 441 | 413 | 106 |
(Nguồn: Sở Xây dựng, 2025) Theo số liệu thống kê, số phương tiện thủy nội địa được cấp đăng ký có sự biến động qua các năm, từ 341 phương tiện năm 2021 tăng lên 495 phương tiện năm 2022, sau đó giảm còn 441 phương tiện năm 2023 và 413 phương tiện năm
2024. Đến tháng 5 năm 2025 đã có thêm 106 phương tiện được cấp đăng ký. Cùng với hoạt động vận tải thường xuyên trên các tuyến sông và vùng cửa sông, các phương tiện thủy phát sinh nước thải sinh hoạt, nước la canh, dầu mỡ, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và khí thải từ động cơ, làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm phát sinh từ hoạt động giao thông đường thủy.
Bên cạnh giao thông đường thủy nội địa, hoạt động cảng biển và hậu cần nghề cá tại khu vực ven biển cũng là nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường. Cảng cá Trần Đề là cảng cá loại I và là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Giai đoạn 2021 – 2025, hoạt động của cảng duy trì ở quy mô lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2022, cảng tiếp nhận 9.512 lượt tàu cá
40
với sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt 35.067 tấn. Đến năm 2023, tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 105.195 tấn. Năm 2025, địa phương ghi nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng, trong đó có khoảng 19.618 lượt tàu khai thác xa bờ; tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 156.100 tấn, riêng thủy sản đạt khoảng 89.000 tấn. Quy mô hoạt động này phản ánh cường độ khai thác, vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa và dịch vụ hậu cần nghề cá ngày càng lớn tại khu vực cửa sông và ven biển.
Với quy mô tiếp nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng trong năm 2025, trong đó phần lớn là tàu khai thác xa bờ, cảng cá Trần Đề tạo ra áp lực lớn đối với công tác quản lý chất thải. Theo kết quả ước tính tại mục 2.2.3, đội tàu khai thác thủy sản trên địa bàn phát sinh khoảng 875,6 – 1.100 tấn rác thải nhựa mỗi năm. Với tần suất cập cảng lớn, lượng rác thải này chủ yếu tập trung tại khu vực cảng cá và các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, làm gia tăng yêu cầu về năng lực thu gom, phân loại và xử lý nhằm hạn chế nguy cơ phát tán ra môi trường. Bên cạnh rác thải nhựa, hoạt động của tàu thuyền và hệ thống cảng còn phát sinh nhiều nguồn gây sức ép khác đối với môi trường biển và hải đảo, bao gồm nước thải sinh hoạt từ tàu thuyền, nước la canh, dầu mỡ, chất thải nguy hại, khí thải từ động cơ và các chất thải phát sinh trong quá trình bốc dỡ thủy sản, bảo quản, cung ứng nhiên liệu, cung ứng nước đá, sửa chữa tàu thuyền và thu mua hải sản. Các hoạt động này diễn ra thường xuyên với cường độ lớn tại khu vực cảng, làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm và nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường nếu không được quản lý chặt chẽ. Nhìn chung, cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông đường thủy, hoạt động cảng và dịch vụ hậu cần nghề cá, khối lượng tàu thuyền, hàng hóa và các hoạt động khai thác, vận chuyển, bốc dỡ có xu hướng gia tăng, kéo theo sự gia tăng tải lượng nước thải, chất thải rắn, khí thải, chất thải nguy hại và nguy cơ phát sinh các sự cố môi trường. Đây là một trong những nhóm nguồn gây sức ép quan trọng cần được kiểm soát trong công tác quản lý môi trường biển và hải đảo của thành phố.
2.3.4. Tác động từ việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển Việc triển khai Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã hình thành một khung pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác không gian biển. Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực ven biển đang phát triển nhanh, quá trình triển khai trên thực tế phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là chồng lấn không gian sử dụng biển và gia tăng áp lực môi trường tích lũy.
41
Tại khu vực cửa sông Hậu và vùng ven biển, không gian biển hiện đang được khai thác đồng thời cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau. Trong đó, điện gió ngoài khơi và ven bờ là lĩnh vực chiếm quy mô lớn nhất, với khoảng 19 dự án được cấp chủ trương đầu tư; thông tin chi tiết về tiến độ và công suất từng nhóm dự án được trình bày tại mục 2.3.5. Song song đó, khu vực biển còn được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, phát triển cảng biển Trần Đề, giao thông hàng hải và khai thác cát biển với khối lượng lớn tại các mỏ B1.1, B1.2, B1.4 và B1.5 (chi tiết tại
mục 2.3.6), tạo nên sự chồng lấn không gian ngày càng rõ nét.
Sự đồng thời tồn tại của các loại hình khai thác này làm gia tăng tác động tích lũy và tương tác đa chiều trong không gian biển. Ví dụ, ô nhiễm từ thượng nguồn kết hợp với gia tăng độ đục do khai thác cát và hoạt động xây dựng hạ tầng cảng biển, cùng với thay đổi dòng chảy do các công trình điện gió ngoài khơi, có thể làm suy giảm đáng kể khả năng tự làm sạch của môi trường biển. Về phương diện quản lý, mặc dù các dự án đều phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo quy định pháp luật, nhưng phần lớn các đánh giá hiện nay vẫn mang tính đơn dự án, chưa phản ánh đầy đủ tác động tích lũy liên ngành và liên vùng trong cùng một không gian biển. Điều này dẫn đến khoảng trống trong đánh giá tổng thể sức chịu tải môi trường của khu vực ven biển. Ngoài ra, việc giao khu vực biển có tính chất liên vùng – đặc biệt tại khu vực cửa sông Hậu và vùng giáp ranh giữa các địa phương – đòi hỏi cơ chế phối hợp quản lý thống nhất. Tuy nhiên, hệ thống quản lý hiện nay vẫn chủ yếu vận hành theo địa giới hành chính, dẫn đến khó khăn trong kiểm soát dòng thải, biến động môi trường và các tác động lan truyền xuyên ranh giới. Như vậy, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý về giao khu vực biển, cần thiết phải tăng cường cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM) và quy hoạch không gian biển (MSP), đồng thời chú trọng đánh giá tác động tích lũy và thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng. Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo hài hòa giữa khai thác hiệu quả tài nguyên biển và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững khu vực ven biển.
2.3.5. Phát triển năng lượng vùng ven biển
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng gia tăng và yêu cầu chuyển dịch sang mô hình phát triển ít phát thải, khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đang trở thành không gian phát triển năng lượng trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên và hạ tầng, khu vực này hội tụ cả hai nhóm nguồn năng lượng chính gồm năng lượng tái tạo (điện gió ven bờ, ngoài khơi) và năng lượng truyền thống (nhiệt điện). Sự phát triển song song này tạo động lực tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng áp lực lên môi trường biển, đòi hỏi cách tiếp cận quản lý tổng hợp và kiểm soát tác động tích lũy.
42
a. Điện gió ven bờ và ngoài khơi: Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ được đánh giá là một trong những vùng có tiềm năng điện gió cao nhất cả nước. Theo Quy hoạch Điện VIII (Quyết định số 500/QĐ-TTg năm 2023), tốc độ gió trung bình tại khu vực ven biển Cần Thơ đạt khoảng 6,0 – 7,5 m/s ở độ cao 80 – 100 m, tương ứng tiềm năng kỹ thuật ước tính khoảng 2.000 – 3.500 MW. Điều kiện tự nhiên khu vực tương đối thuận lợi cho phát triển cả điện gió ven bờ lẫn ngoài khơi. Đối với điện gió ven bờ, nền địa chất phù hợp cho xây dựng móng cọc và móng jacket cố định; khoảng cách từ bờ đến vùng tiềm năng chỉ từ 10 – 30 km giúp tối ưu chi phí truyền tải; hệ thống bãi bồi và vùng triều rộng hỗ trợ công tác thi công và lắp đặt. Đối với điện gió ngoài khơi xa bờ, tiềm năng gió lớn hơn nhưng đòi hỏi công nghệ móng nổi hoặc móng trọng lực phức tạp hơn, chi phí đầu tư và yêu cầu quản lý môi trường cũng cao hơn tương ứng. Hạ tầng ven biển và cảng Trần Đề đóng vai trò quan trọng trong logistics phục vụ cả hai loại hình phát triển này. Trong giai đoạn 2021 - 2025, trên địa bàn có tổng cộng 19 dự án điện gió đã được cấp quyết định chủ trương đầu tư với tổng công suất khoảng 1.395 MW, trong đó 7 dự án đã vận hành thương mại (~340 MW), 2 dự án hoàn thành đang làm thủ tục COD (~60 MW), 2 dự án đang thi công (~52,4 MW) và 8 dự án chưa triển khai. Các dự án tập trung chủ yếu tại khu vực Trần Đề và Vĩnh Châu, từng bước hình thành cụm năng lượng tái tạo ven biển có quy mô lớn tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: Thành Ủy Cần Thơ, 2026). Bên cạnh những lợi ích về phát triển năng lượng tái tạo, hoạt động xây dựng và vận hành các dự án điện gió ven bờ và ngoài khơi cũng tạo ra một số nguồn gây sức ép đối với môi trường biển. Các nguồn sức ép chủ yếu bao gồm hoạt động thi công móng trụ, lắp đặt cáp ngầm, nạo vét và vận chuyển vật liệu; hoạt động vận hành, bảo dưỡng thiết bị; phát sinh tiếng ồn, chất thải, nước thải và chất thải nguy hại trong quá trình thi công, vận hành; nguy cơ rò rỉ dầu, hóa chất từ thiết bị; đồng thời làm gia tăng nhu cầu sử dụng không gian biển và khả năng chồng lấn với các hoạt động khai thác thủy sản, giao thông hàng hải và các mục đích sử dụng biển khác. Trong bối cảnh các dự án năng lượng tái tạo ven biển được định hướng phát triển trong thời gian tới, các hoạt động này sẽ làm gia tăng nhu cầu quản lý không gian biển, kiểm soát nguồn thải, chất thải và các rủi ro môi trường phát sinh trong suốt vòng đời của dự án. b. Nhiệt điện và các nguồn năng lượng liên quan: Bên cạnh năng lượng tái tạo, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của sông Hậu còn tập trung các dự án nhiệt điện quy mô lớn, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng của khu vực. Điển hình là Nhà máy Nhiệt điện Long Phú có công suất thiết kế khoảng 1.200 MW, sử dụng than nhập khẩu làm nhiên liệu.
43
Hoạt động của các nhà máy nhiệt điện là một trong những nguồn gây sức ép đối với môi trường biển và ven biển thông qua việc phát sinh nước làm mát, nước thải sản xuất, khí thải, tro xỉ và chất thải nguy hại trong quá trình vận hành. Trong đó, nước làm mát sau sử dụng có nhiệt độ cao hơn nguồn tiếp nhận; nước thải phát sinh từ các công đoạn xử lý nước, vệ sinh thiết bị và hệ thống phụ trợ; khí thải từ quá trình đốt than chứa các chất ô nhiễm như SO₂, NOₓ và bụi; tro xỉ phát sinh với khối lượng lớn, cùng các loại chất thải nguy hại như dầu mỡ thải, hóa chất và bùn thải từ hệ thống xử lý nước. Ngoài các nguồn thải trong quá trình vận hành, hoạt động nhập khẩu, lưu giữ và vận chuyển than, vận chuyển tro xỉ và nguyên vật liệu phục vụ nhà máy cũng làm gia tăng lưu lượng phương tiện, phát sinh bụi, tiếng ồn và nguy cơ phát tán chất ô nhiễm trong khu vực cảng và tuyến vận tải. Trong bối cảnh khu vực ven biển tập trung nhiều hoạt động phát triển như công nghiệp, cảng biển, giao thông hàng hải và năng lượng tái tạo, hoạt động của các nhà máy nhiệt điện tiếp tục làm gia tăng tải lượng nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại phát sinh, tạo thêm sức ép đối với công tác quản lý và kiểm soát các nguồn thải tại khu vực ven biển.
2.3.6. Khai thác cát biển
Trong giai đoạn 2021 – 2025, nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ các dự án giao thông trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gia tăng mạnh, đặc biệt là dự án đường cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông. Trong bối cảnh nguồn cát sông ngày càng hạn chế, khu vực biển Cần Thơ được nghiên cứu và đưa vào khai thác cát biển phục vụ san lấp. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), khu B1 ngoài khơi cửa Định An được đánh giá có trữ lượng tài nguyên cát biển lớn và đã được triển khai khai thác thử nghiệm từ năm 2024. Đây là mỏ cát biển đầu tiên tại Việt Nam được khai thác phục vụ các công trình giao thông. Các báo cáo chuyên ngành giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy hoạt động cấp phép và xác nhận khai thác cát biển tại khu vực ven biển Cần Thơ có xu hướng gia tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu san lấp cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Lũy kế đến năm 2025, cơ quan quản lý đã cấp 03 Bản xác nhận khai thác cho các nhà thầu thi công dự án giao thông trọng điểm và 01 giấy phép khai thác cát biển quy mô lớn. Trong đó:
- 02 mỏ cát biển thuộc Tiểu khu B1.1 và B1.2 có tổng trữ lượng được xác nhận khoảng 3.647.689 m³ nhằm cung ứng vật liệu cho dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông. Tính đến ngày 22/10/2025, sản lượng khai thác thực tế đạt khoảng 1.083.366 m³, tương đương khoảng 29,78% trữ lượng được xác nhận.
44
- 01 mỏ cát biển thuộc Tiểu khu B1.4 có trữ lượng khoảng 2.000.000 m³ được xác nhận phục vụ Dự án thành phần 4 thuộc tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ
– Sóc Trăng giai đoạn 1, hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị khai thác.
- Ngoài ra, mỏ cát biển B1.5 đã được cấp giấy phép khai thác với trữ lượng rất lớn, khoảng 17.203.202 m³, cho thấy quy mô khai thác cát biển tại khu vực ven biển đang có xu hướng mở rộng đáng kể trong thời gian tới. Bảng 2.5. Một số khu vực khai thác và nghiên cứu cát biển tại Cần Thơ
| Khu vực | Quy mô/Thông tin chính | Tình trạng |
| Tiểu khu B1.1 – B1.2 ngoài khơi cửa Định An | Tổng trữ lượng xác nhận 3.647.689 m³; đã khai thác 1.083.366 m³ tính đến 22/10/2025 | Đang khai thác |
| Tiểu khu B1.4 | Trữ lượng khoảng 2.000.000 m³ phục vụ cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng | Chuẩn bị khai thác |
| Mỏ cát biển B1.5 | Trữ lượng được cấp phép khoảng 17.203.202 m³ | Đã cấp phép |
| Khu B2 – B4 vùng biển Sóc Trăng | Đang nghiên cứu, đánh giá tài nguyên | Chưa khai thác thương mại |
(Nguồn: Sở NN&MT Cần Thơ, 2026; Thành Ủy Cần Thơ, 2026) Hoạt động khai thác cát biển bao gồm các công đoạn nạo hút, bơm, vận chuyển và tập kết vật liệu bằng tàu chuyên dụng. Quá trình này làm gia tăng lưu lượng phương tiện hoạt động trên biển, nhu cầu sử dụng nhiên liệu, phát sinh nước thải, chất thải từ tàu và các rủi ro trong quá trình khai thác, vận chuyển. Việc mở rộng quy mô khai thác cát biển trong giai đoạn 2021 – 2025 làm gia tăng cường độ khai thác tài nguyên khoáng sản biển và nhu cầu sử dụng không gian biển phục vụ hoạt động khai thác, vận chuyển vật liệu. Đồng thời, hoạt động khai thác cát biển làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, kiểm soát sản lượng khai thác, giám sát phạm vi khai thác và quản lý các nguồn phát sinh trong quá trình khai thác, vận chuyển cát biển tại khu vực ven biển.
2.3.7. Nguồn thải từ hệ thống sông Hậu và các thủy vực ven biển:
Hệ thống sông Hậu và các thủy vực liên thông là tuyến tiếp nhận, vận chuyển và thoát nước chính của thành phố Cần Thơ ra biển. Các nguồn thải phát sinh trong lưu vực được dẫn truyền theo hệ thống sông, kênh rạch và công trình thủy lợi, sau đó đổ ra vùng cửa sông và biển ven bờ thông qua các cửa Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh. Do đó, môi trường biển ven bờ không chỉ chịu sức ép từ các hoạt động kinh tế diễn ra tại khu vực ven biển mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các nguồn thải phát sinh trong toàn bộ lưu vực sông Hậu.
45
Hệ thống tiêu thoát nước ra biển bao gồm các cửa sông tự nhiên như Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, cùng mạng lưới kênh rạch, công trình thủy lợi và các tuyến tiêu ven biển, đặc biệt tại khu vực Vĩnh Châu với các cống Lai Hòa (cống số 2), cống số 4, cống số 5 và cống Xẻo Cốc. Các tuyến kênh trục như Trà Niên, 5 Căn, Sườn, kênh cặp đê sông Mỹ Thanh, cùng các kênh KN3, Tà Nu, Tà Men, Hai Lạc, Xẻo Nạn, Ông Chát và Lung Giá có chức năng thu gom, dẫn nước từ nội đồng ra các cửa sông và vùng ven biển. Hệ thống thủy văn này đồng thời là tuyến vận chuyển các nguồn thải từ đất liền ra môi trường biển. Nguồn thải điểm trong lưu vực chủ yếu phát sinh từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, khu đô thị, khu dân cư tập trung, cơ sở y tế, thương mại, dịch vụ, cảng biển, cảng cá, bến thủy nội địa và khu neo đậu tàu thuyền. Các hoạt động này phát sinh nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại và các loại chất ô nhiễm đặc trưng theo từng lĩnh vực, bao gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng (TSS), chất dinh dưỡng (nitơ, photpho), dầu mỡ, vi sinh vật và một số hóa chất đặc thù. Nếu không được quản lý, thu gom và xử lý phù hợp, các nguồn thải này sẽ làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm đưa vào hệ thống sông Hậu và các thủy vực liên thông. Bên cạnh nguồn thải điểm, nguồn thải không điểm cũng là một trong những nguồn gây sức ép lớn đối với môi trường nước trong lưu vực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp phát sinh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chất dinh dưỡng theo dòng chảy mặt vào hệ thống sông, kênh rạch. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát sinh chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn từ thức ăn dư thừa, chất thải của thủy sản và quá trình cải tạo ao nuôi. Ngoài ra, nước mưa chảy tràn từ khu dân cư, khu đô thị và các tuyến giao thông còn mang theo chất rắn lơ lửng, dầu mỡ, rác thải và các chất ô nhiễm khác vào nguồn tiếp nhận. Ngoài các nguồn thải phát sinh trong phạm vi thành phố, sông Hậu còn tiếp nhận tải lượng ô nhiễm từ toàn bộ lưu vực thượng nguồn. Các chất ô nhiễm được vận chuyển theo dòng chảy từ các địa phương thượng lưu và khu vực ngoài lãnh thổ trước khi theo sông Hậu ra biển. Đồng thời, sự thay đổi chế độ dòng chảy, lưu lượng nước và lượng phù sa trong lưu vực cũng làm thay đổi khả năng vận chuyển, pha loãng và phân tán các nguồn thải trước khi đổ ra vùng cửa sông và ven biển. Các nguồn thải từ lưu vực sông Hậu chủ yếu bao gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng (TSS), chất dinh dưỡng (nitơ, photpho), dầu mỡ, vi sinh vật, rác thải nhựa và các thành phần ô nhiễm đặc trưng từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt và giao thông thủy. Các chất ô nhiễm này được vận chuyển liên tục theo hệ thống sông, kênh rạch ra vùng cửa sông và biển ven bờ, tạo nên tải lượng ô nhiễm tổng hợp đối với môi trường biển.
46
Trong giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa và mở rộng các hoạt động sản xuất trong toàn lưu vực, quy mô các nguồn thải vào hệ thống sông Hậu tiếp tục gia tăng. Điều này làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý nguồn thải, kiểm soát tải lượng ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước tại khu vực cửa sông và ven biển. Diễn biến chất lượng môi trường nước biển ven bờ dưới ảnh hưởng của các nguồn thải từ hệ thống sông Hậu được trình bày và đánh giá tại Chương 3, Mục 3.2.
2.4. SỨC ÉP HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ, KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI
2.4.1. Đặc điểm phát triển du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển
Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đang phát triển đa dạng các hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và kinh tế biển. Các hoạt động nổi bật gồm du lịch sinh thái ven biển, dịch vụ lưu trú và ăn uống, vận tải thủy, logistics cảng biển, thương mại và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, khai thác thủy sản. Không gian phát triển tập trung chủ yếu tại khu vực Cù Lao Dung, Vĩnh Châu và cửa sông Trần Đề. Trong đó, Cù Lao Dung và Vĩnh Châu có lợi thế về hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi bồi và cảnh quan ven biển, thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng; khu vực Trần Đề được định hướng trở thành trung tâm logistics và cửa ngõ giao thương quan trọng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thông qua hệ thống cảng biển và dịch vụ hậu cần. Cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, quy mô các hoạt động du lịch, thương mại và dịch vụ ven biển có xu hướng tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Sự phát triển này tạo động lực tăng trưởng kinh tế và việc làm cho địa phương, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, phát sinh chất thải và tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường vùng cửa sông, ven biển. Bảng 2.6. Tính chất hoạt động của các loại hình dịch vụ ven biển
| Loại hnh dịch vụ | Địa bàn trọng điểm | Tính chất hoạt động |
| Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng | Cù Lao Dung, Vĩnh Châu | Hoạt động theo mùa, tăng mạnh vào các dịp lễ, tết và mùa du lịch |
| Dịch vụ lưu trú, ăn uống | Các đô thị và điểm du lịch ven biển | Tập trung đông khách tại các khu vực du lịch và trung tâm dân cư |
| Logistics, cảng biển | Trần Đề | Hoạt động thường xuyên, gắn với vận tải hàng hóa và dịch vụ hậu cần |
| Thương mại, vận tải thủy | Khu vực cửa sông và ven biển | Phục vụ giao thương hàng hóa trong tỉnh và liên vùng |
47
2.4.2. Sức ép từ hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển
Cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, các hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ có xu hướng mở rộng cả về quy mô và loại hình. Mặc dù hiện nay quy mô các hoạt động này chưa lớn so với công nghiệp hoặc nuôi trồng thủy sản, sự gia tăng số lượng cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu vui chơi, điểm tham quan, cơ sở kinh doanh dịch vụ và các hoạt động thương mại ven biển đang làm gia tăng các nguồn gây sức ép đối với môi trường thông qua việc phát sinh chất thải, gia tăng nhu cầu sử dụng đất và mở rộng hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Hoạt động của các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu du lịch, cơ sở kinh doanh ăn uống và các loại hình dịch vụ ven biển phát sinh nước thải sinh hoạt và nước thải dịch vụ với thành phần chủ yếu gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, chất dinh dưỡng, dầu mỡ và các chất tẩy rửa. Khối lượng nước thải có xu hướng tăng vào các dịp lễ, tết và mùa cao điểm du lịch, làm gia tăng áp lực đối với hệ thống thu gom, thoát nước và xử lý nước thải tại các khu vực tập trung hoạt động dịch vụ ven biển. Đồng thời, sự phát triển của hoạt động du lịch cũng kéo theo lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn, bao gồm thức ăn thừa, bao bì, chai nhựa, túi ni lông, ly, hộp và các sản phẩm nhựa dùng một lần. Trong điều kiện năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải chưa đáp ứng kịp tốc độ phát sinh, nguy cơ thất thoát chất thải từ các khu du lịch, khu dịch vụ và khu vực công cộng vào hệ thống sông, kênh rạch, vùng cửa sông và ven biển có xu hướng gia tăng, làm tăng tải lượng chất thải đưa ra môi trường biển. Bên cạnh các nguồn thải phát sinh, quá trình phát triển du lịch, dịch vụ và thương mại còn làm gia tăng nhu cầu sử dụng không gian ven biển để xây dựng cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu vui chơi, điểm tham quan, công trình thương mại và các hạng mục hạ tầng phục vụ du lịch. Nhiều khu vực ven biển và cửa sông có xu hướng được khai thác với cường độ ngày càng cao nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và mở rộng các loại hình dịch vụ. Quá trình này làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, vật liệu xây dựng và các nguồn lực phục vụ phát triển hạ tầng, đồng thời tạo áp lực đối với công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất và tổ chức không gian phát triển tại khu vực ven biển. Nhìn chung, mặc dù quy mô hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển hiện nay chưa phải là nguồn gây sức ép lớn nhất đối với môi trường biển của thành phố, xu hướng mở rộng các hoạt động này trong thời gian tới sẽ tiếp tục làm gia tăng lượng nước thải, chất thải rắn, nhu cầu sử dụng không gian ven biển và hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế. Đây là những nguồn sức ép cần được xem xét trong quá trình quản lý tài nguyên, môi trường và quy hoạch phát triển bền vững vùng ven biển.
48
Trên cơ sở các phân tích về sức ép phát triển kinh tế - xã hội đối với môi trường biển tại các mục 2.1 đến 2.4, các nhóm sức ép chính được tổng hợp và đánh giá mức độ rủi ro như trong bảng sau:
Bảng 2.7. Ma trận tổng hợp rủi ro các sức ép môi trường
| Nhóm sức ép | Mức độ tác động | Khả năng xảy ra | Phạm vi ảnh hưởng | Khả năng kiểm soát | Mức độ rủi ro |
| Công nghiệp ven biển, cảng biển, năng lượng, khai thác cát biển, nguồn thải sông Hậu | Rất cao | Cao | Rộng | Trung bình – thấp | Rất cao |
| Nuôi trồng và khai thác thủy sản ven biển | Cao | Cao | Trung bình – rộng | Trung bình | Cao |
| Đô thị hóa, dân số, di cư ven biển | Trung bình – cao | Cao | Rộng | Trung bình | Cao |
| Nông nghiệp ven biển | Trung bình | Trung bình – cao | Trung bình | Trung bình | Trung bình |
| Du lịch, dịch vụ, thương mại ven biển | Trung bình | Trung bình | Cục bộ | Khá cao | Trung bình |
CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
3.1. NƯỚC MẶT LỤC ĐỊA
3.1.1. Tài nguyên nước mặt lục địa thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ sở hữu hệ thống tài nguyên nước mặt phong phú với mạng lưới sông, kênh, rạch phân bố rộng khắp trên toàn địa bàn. Hệ thống này được hình thành từ các nhánh hạ lưu của sông Mê Kông kết hợp với mạng lưới kênh đào nhân tạo phát triển trong hơn một thế kỷ qua, tạo nên một trong những vùng có mật độ sông ngòi, kênh rạch cao nhất cả nước. Nguồn nước mặt giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, phát triển kinh tế - xã hội và duy trì các hệ sinh thái đất ngập nước, cửa sông, ven biển. Hệ thống sông chính của thành phố gồm sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Mỹ Thanh, sông Cái Lớn cùng nhiều sông nhánh và phụ lưu khác. Trong đó, sông Hậu là trục thủy văn quan trọng nhất, chảy xuyên suốt địa bàn thành phố từ Bắc xuống Nam, cung cấp nguồn nước ngọt chủ yếu cho khu vực nội đồng và vùng ven biển. Bên cạnh đó, sông Mỹ Thanh và các cửa sông Trần Đề, Định An có vai trò quan trọng trong trao đổi nước giữa đất liền và biển Đông, đồng thời là các tuyến xâm nhập mặn chính trong mùa khô. Ở phía Tây, hệ thống sông Cái Lớn giữ vai trò tiêu thoát nước và dẫn truyền ảnh hưởng thủy triều biển Tây vào nội đồng. Ngoài hệ thống sông tự nhiên, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch dày đặc với hàng nghìn tuyến kênh lớn nhỏ kết nối các vùng sản xuất, khu dân cư và các tuyến giao thông thủy. Các tuyến kênh trục như Xáng Xà No, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Cái Sắn, Lái Hiếu, Phụng Hiệp và Ô Môn – Xà No vừa thực hiện chức năng dẫn nước ngọt, tiêu thoát lũ, kiểm soát xâm nhập mặn, vừa phục vụ giao thông vận tải và phát triển nông nghiệp của toàn vùng. Chế độ thủy văn của thành phố chịu ảnh hưởng tổng hợp của dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây, cùng sự phân hóa mùa mưa – mùa khô đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, cung cấp phần lớn lượng nước trong năm, trong khi mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 thường xuất hiện tình trạng suy giảm dòng chảy và gia tăng ảnh hưởng của thủy triều. Sự tương tác giữa dòng chảy thượng nguồn và chế độ triều tạo nên các biến động thủy văn theo mùa, làm gia tăng nguy cơ ngập úng trong mùa lũ và xâm nhập mặn trong mùa khô, đặc biệt tại khu vực ven biển và vùng cửa sông. Xét theo đặc điểm nguồn nước và điều kiện thủy văn, tài nguyên nước mặt của thành phố có thể chia thành ba vùng chính. Vùng trung tâm Cần Thơ là khu vực có nguồn nước ngọt tương đối ổn định nhờ được cấp trực tiếp từ sông Hậu. Vùng Hậu Giang (trước sáp nhập) là khu vực chuyển tiếp giữa vùng ngọt và vùng chịu ảnh hưởng mặn, có vai trò điều tiết và phân phối nguồn nước cho khu vực nội đồng. Vùng ven biển Sóc Trăng (trước sáp nhập) chịu ảnh hưởng trực tiếp của
50
thủy triều biển Đông và quá trình xâm nhập mặn thông qua các cửa sông lớn, đồng thời là khu vực có mối liên hệ chặt chẽ nhất giữa nguồn nước mặt lục địa và môi trường biển ven bờ.
Nhìn chung, thành phố Cần Thơ có nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào, hệ thống sông ngòi và kênh rạch phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, ngập lụt và nhu cầu khai thác sử dụng nước ngày càng gia tăng, công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước mặt cần được tăng cường nhằm bảo đảm phát triển bền vững và duy trì các chức năng sinh thái của vùng cửa sông, ven biển.
3.1.2. Diễn biến ô nhiễm
Môi trường nước mặt trên địa bàn thành phố Cần Thơ bị tác động bởi nhiều nguồn như: Nước thải sinh hoạt, nước thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,… tùy theo từng khu vực và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nước mặt chịu sự ảnh hưởng của các nguồn thải khác nhau. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt được đánh giá trên cơ sở kế thừa và tổng hợp số liệu quan trắc từ hai nguồn, bao gồm: (i) kết quả quan trắc tại 03 vị trí đặc trưng là khu vực cửa sông Định An, cửa sông Trần Đề và cửa sông Mỹ Thanh được thực hiện trong tháng 2/2026 và tháng 3/2026; (ii) số liệu từ chương trình quan trắc môi trường định kỳ hàng năm của 03 địa phương trước khi sáp nhập (giai đoạn 2021 – 2025). a. Kết quả quan trắc tại cửa sông Định An, cửa sông Trần Đề và cửa sông Mỹ Thanh: Vị trí các điểm quan trắc được trình bày trong bảng bên dưới. Bảng 3.1. Các vị trí lấy mẫu nước mặt phục vụ báo cáo Hiện trạng Biển và
Hải đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ 51
| Hệ toạ độ VN 2000 kinh tuyến trục o o 105 , múi chiếu 3 | Thông số | |||
| STT | Vị trí lấy mẫu | X | Y | |
| 1060301 | 641512 | |||
| 2 | Khu vực cửa sông Trần Đề | 1050253 | 634145 | |
| 3 | Khu vực sông Mỹ Thanh | 1042156 | 628586 | Nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan (DO), Nhu cầu oxy sinh học (BOD ), Nhu cầu oxy 5 hóa học (COD), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Amoni + (NH tính theo N), Nitrit 4 (NO tính theo N), Tổng 2 Nitơ, Tổng Photpho, Sắt (Fe), Coliforms, Tổng Cacbon hữu cơ (TOC), Dầu mỡ tổng. |
Hnh 3.1. Vị trí lấy mẫu nước mặt báo cáo hiện trạng môi trường biển và
hải đảo thành phố Cần Thơ
0
- Thông số nhiệt độ: Nhiệt độ tại các vị trí quan trắc dao động từ 28,4
C – 0 0 29,3 C. Cao nhất là 29,3
C tại khu vực sông Mỹ Thanh.
Biểu đồ 3.1. Giá trị nhiệt độ tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số pH: Môi trường nước mặt tại các vị trí lấy mẫu có giá trị pH dao động trong khoảng 7,35 – 7,50; không có sự chênh lệch lớn về giá trị pH trong nước mặt tại các vị trí lấy mẫu. Chất lượng nước mặt có giá trị pH đạt mức A của QCVN 08:2023/BTNMT.
52
Biểu đồ 3.2. Giá trị pH tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số DO: Hàm lượng oxy hòa tan trong nước mặt tại các vị trí lấy mẫu có giá trị dao động trong khoảng 5,21 – 5,62 mg/L. So với QCVN 08:2023/BTNMT hàm lượng DO chưa đạt giá trị giới hạn tại mức C (chất lượng nước trung bình) nhưng đều trên giá trị giới hạn đối với mức B (nước mặt có chất lượng trung bình).
Biểu đồ 3.3. Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước mặt
53
- Thông số BOD
: Hàm lượng nhu cầu oxy sinh hóa tại các vị trí lấy mẫu dao động từ 3,93 – 4,83 mg/L. Tại các vị trí lấy mẫu khu vực cửa Định An, khu vực sông Mỹ Thanh vượt mức A (chất lượng nước tốt), riêng vị trí khu vực cửa sông Trần Đề đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn. Biểu đồ 3.4. Giá trị BOD
tại các điểm lấy mẫu nước mặt
5
- Thông số COD: Hàm lượng nhu cầu oxy hóa học tại các vị trí lấy mẫu dao động từ 14,6 – 44,50 mg/L. Tại vị trí khu vực cửa Định An và khu vực sông Mỹ Thanh đều có hàm lượng vượt giá trị cho phép tại mức B (chất lượng nước trung bình).
Biểu đồ 3.5. Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu nước mặt 54
- Thông số TSS: Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng tại các vị trí lấy mẫu dao động từ 53,5 – 183,10 mg/L. Các vị trí quan trắc đều vượt mức A (chất lượng nước tốt). So với mức B, khu vực cửa Định An và cửa sông Trần Đề đều đạt, riêng khu vực sông Mỹ Thanh có giá trị vượt mức B.
Biểu đồ 3.6. Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số amoni: Hàm lượng amoni tại các vị trí lấy mẫu dao động từ 0,039
– 0,05 mg/L. Tất cả các các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT – Bảng 1.
Biểu đồ 3.7. Giá trị Amoni tại các điểm lấy mẫu nước mặt
55
- Thông số nitrit: Hàm lượng Nitrit dao động trong khoảng 0,039 – 0,042 mg/L. Riêng tại vị trí khu vực sông Mỹ Thanh không phát hiện và 02 vị trí còn lại đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn.
Biểu đồ 3.8. Giá trị nitrit tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số tổng nitơ: Hàm lượng Tổng Nitơ dao động trong khoảng 0,88 – 0,988 mg/L. Tại vị trí lấy mẫu đều vượt mức A (chất lượng tốt) và nằm trong giới hạn cho phép của mức B (chất lượng trung bình).
Biểu đồ 3.9. Giá trị tổng nitơ tại các điểm lấy mẫu nước mặt
56
- Thông số tổng photpho: Hàm lượng Tổng Photpho dao động trong khoảng từ 0,062 – 126 mg/L. Trong đó, vị trí lấy mẫu khu vực sông Mỹ Thanh vượt mức A (chất lượng nước tốt). Biểu đồ 3.10. Giá trị tổng photpho tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số sắt: Hàm lượng Sắt dao động trong khoảng 0,181 – 0,843 mg/L. Tại vị trí lấy mẫu khu vực cửa Định An và khu vực sông Mỹ Thanh vượt quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT tại Bảng 1.
Biểu đồ 3.11. Giá trị Sắt tại các điểm lấy mẫu nước mặt
57
- Thông số Coliforms: Mật độ Coliforms tại các vị trí quan trắc dao động từ 17 – 170 MPN/100ml. Tất cả các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép mức A (chất lượng nước tốt). Biểu đồ 3.12. Giá trị Coliforms tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số TOC: Hàm lượng TOC dao động trong khoảng 0,79 – 2 mg/L. Tất cả các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép mức A (chất lượng nước tốt).
Biểu đồ 3.13. Giá trị TOC tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số dầu mỡ tổng: Tại các vị trí lấy mẫu đều có kết quả không phát hiện.
58
Nhận xét chung: Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng nước tại ba khu vực cửa sông nhìn chung còn duy trì ở mức tương đối tốt đối với các thông số pH, amoni, nitrit, Coliform, TOC và dầu mỡ tổng. Tuy nhiên, một số thông số phản ánh ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng như COD, BOD₅ và TSS có giá trị cao hơn tại khu vực cửa Định An và sông Mỹ Thanh so với cửa sông Trần Đề. Điều này cho thấy mức độ tác động của các nguồn thải không đồng đều giữa các khu vực cửa sông. Trong thời điểm quan trắc, khu vực cửa Định An và sông Mỹ Thanh ghi nhận một số thông số hữu cơ và chất rắn lơ lửng cao hơn so với cửa sông Trần Đề, phản ánh sự khác biệt về điều kiện thủy động lực, khả năng trao đổi nước, đặc điểm sử dụng đất trong lưu vực và cường độ các hoạt động kinh tế - xã hội tại từng khu vực. Đối với các thông số dinh dưỡng, tổng Nitơ và tổng Photpho có xu hướng tăng cục bộ tại một số vị trí cửa sông nhưng nhìn chung vẫn chưa ghi nhận dấu hiệu phú dưỡng trên diện rộng. Mật độ Coliform tại các vị trí đều nằm trong giới hạn cho phép, cho thấy chưa xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm vi sinh đáng kể trong thời điểm quan trắc. Những biến động cục bộ của các thông số hữu cơ, dinh dưỡng chủ yếu liên quan đến đặc điểm thủy văn vùng cửa sông, sự trao đổi nước giữa sông và biển, hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nguồn nước thải từ khu dân cư ven sông. Các khu vực này cần tiếp tục được theo dõi trong các chương trình quan trắc định kỳ nhằm đánh giá xu thế biến động lâu dài và phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. b. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước mặt giai đoạn 2021 - 2025: Trong giai đoạn 2021 – 2025, mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt trên địa bàn thành phố Cần Thơ (sau sáp nhập) gồm tổng cộng 132 vị trí quan trắc; số lượng thực hiện quan trắc hằng năm dao động từ 101 – 129 vị trí/năm. Các vị trí quan trắc này thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng trước thời điểm thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính. Cụ thể như sau: Bảng 3.2. Các vị trí quan trắc chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025
| TT | Năm | Vị trí quan trắc |
| Khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập | ||
| 1 | 2021 | 38 (Theo mạng lưới) |
| 2 | 2022 | 38 (Theo mạng lưới) |
| 3 | 2023 | 42 (Trên các tuyến sông, rạch chính) |
| 4 | 2024 | 42 (Trên các tuyến sông, rạch chính) |
| 5 | 2025 | 42 (Trên các tuyến sông, rạch chính) |
| Khu vực tỉnh Hậu Giang trước sáp nhập | ||
| 1 | 2021 | 44 |
| TT | Năm | Vị trí quan trắc |
| 2 | 2022 | 46 |
| 3 | 2023 | 48 |
| 4 | 2024 | 50 |
| 5 | 2025 | 52 |
| Khu vực tỉnh Sóc Trăng trước sáp nhập | ||
| 1 | 2021 | 19 |
| 2 | 2022 | 35 |
| 3 | 2023 | 35 |
| 4 | 2024 | 35 |
| 5 | 2025 | 35 |
Để đánh giá chất lượng nước mặt trên địa bàn thành phố Cần Thơ (sau sáp nhập) giai đoạn 2021 – 2025, báo cáo sử dụng Chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI). Đây là chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc nước mặt nhằm phản ánh định lượng hiện trạng chất lượng nguồn nước và mức độ phù hợp đối với các mục đích sử dụng thông qua thang điểm đánh giá cụ thể. Bộ dữ liệu phục vụ tính toán VN_WQI gồm 132 vị trí quan trắc nước mặt phân bố trên địa bàn thành phố Cần Thơ sau sáp nhập với tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Để thuận tiện cho việc phân tích và đánh giá, các vị trí quan trắc được chia thành ba tiểu vùng không gian như sau:
- Tiểu vùng I – thành phố Cần Thơ cũ (1 – 45): gồm hệ thống kênh rạch nội ô, vàm sông thuộc địa phận thành phố Cần Thơ cũ, bao gồm các sông Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt, Phong Điền và khu vực KCN Trà Nóc.
- Tiểu vùng II – Hậu Giang (trước sáp nhập) (46 – 97): gồm hệ thống kênh Xáng Xà No, sông Cái Lớn, sông Ba Láng, kênh Nàng Mau và sông Hậu đoạn qua địa phận tỉnh Hậu Giang (trước sáp nhập).
- Tiểu vùng III – Sóc Trăng (trước sáp nhập) (98 – 132): gồm hệ thống sông Hậu, sông Maspero, các kênh nội đồng Sóc Trăng và khu vực Ngã Năm, Kế Sách, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung, Phú Lộc. Việc phân loại chất lượng nước theo VN_WQI được áp dụng theo Quyết định số 1460/QĐ-TCMT, gồm các mức: 91 – 100 (Rất tốt), 76 – 90 (Tốt), 51 – 75 (Trung bình), 26 – 50 (Kém) và 0 – 25 (Rất kém). Chỉ số WQI được thể hiện bằng thang điểm tương ứng với các mức đánh giá, màu sắc và biểu tượng nhằm phản ánh khả năng đáp ứng của nguồn nước đối với các mục đích sử dụng khác nhau, cụ thể như sau:
60
Bảng 3.3. Chỉ số VN_WQI và sự phù hợp với mục đích sử dụng Chỉ số chất lượng nước mặt khu vực thành phố Cần Thơ trong báo cáo này được tính toán thông qua 3 nhóm thông số:
| Khoảng WQI | Chất lượng nước | Màu sắc | Phù hợp với mục đích sử dụng |
| 91 - 100 | Rất tốt | Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt | |
| 76 - 90 | Tốt | Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp | |
| 51 - 75 | Trung bình | Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác | |
| 26 - 50 | Kém | Sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương đương khác | |
| 10 - 25 | Ô nhiễm nặng | Nước ô nhiễm nặng, cần biện pháp xử lý trong tương lai | |
| < 10 | Ô nhiễm rất nặng | Nước nhiễm độc, cần có biện pháp khắc phục xử lý |
- Nhóm I: pH.
- Nhóm IV (nhóm thông số hữu cơ và dinh dưỡng): DO, BOD
, COD, N- 5 + 3- NH , N-NO , N-NO , P-PO 4 3 2 4
- Nhóm V (thông số vi sinh): Coliforms. Kết quả đánh giá chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025 như sau: Bảng 3.4. Chỉ số VN_WQI qua các đợt quan trắc nước mặt tại khu vực
thành phố Cần Thơ 61
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 1 | Nhà máy nước Cần Thơ 1 (đường 30/4) | 86 | 96 | 66 | 71 | 40 |
| 2 | Vàm rạch Khai Luông | 68 | 97 | 75 | 56 | 39 |
| 3 | Vàm rạch Cái Khế | 66 | 93 | 79 | 79 | 38 |
| 4 | Vàm rạch Sang Trắng (Khu CN Trà Nóc) | 43 | 96 | 91 | 72 | 75 |
| 5 | Vàm Trà Nóc (Cầu Trà Nóc) | 43 | 96 | 90 | 73 | 60 |
| 6 | Vàm sông Bình Thủy (gần Chùa Miên) | 80 | 96 | 91 | 71 | 85 |
| 7 | Vàm rạch Cam | 43 | 95 | 91 | 70 | 77 |
| 8 | Chợ Cái Răng | 44 | 97 | 81 | 82 | 84 |
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 64 | 97 | 75 | 83 | 87 | ||
| 10 | Vàm Cái Sâu | 82 | 96 | 72 | 83 | 87 |
| 11 | Vàm rạch Bến Bạ | 74 | 97 | 72 | 84 | 87 |
| 12 | Trên sông Cái Răng Bé (KV Phường Thường Thạnh) | 78 | 95 | 70 | 84 | 86 |
| 13 | Vàm Ô Môn | 67 | 65 | 83 | 83 | 87 |
| 14 | Chợ Ô Môn | 68 | 80 | 81 | 82 | 84 |
| 15 | Vàm rạch Chanh (gần KCN Trà Nóc) | 45 | 86 | 80 | 82 | 87 |
| 16 | Chợ thị trấn Bằng Tăng | 44 | 87 | 81 | 84 | 86 |
| 17 | Vàm Thốt Nốt | 82 | 95 | 84 | 84 | 86 |
| 18 | Ngã 3 Bà Chiêu (cầu Bà Chiêu cũ) | 78 | 95 | 83 | 83 | 86 |
| 19 | Vàm Thơm Rơm | 45 | 97 | 82 | 85 | 84 |
| 20 | Vàm Cần Thơ Bé | 45 | 98 | 82 | 76 | 83 |
| 21 | Cầu Bắc Đuôn (nay là cầu 30/4) | 64 | 97 | 85 | 76 | 86 |
| 22 | UBND phường Trung Nhứt | 44 | 93 | 85 | 77 | 86 |
| 23 | Vàm Cái Sắn (Khu vực cầu Cái Sắn Lớn – QL 80) | 83 | 95 | 83 | 76 | 86 |
| 24 | Vàm Mỹ Khánh (Khu vực Cầu Trường Tiền cũ) | 82 | 96 | 37 | 78 | 86 |
| 25 | Chợ Phong Điền | 44 | 97 | 38 | 80 | 87 |
| 26 | Ngã 3 ông Hào (Khu vực Chợ Trường Long) | 68 | 85 | 35 | 79 | 87 |
| 27 | Vàm rạch Xà No (đối diện bến phà Vàm Sáng) | 83 | 96 | 36 | 79 | 87 |
| 28 | Chợ Thới Lai | 63 | 94 | 74 | 77 | 84 |
| 29 | Kênh Ranh giao với kinh Xáng Ô Môn (khu vực Trụ Sở UBND Xã Trường Xuân A) | 43 | 94 | 81 | 76 | 85 |
| 30 | Kinh Thị Đội giao với kinh Ngang (cầu kinh Ngang) | 60 | 89 | 65 | 74 | 85 |
| 31 | Kinh KH6 (Khu vực Cầu số 1 - xã Thới Hưng) | 43 | 97 | 37 | 72 | 86 |
| 32 | Cầu quay - Thị trấn Cờ Đỏ | 43 | 95 | 37 | 72 | 84 |
| 33 | Cầu Kênh Ranh (Khu vực Chợ Nóc Bằng, xã Thới Đông) | 43 | 95 | 38 | 34 | 85 |
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 41 | 89 | 78 | 81 | 86 | ||
| 35 | Đầu Kênh D (tiếp giáp kênh Cái Sắn thuộc thị trấn Thạnh An) | 41 | 90 | 77 | 82 | 85 |
| 36 | Vàm rạch Đầu Sấu | 79 | 70 | 39 | ||
| 37 | Vàm rạch Rau Răm | 80 | 80 | 38 | ||
| 38 | Khu vực cách nhà máy Nước 2 khoảng 80m (gần nhà hàng Song Hỷ) | 91 | 72 | 78 | ||
| 39 | Rạch Cái Da (khu vực cầu Cái Da) | 62 | 85 | 86 | ||
| 40 | Rạch Cái Nai (khu vực cầu Cái Nai) | 65 | 83 | 86 | ||
| 41 | Cầu Xẻo Tre (Ấp Tân A, Xã Tân Thới) | 37 | 80 | 86 | ||
| 42 | Đầu Kênh E (tiếp giáp kênh Cái Sắn thuộc xã Thạnh Tiến) | 75 | 82 | 85 | ||
| 43 | Họng nhà máy Nước 2 | 81 | 96 | |||
| 44 | UBND xã Giai Xuân | 73 | 97 | |||
| 45 | Kinh E giao với kinh Đòn Giông | 63 | 90 | |||
| II | Hậu Giang (trước sáp nhập) | |||||
| 46 | Kênh Xáng Xà No, gần nhà máy nước Vị Thanh | 37 | 52 | 64 | 38 | 68 |
| 47 | Kênh Xáng Xà No, hợp lưu với sông Cái Tư (sông Ba Voi) gần nhà máy đường Vị Thanh | 56 | 56 | 64 | 68 | 72 |
| 48 | Sông Cái Tư - Kho tàng bến bãi gần cầu Cái Tư | 35 | 50 | 72 | 66 | 78 |
| 49 | Sông Cái Lớn, gần UBND xã Hoả Tiến | 56 | 62 | 69 | 60 | 77 |
| 50 | Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau, TT. Nàng Mau (nay là xã Vị Thủy) | 33 | 50 | 64 | 57 | 81 |
| 51 | Kênh Xáng Xà No, gần UBND xã Vị Thanh | 52 | 57 | 70 | 69 | 74 |
| 52 | Kênh Xáng Nàng Mau – chợ xã Vĩnh Tường | 51 | 52 | 65 | 67 | 82 |
| 53 | Hợp lưu sông Cái Lớn - Kênh Xáng Nàng Mau, gần chợ xã Vĩnh Thuận Tây (nay là xã Vĩnh Thuận Đông) | 53 | 58 | 67 | 67 | 74 |
| 54 | Ngã 4 sông Ba Láng – chợ Cái Tắc, TT. Cái Tắc (nay là xã Đông Phước) | 60 | 55 | 65 | 66 | 82 |
| 55 | Sông Ba Láng, bến đò số | 37 | 66 | 70 | 70 | 82 |
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 60 | 56 | 64 | 63 | 77 | ||
| 57 | Kênh xáng Xà No, gần chợ Một Ngàn | 56 | 66 | 69 | 68 | 76 |
| 58 | Vàm Cái Dầu, gần chợ Ngã Sáu, TT Ngã Sáu (nay là xã Châu Thành) | 65 | 68 | 73 | 70 | 91 |
| 59 | Kênh Xáng Mái Dầm, cầu Phú Hữu, xã Phú Hữu | 72 | 74 | 77 | 69 | 64 |
| 60 | Vàm Cái Cui, xã Đông Phú (nay là xã Châu Thành) | 77 | 80 | 85 | 76 | 91 |
| 61 | Vàm Cái Dầu, TT.Mái Dầm (nay là xã Châu Thành) | 81 | 81 | 85 | 76 | 91 |
| 62 | Vàm Mái Dầm, TT.Mái Dầm (nay là xã Châu Thành) | 77 | 83 | 85 | 74 | 67 |
| 63 | Vàm Cái Côn, TT.Mái Dầm (nay là xã Châu Thành) | 83 | 77 | 88 | 72 | 72 |
| 64 | Vàm Cái Dầu - CCN Đông Phú | 78 | 75 | 83 | 70 | 64 |
| 65 | Kênh Ba Ngàn - Kênh Cái Côn | 61 | 68 | 65 | 70 | 74 |
| 66 | Kênh Xáng Búng Tàu, gần nhà máy đường Phụng Hiệp | 37 | 58 | 59 | 66 | 66 |
| 67 | Kênh Mang Cá - Phụng Hiệp | 41 | 62 | 68 | 67 | 71 |
| 68 | Ngã 4 kênh Lái Hiếu, gần chợ Cây Dương, TT.Cây Dương | 62 | 57 | 51 | 61 | 71 |
| 69 | Ngã 3 kênh Lái Hiếu - kênh Cái Cao | 35 | 58 | 64 | 62 | 68 |
| 70 | Kênh Nhà Nước, gần chợ Kinh Cùng, TT. Kinh Cùng | 48 | 53 | 63 | 59 | 63 |
| 71 | Kênh Xáng Nàng Mau gần chợ Cầu Trắng Lớn | 58 | 67 | 62 | 61 | 83 |
| 72 | Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau - kênh Đông Lợi | 56 | 63 | 66 | 65 | 83 |
| 73 | Kênh Xáng Búng tàu, tại vị trí ngã năm Búng tàu, TT.Búng Tàu (nay là xã Tân Phước Hưng) | 62 | 61 | 66 | 65 | 68 |
| 74 | Kênh Hậu Giang 3, trong khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Phương Ninh | 83 | 77 | 70 | 67 | 69 |
| 75 | Sông Cái Lớn - gần nhà máy đường Cồn Long Mỹ Phát | 34 | 55 | 60 | 57 | 71 |
| 76 | Kênh Mười Thước gần chợ Vĩnh Viễn - huyện Long Mỹ | 46 | 49 | 59 | 57 | 70 |
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 57 | 54 | 60 | 64 | 73 | ||
| 78 | Sông Hậu, giữa Vàm Mái Dầm đến vàm Cái Côn | 89 | 55 | 67 | 67 | 74 |
| 79 | Sông Hậu, giữa vàm Cái Cui và vàm Cái Dầu | 91 | 92 | 91 | 68 | 77 |
| 80 | Sông Hậu, đoạn giữa vàm Cái Dầu đến vàm Mái Dầm | 91 | 92 | 85 | 67 | 72 |
| 81 | Sông Ba Láng - Cảng KCN Tân Phú Thạnh | 55 | 86 | 85 | 67 | 78 |
| 82 | Kênh Chủ Chẹt - gần CCN Vị Thanh | 49 | 59 | 65 | 56 | 34 |
| 83 | Kênh Mỹ Thuận, gần UBND P.Lái Hiếu, Tp.Ngã Bảy | 53 | 31 | 56 | 57 | 75 |
| 84 | Kênh Hậu Giang 3 - Kênh Thầy Năm, xã Long Trị | 46 | 49 | 69 | 57 | 64 |
| 85 | Hợp lưu sông Cái Trầu - kênh Trà Ban | 48 | 50 | 34 | 47 | 72 |
| 86 | Kênh Long Mỹ 2, gần UBND xã Xà Phiên | 48 | 44 | 58 | 55 | 65 |
| 87 | Ngã 3 Sông Cái Lớn - kênh Hội Đồng, xã Thuận Hưng (nay là xã Xà Phiên) | 53 | 53 | 62 | 55 | 71 |
| 88 | Sông Cái Ngang Dừa, gần chợ Lương Nghĩa | 50 | 50 | 65 | 53 | 74 |
| 89 | Ngã tư Kênh Mười Thước - rạch Tràm Tróc, gần chợ xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ nay là xã Xà Phiên) | 49 | 46 | 57 | 58 | 65 |
| 90 | Sông Ba Láng - Cảng KCN Tân Phú Thạnh | 42 | 50 | 52 | 52 | 78 |
| 91 | Kênh Chủ Chẹt - gần CCN Vị Thanh | 43 | 50 | 54 | 53 | 34 |
| 92 | Kênh xáng Xà No - CCN Nhơn Nghĩa A | 57 | 66 | 72 | ||
| 93 | Kênh Hậu Giang 3 - nội đồng vùng Mía Phụng Hịệp | 60 | 68 | 74 | ||
| 94 | Rạch Vong - gần KCN Tân Phú Thạnh | 65 | 71 | |||
| 95 | Hợp lưu Sông Nước Đục - kênh Mới, gần bến phà Tư Sáng | 68 | 78 | |||
| 96 | Hợp lưu Sông Cái Lớn - Kênh Ba Nghiệp | 75 | ||||
| 97 | Kênh Xáng Búng Tàu - Tại vị trí Ngã năm Búng Tàu, xã Tân Phước Hưng | 68 | ||||
| III | Sóc Trăng (trước sáp nhập) | |||||
| 98 | Kênh Xáng | 30 | 24 | 50 | 67 | 81 |
| 99 | Kênh 30/4 | 32 | 38 | 59 | 72 | 79 |
| Giá trị WQI qua các đợt quan trắc nước mặt | ||||||
| TT | Ký hiệu điểm quan trắc | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| 35 | 33 | 33 | 78 | 81 | ||
| 101 | Sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ | 88 | 88 | 91 | 78 | 88 |
| 102 | Kênh số 1, TT Kế Sách | 51 | 68 | 73 | 66 | 76 |
| 103 | Sông Hậu - Cái Côn | 30 | 86 | 89 | 95 | 73 |
| 104 | Kênh Thạnh Lợi | 64 | 40 | 45 | 66 | 80 |
| 105 | Sông Nhu Gia | 34 | 65 | 66 | 81 | 86 |
| 106 | Sông Saintard | 55 | 46 | 41 | 70 | 95 |
| 107 | Kênh TT Long Phú | 39 | 45 | 58 | 60 | 78 |
| 108 | Kênh TX Vĩnh Châu | 43 | 32 | 26 | 70 | 70 |
| 109 | Kênh Cổ Cò đi Vĩnh Châu | 87 | 61 | 69 | 79 | 76 |
| 110 | Sông Bến Bạ - TT Cù Lao Dung | 33 | 47 | 44 | 69 | 84 |
| 111 | Kênh TT Phú Lộc | 81 | 33 | 57 | 51 | 84 |
| 112 | Kênh TX Ngã Năm | 62 | 34 | 59 | 77 | 86 |
| 113 | Kênh TT Huỳnh Hữu Nghĩa | 58 | 35 | 73 | 75 | 80 |
| 114 | Kênh chợ Lịch Hội Thượng | 43 | 33 | 45 | 66 | 89 |
| 115 | Kênh TT Châu Thành | 44 | 40 | 47 | 54 | 69 |
| 116 | Kênh Mang Cá | 54 | 55 | 69 | 83 | |
| 117 | Kênh Thạnh Mỹ - Hòa Tú 1 | 60 | 73 | 78 | 87 | |
| 118 | Sông Dù Tho - Ngọc Đông | 59 | 68 | 77 | 74 | |
| 119 | Sông Mỹ Thanh - Hòa Tú II | 62 | 47 | 70 | 80 | |
| 120 | Rạch Trà Niên - Hòa Đông | 68 | 75 | 69 | 85 | |
| 121 | Kênh Mới Trà Vôn | 64 | 69 | 71 | 80 | |
| 122 | Sông Hậu - An Thạnh I | 85 | 92 | 93 | 85 | |
| 123 | Kênh Nàng Rền - Châu Hưng | 57 | 63 | 80 | 86 | |
| 124 | Kênh Sa Di | 55 | 50 | 70 | 75 | |
| 125 | Kênh Xáng - Nàng Rền, P3 | 43 | 66 | 85 | 80 | |
| 126 | Kênh Cái Trầu | 56 | 62 | 74 | 83 | |
| 127 | Kênh Xáng Mỹ Phước | 68 | 73 | 86 | 82 | |
| 128 | Kênh Quản lộ Phụng Hiệp | 35 | 55 | 76 | 90 | |
| 129 | Kênh So Đũa | 34 | 46 | 79 | 79 | |
| 130 | Kênh Tiếp Nhựt | 30 | 52 | 60 | 79 | |
| 131 | Kênh Tổng Cáng | 55 | 53 | 78 | 73 | |
| 132 | Kênh 30/4 - Phú Tân | 52 | 30 | 51 | 96 | |
66
(i) Diễn biến theo từng năm trên toàn vùng: ❖ Năm 2021 – Chất lượng nước ở mức trung bình, phân hóa rõ giữa các tiểu vùng: Kết quả quan trắc năm 2021 cho thấy chất lượng nước mặt trên toàn vùng nhìn chung ở mức trung bình, tuy nhiên có sự phân hóa khá rõ giữa các tiểu vùng. Tại Tiểu vùng I (khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập), phần lớn các điểm quan trắc dao động trong khoảng 43 – 86; nhiều khu vực trung tâm đô thị và dọc sông Hậu duy trì chất lượng nước ở mức trung bình đến khá. Tuy nhiên, một số điểm chịu tác động của hoạt động công nghiệp và đô thị như Vàm rạch Sang Trắng, Vàm Trà Nóc, Vàm rạch Cam, Chợ Phong Điền, Kênh KH6 – xã Thới Hưng và Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng chỉ đạt WQI khoảng 41 – 45, phản ánh dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng tại các tuyến kênh nội đồng và khu vực tiếp nhận nước thải. Tại Tiểu vùng II (Hậu Giang trước sáp nhập), chất lượng nước chủ yếu ở mức trung bình, với nhiều điểm dao động trong khoảng 48 – 68. Một số vị trí ghi nhận WQI thấp như Kênh Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh (37), sông Cái Tư gần cầu Cái Tư (35), Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau (33), Ngã ba kênh Lái Hiếu – kênh Cái Cao (35) và sông Cái Lớn gần Nhà máy đường Cồn Long Mỹ Phát (34). Các khu vực này chủ yếu chịu ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến và nước thải sinh hoạt khu vực dân cư tập trung. Tiểu vùng III (Sóc Trăng trước sáp nhập) là khu vực có chất lượng nước thấp nhất trong năm 2021. Nhiều điểm quan trắc chỉ đạt mức “Kém”, như Kênh Xáng (30), Kênh 30/4 (32), sông Maspero khu vực Khán Đài (35), sông Hậu – Cái Côn (30), sông Nhu Gia (34), Kênh TT Long Phú (39) và sông Bến Bạ – thị trấn Cù Lao Dung (33). Kết quả này cho thấy chất lượng nước tại khu vực nội thị và hệ thống kênh nội đồng của Sóc Trăng còn chịu áp lực lớn từ nước thải sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp. ❖ Năm 2022 – Chất lượng nước cải thiện rõ tại Tiểu vùng I: Năm 2022 ghi nhận xu hướng cải thiện đáng kể về chất lượng nước mặt, đặc biệt tại Tiểu vùng I. Hầu hết các điểm quan trắc khu vực trung tâm thành phố Cần Thơ trước sáp nhập và dọc sông Hậu đạt mức “Tốt” đến “Rất tốt”, với giá trị VN_WQI phổ biến từ 90 – 98. Một số vị trí đạt giá trị rất cao gồm Vàm Cần Thơ Bé (98), Vàm rạch Khai Luông (97), Chợ Cái Răng (97), Vàm Cái Cui (97), Vàm Thơm Rơm (97) và Kênh KH6 – xã Thới Hưng (97). Kết quả này cho thấy khả năng pha loãng và tự làm sạch của hệ thống sông rạch được cải thiện rõ trong năm quan trắc. Tuy nhiên, một số khu vực vẫn duy trì chất lượng nước ở mức trung bình hoặc cải thiện chậm. Đáng chú ý, Vàm Ô Môn chỉ đạt WQI khoảng 65, thấp hơn đáng kể so với nhiều điểm quan trắc khác trong Tiểu vùng I.
67
Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung cải thiện so với năm 2021, với nhiều điểm tăng lên mức trung bình đến khá. Các điểm trên sông Hậu đoạn qua Hậu Giang trước sáp nhập đạt giá trị rất cao, như điểm giữa Vàm Cái Cui – Vàm Cái Dầu và đoạn giữa Vàm Cái Dầu – Vàm Mái Dầm cùng đạt WQI khoảng 92. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vị trí có chất lượng nước thấp như Kênh Mỹ Thuận gần UBND phường Lái Hiếu (31), Kênh Long Mỹ 2 gần UBND xã Xà Phiên (44), Kênh Hậu Giang 3 – Kênh Thầy Năm (49) và Hợp lưu sông Cái Trầu – kênh Trà Ban (50). Đối với Tiểu vùng III, chất lượng nước vẫn còn phân hóa mạnh. Một số điểm tiếp tục duy trì WQI thấp như Kênh Xáng (24), Kênh TX Vĩnh Châu (32), Kênh TT Phú Lộc (33), Kênh TX Ngã Năm (34), Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (35), Kênh So Đũa (34) và Kênh Tiếp Nhựt (30). Tuy nhiên, nhiều điểm trên sông Hậu và khu vực ven sông lớn đạt chất lượng nước khá tốt, như sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ (88) và sông Hậu – An Thạnh I (85). ❖ Năm 2023 – Xuất hiện suy giảm cục bộ tại khu vực phía Tây và Tây Nam Cần Thơ: Kết quả năm 2023 cho thấy chất lượng nước mặt tiếp tục duy trì ở mức trung bình đến khá tại nhiều khu vực, tuy nhiên đã xuất hiện hiện tượng suy giảm cục bộ tại một số tuyến kênh nội đồng và khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung thuộc Tiểu vùng I. Mặc dù nhiều điểm quan trắc tại khu vực trung tâm và dọc sông Hậu vẫn duy trì WQI khoảng 70 – 91, một số vị trí ghi nhận giá trị giảm mạnh xuống mức “Kém”, tập trung chủ yếu tại khu vực Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai và phía Tây Nam thành phố Cần Thơ trước sáp nhập. Các điểm có WQI thấp gồm Vàm Mỹ Khánh (37), Chợ Phong Điền (38), Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường Long (35), Vàm rạch Xà No đối diện bến phà Vàm Sáng (36), Kênh KH6 – xã Thới Hưng (37), Cầu quay thị trấn Cờ Đỏ (37), Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng (38) và Cầu Xẻo Tre xã Tân Thới (37). Kết quả này phản ánh dấu hiệu gia tăng ô nhiễm hữu cơ tại một số tuyến kênh nội đồng và khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung. Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung ổn định hơn so với năm trước, với phần lớn các điểm dao động trong khoảng 60 – 75. Các điểm trên sông Hậu tiếp tục duy trì chất lượng nước tốt, trong đó đoạn giữa Vàm Cái Cui – Vàm Cái Dầu đạt WQI 91. Tiểu vùng III ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối rõ so với giai đoạn 2021–2022. Nhiều điểm đã vượt ngưỡng WQI 60 – 70 như Kênh số 1 thị trấn Kế Sách (73), Kênh TT Huỳnh Hữu Nghĩa (73), Kênh Xáng Mỹ Phước (73), sông Hậu – An Thạnh I (92) và Rạch Trà Niên – Hòa Đông (75). Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm chất lượng nước thấp như Kênh TX Vĩnh Châu (26), Kênh 30/4 – Phú Tân (30), Hợp lưu sông Cái Trầu – kênh Trà Ban (34) và sông Saintard (41).
68
❖ Năm 2024 – Chất lượng nước phục hồi trên diện rộng: Năm 2024 ghi nhận xu hướng phục hồi chất lượng nước tương đối rõ ở cả ba tiểu vùng. Tại Tiểu vùng I, phần lớn các điểm quan trắc đạt WQI khoảng 70 – 85, thuộc mức “Tốt”. Nhiều khu vực từng suy giảm trong năm 2023 đã phục hồi đáng kể, như Vàm Mỹ Khánh tăng từ 37 lên 78, Chợ Phong Điền từ 38 lên 80, Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường Long từ 35 lên 79, Vàm rạch Xà No từ 36 lên 79 và Cầu Xẻo Tre từ 37 lên 80. Tuy nhiên, Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng tiếp tục là điểm có chất lượng nước thấp nhất Tiểu vùng I khi chỉ đạt WQI khoảng 34, cho thấy tình trạng ô nhiễm cục bộ vẫn kéo dài tại khu vực này. Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung duy trì ổn định ở mức trung bình đến khá. Tuy nhiên, một số điểm xuất hiện xu hướng suy giảm cục bộ, đáng chú ý là Kênh Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh giảm từ 64 năm 2023 xuống còn 38 năm 2024. Bên cạnh đó, chất lượng nước trên sông Hậu đoạn qua Hậu Giang (trước sáp nhập) giảm so với giai đoạn 2021 - 2023, với WQI dao động khoảng 67 – 68. Tiểu vùng III ghi nhận mức cải thiện mạnh nhất trong giai đoạn 2021 - 2024. Nhiều điểm lần đầu đạt WQI trên 70 sau nhiều năm duy trì ở mức thấp, như sông Maspero khu vực Khán Đài (78), sông Saintard (70), Kênh Nàng Rền – Châu Hưng (80), Kênh Xáng – Nàng Rền (85), Kênh Xáng Mỹ Phước (86) và Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (76). Kết quả này cho thấy xu hướng cải thiện tích cực về chất lượng nước tại khu vực Sóc Trăng. ❖ Năm 2025 – Chất lượng nước tiếp tục cải thiện, nhưng xuất hiện suy giảm tại một số kênh rạch nội thành: Năm 2025 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về chất lượng nước mặt trên phạm vi toàn vùng. Tại Tiểu vùng I, phần lớn các điểm quan trắc đạt WQI khoảng 83 – 87, thuộc mức “Tốt” đến “Rất tốt”. Nhiều khu vực như Ô Môn, Thốt Nốt, Bằng Tăng, Phong Điền và Trường Long ghi nhận xu hướng cải thiện rõ so với giai đoạn 2021 – 2023. Tiểu vùng II cũng ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối rõ, với nhiều điểm đạt mức “Tốt”, như Vàm Cái Dầu gần chợ Ngã Sáu (91), Vàm Cái Cui – xã Đông Phú (91), Vàm Cái Dầu – thị trấn Mái Dầm (91), Kênh Xáng Nàng Mau gần chợ Cầu Trắng Lớn (83), Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau – kênh Đông Lợi (83) và Kênh Xáng Nàng Mau – chợ xã Vĩnh Tường (82). Tuy nhiên, Kênh Chủ Chẹt gần CCN Vị Thanh tiếp tục duy trì WQI thấp (34) tại cả hai vị trí quan trắc, phản ánh tình trạng ô nhiễm kéo dài tại khu vực này. Tiểu vùng III là khu vực có mức cải thiện mạnh nhất trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. Nhiều điểm đạt mức “Tốt” đến “Rất tốt”, tiêu biểu như Kênh 30/4 – Phú Tân (96), sông Saintard (95), Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (90), Kênh chợ Lịch Hội Thượng (89), sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ (88), Kênh Nàng Rền – Châu Hưng (86) và sông Hậu – An Thạnh I (85). So với năm 2021, nhiều khu vực nội thị Sóc Trăng trước sáp nhập đã cải thiện rõ rệt về chất lượng nước.
69
Bên cạnh xu hướng cải thiện chung, năm 2025 vẫn ghi nhận hiện tượng suy giảm chất lượng nước tại một số tuyến kênh rạch nội thành thuộc Tiểu vùng I. Các điểm có WQI thấp gồm Nhà máy nước Cần Thơ 1 (đường 30/4) đạt 40, Vàm rạch Khai Luông đạt 39, Vàm rạch Cái Khế đạt 38, Vàm rạch Đầu Sấu đạt 39 và Vàm rạch Rau Răm đạt 38. So với giai đoạn 2023–2024, các điểm này đều giảm đáng kể, cho thấy dấu hiệu gia tăng ô nhiễm tại khu vực kênh rạch nội đô và các tuyến tiếp nhận nước thải sinh hoạt đô thị. Đây là khu vực cần tiếp tục theo dõi và tăng cường kiểm soát nguồn thải nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nước phục vụ sinh hoạt và phát triển đô thị bền vững. (ii) Đánh giá theo tiểu vùng: ❖ Khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập: o Tiểu vùng ven sông Hậu – nội thành (điểm 1 – 12): Chất lượng nước tại tiểu vùng này biến động khá rõ trong giai đoạn 2021 –
2025. Năm 2022 ghi nhận mức cải thiện cao nhất, với phần lớn điểm quan trắc đạt WQI khoảng 93 – 97. Tuy nhiên, từ năm 2023 bắt đầu xuất hiện xu hướng suy giảm tại một số tuyến rạch nội thành. Đến năm 2025, nhiều điểm giảm xuống mức thấp như Vàm rạch Khai Luông (39), Vàm rạch Cái Khế (38), Vàm rạch Đầu Sấu (39) và Vàm rạch Rau Răm (38), thuộc mức “Xấu”. Kết quả này cho thấy áp lực ô nhiễm tại khu vực nội đô có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các tuyến kênh rạch tiếp nhận nước thải sinh hoạt và chịu ảnh hưởng của khả năng trao đổi dòng chảy hạn chế.
o Tiểu vùng Ô Môn – Thốt Nốt (điểm 13 – 23): Đây là tiểu vùng có xu hướng ổn định và cải thiện tương đối tốt trong khu vực thành phố Cần Thơ cũ. Sau giai đoạn chất lượng nước còn ở mức trung bình năm 2021, nhiều điểm quan trắc tăng dần và duy trì ổn định ở mức “Tốt” trong giai đoạn 2023 – 2025, với WQI phổ biến khoảng 80 – 87. Tiểu vùng này chịu ảnh hưởng tích cực từ hệ thống sông Hậu và các tuyến sông lớn, đồng thời ít chịu tác động trực tiếp từ các nguồn thải công nghiệp tập trung. o Tiểu vùng Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai (điểm 24 – 33): Đây là tiểu vùng có mức biến động lớn nhất trong mạng lưới quan trắc khu vực Cần Thơ trước sáp nhập. Năm 2021, nhiều điểm chỉ đạt WQI khoảng 43 – 44; đến năm 2022 phục hồi mạnh lên mức 85 – 97. Tuy nhiên, năm 2023 ghi nhận xu hướng suy giảm rõ rệt khi nhiều điểm giảm xuống mức “Xấu”, với WQI khoảng 35 – 38 như Vàm Mỹ Khánh, Chợ Phong Điền, Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường Long, Vàm rạch Xà No, Kênh KH6 – xã Thới Hưng và Cầu quay thị trấn Cờ Đỏ. Hiện tượng này có thể liên quan đến áp lực từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và điều kiện thủy văn bất lợi trong mùa khô. Đến giai đoạn 2024 – 2025, phần lớn các điểm đã phục hồi trở lại mức 80 – 87. Riêng điểm Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng vẫn ghi nhận WQI thấp bất thường trong năm 2024 (34), trước khi cải thiện lên 85 vào năm 2025.
70
o Tiểu vùng Vĩnh Thạnh – Thạnh An (điểm 34 – 35, 42): Chất lượng nước tại tiểu vùng này có xu hướng cải thiện tương đối rõ trong giai đoạn 2021 – 2025. Từ mức WQI khoảng 41 năm 2021, các điểm quan trắc tăng dần và đạt khoảng 82 – 86 vào năm 2025, phản ánh xu hướng cải thiện chất lượng nước tại hệ thống kênh Cái Sắn và khu vực nội đồng lân cận. ❖ Khu vực Hậu Giang (trước sáp nhập): o Tiểu vùng Vị Thanh và vùng Tây sông Hậu (điểm 46 – 55, 66 – 70, 75 – 77): Đây là tiểu vùng có chất lượng nước thấp và tốc độ cải thiện chậm hơn so với nhiều khu vực khác trong toàn vùng. Trong giai đoạn 2021 – 2025, phần lớn các điểm quan trắc dao động trong khoảng WQI 50 – 70. Một số điểm như Kênh Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh mặc dù có cải thiện từ 37 lên 68 nhưng vẫn chủ yếu ở mức “Trung bình”. Kết quả này cho thấy khu vực vẫn chịu áp lực từ hoạt động đô thị, sản xuất công nghiệp và đặc điểm hệ thống kênh đào có khả năng trao đổi dòng chảy hạn chế. o Tiểu vùng Châu Thành – Mái Dầm (điểm 58 – 64): Đây là tiểu vùng có chất lượng nước tốt nhất trong khu vực Hậu Giang (trước sáp nhập). Năm 2025, nhiều điểm duy trì WQI khoảng 70 – 91, đặc biệt như Vàm Cái Dầu – Ngã Sáu (91), Vàm Cái Cui – xã Đông Phú (91) và Vàm Cái Dầu – thị trấn Mái Dầm (91). Kết quả này phản ánh ảnh hưởng tích cực từ hệ thống sông Hậu và các tuyến sông lớn trong khu vực. Tuy nhiên, một số điểm như Kênh Xáng Mái Dầm và Vàm Mái Dầm có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn 2024 – 2025, cần tiếp tục theo dõi trong các năm tiếp theo. o Điểm nóng Kênh Chủ Chẹt – gần CCN Vị Thanh (điểm 82, 91): Hai điểm quan trắc tại Kênh Chủ Chẹt đều ghi nhận WQI khoảng 34 trong năm 2025, thuộc mức “Xấu”. Đây là khu vực có dấu hiệu ô nhiễm kéo dài trong nhiều năm liên tiếp và cần được ưu tiên kiểm soát nguồn thải cũng như tăng cường giám sát chất lượng nước. o Sông Hậu đoạn qua Hậu Giang trước sáp nhập (điểm 78 – 80): Các điểm quan trắc trên sông Hậu đoạn qua Hậu Giang trước sáp nhập duy trì chất lượng nước tương đối tốt trong phần lớn giai đoạn 2021 – 2025. Tuy nhiên, giá trị WQI có xu hướng giảm dần từ mức rất cao năm 2021 – 2023 xuống khoảng 67 – 68 vào năm 2024. Đến năm 2025, chất lượng nước phục hồi nhẹ, đạt khoảng 72 – 77 nhưng vẫn thấp hơn giai đoạn đầu. Kết quả này cho thấy cần tiếp tục theo dõi xu hướng biến động chất lượng nước trên các thủy vực lớn chịu ảnh hưởng từ hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ven sông. ❖ Khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập): o Tiểu vùng nội thành Sóc Trăng trước sáp nhập (điểm 98 – 100, 108):
71
Đây là tiểu vùng có chất lượng nước thấp trong giai đoạn đầu, với WQI chỉ khoảng 24 – 43 trong các năm 2021 – 2022. Tuy nhiên, từ năm 2023 trở đi chất lượng nước cải thiện rõ rệt và duy trì xu hướng tăng liên tục. Đến năm 2025, Kênh Xáng đạt WQI 81, Kênh 30/4 đạt 79 và sông Maspero đạt 81, tương ứng mức “Tốt”. Kết quả này phản ánh xu hướng cải thiện tích cực đối với hệ thống kênh rạch nội thị của khu vực Sóc Trăng. o Tiểu vùng sông Hậu – Kế Sách (điểm 101 – 103, 122): Đây là tiểu vùng duy trì chất lượng nước tốt và tương đối ổn định trong toàn khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập). Các điểm trên sông Hậu như An Thạnh I và Nhơn Mỹ thường xuyên đạt WQI ở mức “Tốt” đến “Rất tốt”. Đặc biệt, điểm sông Hậu – Cái Côn đạt WQI 95 vào năm 2024, phản ánh chất lượng nền tương đối tốt của khu vực sông chính. o Tiểu vùng Ngã Năm – Vĩnh Châu – Kênh Nàng Rền (điểm 110 – 115, 123
– 126):
Tiểu vùng này ghi nhận xu hướng cải thiện khá rõ trong giai đoạn 2021 –
2025. Nhiều điểm tăng từ mức “Xấu” hoặc “Trung bình” giai đoạn 2021 – 2022 lên mức “Tốt” vào năm 2025. Điển hình như Kênh TX Vĩnh Châu tăng từ 26 năm 2023 lên 70 năm 2025; Kênh TX Ngã Năm tăng từ 34 năm 2022 lên 86 năm 2025; Kênh Nàng Rền – Châu Hưng đạt 86 năm 2025.
o Tiểu vùng kênh Quản lộ Phụng Hiệp và các kênh nội đồng phía Nam (điểm 119 – 132): Đây là khu vực có mức cải thiện mạnh trong giai đoạn 2024 – 2025. Nhiều điểm đạt WQI ở mức “Tốt” đến “Rất tốt”, như Kênh 30/4 – Phú Tân (96), Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (90), Kênh So Đũa (79) và Kênh Tiếp Nhựt (79) trong năm
2025. Kết quả này cho thấy chất lượng nước tại các tuyến kênh nội đồng phía Nam Sóc Trăng đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.
(iii) Xu thế dài hạn và kết luận: Nhìn tổng thể giai đoạn 2021 – 2025, chất lượng nước mặt trên phạm vi thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có xu hướng cải thiện tương đối rõ. Phần lớn các điểm quan trắc ghi nhận giá trị WQI tăng so với giai đoạn đầu, đặc biệt tại khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập) và một số khu vực thuộc Hậu Giang (trước sáp nhập). Trong đó, khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập) là nơi có mức cải thiện nổi bật nhất. Nhiều tuyến kênh nội thị và nội đồng từng ở mức “Kém” trong giai đoạn 2021 – 2022 đã tăng lên mức “Tốt” vào năm 2025. Khu vực Hậu Giang (trước sáp nhập) cũng ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối ổn định, đặc biệt tại các điểm thuộc khu vực Châu Thành – Mái Dầm. Hệ thống sông Hậu và các tuyến sông chính nhìn chung vẫn duy trì chất lượng nước ở mức khá đến tốt trong phần lớn thời gian quan trắc.
72
Bên cạnh xu hướng cải thiện chung, kết quả quan trắc cũng cho thấy một số dấu hiệu cần tiếp tục theo dõi và kiểm soát. Đáng chú ý là sự suy giảm chất lượng nước tại một số tuyến kênh rạch nội thành Cần Thơ trong năm 2025 như Vàm rạch Khai Luông, Vàm rạch Cái Khế, Vàm rạch Đầu Sấu và Vàm rạch Rau Răm. Đây là khu vực chịu áp lực lớn từ hoạt động đô thị và có liên quan đến nguồn nước phục vụ sinh hoạt, do đó cần được tăng cường giám sát và kiểm soát nguồn thải. Ngoài ra, khu vực Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai cho thấy tính biến động lớn về chất lượng nước giữa các năm. Trong khi Kênh Chủ Chẹt gần CCN Vị Thanh tiếp tục là khu vực có chất lượng nước thấp kéo dài trong nhiều năm liên tiếp. Các khu vực này cần được ưu tiên theo dõi nhằm phục vụ công tác quản lý và bảo vệ chất lượng nguồn nước mặt trong thời gian tới. Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính, việc thống nhất hệ thống quan trắc, chia sẻ dữ liệu và tăng cường phối hợp quản lý nguồn thải giữa các địa phương là điều cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ tài nguyên nước trên phạm vi toàn vùng.
3.2. DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG BIỂN VEN BỜ
Trên địa bàn thành phố hiện có 05 vị trí quan trắc chất lượng nước biển định kỳ, bao gồm: xã Vĩnh Hải, xã An Thạnh Nam, xã Trung Bình, xã Vĩnh Tân và xã An Thạnh 3. Bên cạnh đó, để phục vụ báo cáo nhiệm vụ, công tác lấy mẫu nước biển ven bờ được thực hiện bổ sung tại 06 vị trí, gồm: phường Vĩnh Phước, phường Vĩnh Châu, xã Cù Lao Dung, xã Trần Đề, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải. Như vậy, việc đánh giá chất lượng nước biển trong báo cáo được tổng hợp trên cơ sở kết hợp giữa dữ liệu quan trắc định kỳ giai đoạn 2021 – 2025 và kết quả lấy mẫu bổ sung (năm 2026) tại các khu vực ven bờ trọng điểm. Phương pháp lấy mẫu nước biển ven bờ: TCVN 6663-1:2011; TCVN 6663- 3:2011; TCVN 6663-3:2016; TCVN 5998:1995. Việc xác định độ sâu lấy mẫu được thực hiện theo hướng dẫn của TCVN 5998:1995 (ISO 5667-9:1992), trên cơ sở xem xét mục tiêu quan trắc, đặc điểm thủy động lực học và điều kiện thực tế của khu vực khảo sát. Đối với các vị trí biển ven bờ có cột nước nông, mẫu nước được thu tại tầng mặt, ở độ sâu khoảng 0,3 – 0,5 m dưới mặt nước. Phương pháp phân tích mẫu được trình bày trong bảng bên dưới.
73
Bảng 3.5. Phương pháp phân tích mẫu
| TT | Tên thông số | Tên/số hiệu phương pháp sử dụng/phương pháp đo |
| I | Phương pháp đo đạc tại hiện trường | |
| 1 | pH | TCVN 6492:2011 |
| 2 | DO | TCVN 7325:2016 |
| II | Thành phần môi trường nước mặt, nước dưới đất và nước biển | |
| 1 | TSS | TCVN 6625:2000 |
| 2 | + N-NH 4 | SMEWW 4500-NH .B&F:2023 3 |
| 3 | Fe | TCVN 6177:1996 |
| 4 | Tổng Coliform | SMEWW9221B:2023 |
| 5 | Động vật nổi | SMEWW 10200:2023 |
| 6 | Động vật đáy | SMEWW 10500:2023 |
| 7 | Dầu mỡ khoáng | SMEWW 5520B&F:2023 |
| 8 | 3- Phosphate (PO ) 4 | 3- SMEWW 4500-PO .E:2023 4 |
Vị trí và tọa độ các điểm quan trắc được mô tả như sau:
Bảng 3.6. Điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ
| Tọa độ (VN2000, múi chiếu 3ᵒ) | ||||||
| TT | Tên điểm quan trắc | X | Y | Thông số | Thời gian lấy mẫu | Điều kiện thủy triều |
| 1 | Vĩnh Hải | 1034311 | 630106 | |||
| 2 | An Thạnh Nam | 1047660 | 637019 | |||
| 3 | Trung Bình | 1044456 | 632998 | |||
| 4 | Vĩnh Tân | 1023808 | 599051 | |||
| 5 | An Thạnh 3 | 10566168 | 643028 | pH, DO, TSS, Amoni + (NH tính 4 theo Nitơ), Phosphate 3- (PO tính 4 theo Phosphor), tổng Coliform, dầu mỡ khoáng, Fe tổng, Động vật nổi, Động vật đáy. | Tháng quan trắc: 02, 4, 6, 8, 10, 11. | |
| II | Vị trí lấy mẫu báo cáo Hiện trạng (02 đợt vào tháng 03/2026) | |||||
| Tọa độ (VN2000, múi chiếu 3ᵒ) | ||||||
| TT | Tên điểm quan trắc | X | Y | Thông số | Thời gian lấy mẫu | Điều kiện thủy triều |
| 1047337 | 636986 | |||||
| 2 | Xã Trần Đề | 1044134 | 632967 | |||
| 3 | Phường Vĩnh Châu | 1027949 | 614702 | |||
| 4 | Phường Vĩnh Phước | 1023492 | 599030 | |||
| 5 | Xã Lai Hòa | 1021042 | 591393 | |||
| 6 | Xã Vĩnh Hải | 1033992 | 630076 | pH, DO, TSS, tổng Coliform, + Amoni (NH 4 tính theo Nitơ), Phosphate 3- (PO tính 4 theo Phosphor), Sắt (Fe), Dầu mỡ khoáng. | Ngày 25/03/2026 và ngày 26/03/2026 | Nước lớn |
3.2.1. Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026:
- Thông số pH: Môi trường nước biển tại các vị trí quan trắc trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 6,60 – 7,60 không có sự chênh lệch lớn về giá trị pH tại các vị trí quan trắc. So với QCVN 10:2023/BTNMT chất lượng nước biển trên địa bàn có giá trị pH nằm trong giới hạn quy chuẩn. Biểu đồ 3.14. Giá trị pH tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Thông số DO (hàm lượng oxy hòa tan): Hàm lượng oxy hòa tan trong nước biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 4,70 – 6,65 mg/L. So với bảng 1, QCVN 10:2023/BTNMT hàm lượng DO tại đợt 1 đều đạt giá trị giới hạn. Riêng vị trí phường Vĩnh Châu, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải tại đợt 2 có giá trị thấp hơn giới hạn cho phép.
75
| QCVN 10:2023/BTNMT - Bảng 2 | ||||
| Giá trị thông số DO năm 2026 7 6 5 4 mg/L 3 2 1 0 Xã Lai Hòa Xã Cù Lao Dung Xã Trần Đề Phường Vĩnh Phường Vĩnh Xã Vĩnh Hải Châu Phước |
Biểu đồ 3.15. Giá trị DO tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước biển vùng ven bờ ghi nhận mức độ phân hóa rõ rệt giữa 02 đợt quan trắc năm 2026. Trong đợt 1, hàm lượng TSS tại tất cả các điểm trạm đều ghi nhận giá trị vượt giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT. Bước sang đợt 2, hàm lượng TSS có xu hướng giảm, riêng tại trạm Trần Đề và Cù Lao Dung, thông số này đã giảm xuống dưới ngưỡng giới hạn quy chuẩn. Biểu đồ 3.16. Giá trị TSS tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
76
+
- Thông số Amoni: Hàm lượng N-NH
trong nước biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,06 – 0,074 mg/L. Các vị trí quan trắc đều nằm trong giới hạn của QCVN 10:2023/BTNMT. Biểu đồ 3.17. Giá trị Amoni tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ 3-
3-
- Thông số Photphat tính theo P (P-PO
): Hàm lượng P-PO
trong nước 4 4 biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,01 – 0,052 mg/L. Các vị trí quan trắc đều nằm trong giới hạn của QCVN 10:2023/BTNMT.
3-
Biểu đồ 3.18. Giá trị P-PO
tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
4 77
- Thông số sắt tổng (Fe): Hàm lượng Fe trong nước biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,230 – 1,480 mg/L. Trong đợt 1, có 4/6 vị trí và đợt 2 có 2/6 vị trí vượt giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT. Biểu đồ 3.19. Giá trị sắt tổng tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Thông số dầu mỡ tổng: Hàm lượng đầu mỡ tổng trong nước biển trong 2 đợt của năm 2026 đều có kết quả không phát hiện.
- Thông số Coliforms: Mật độ coliforms trong nước biển trong 2 đợt của năm 2026 đều nằm trong giới hạn của quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Biểu đồ 3.20. Giá trị Coliforms tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
78
Nhận xét: Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026 cho thấy chất lượng nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố nhìn chung còn tương đối tốt. Các thông số pH, amoni, photphat, dầu mỡ khoáng và Coliform đều nằm trong giới hạn quy chuẩn kỹ thuật tại hầu hết các vị trí quan trắc. Điều này cho thấy chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng và ô nhiễm vi sinh trên diện rộng tại khu vực biển ven bờ trong thời điểm khảo sát. Xét theo không gian, chất lượng nước biển có sự khác biệt giữa các khu vực quan trắc. Một số vị trí như Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải ghi nhận hàm lượng DO thấp hơn giới hạn quy chuẩn trong đợt quan trắc thứ hai; trong khi thông số Fe vượt quy chuẩn cục bộ tại một số vị trí ở cả hai đợt quan trắc. Hàm lượng TSS có xu hướng cao tại hầu hết các vị trí trong đợt 1 và giảm rõ rệt trong đợt 2, riêng khu vực Trần Đề và Cù Lao Dung đã giảm xuống dưới giới hạn quy chuẩn. Kết quả này cho thấy chất lượng nước biển ven bờ chịu ảnh hưởng đáng kể của điều kiện thủy văn, chế độ thủy triều và quá trình khuếch tán, trao đổi nước giữa vùng cửa sông và biển. Xét theo thời gian, so sánh giữa hai đợt quan trắc năm 2026 cho thấy hàm lượng TSS và Fe có xu hướng giảm tại nhiều vị trí, trong khi các thông số pH, amoni, photphat, dầu mỡ khoáng và Coliform biến động không đáng kể. Riêng DO giảm tại một số khu vực trong đợt quan trắc thứ hai nhưng chỉ mang tính cục bộ, chưa phản ánh xu thế suy giảm chất lượng nước biển trên toàn vùng nghiên cứu. Các biến động cục bộ của TSS, DO và Fe có thể liên quan đến đặc điểm thủy động lực vùng ven bờ, chế độ thủy triều, quá trình vận chuyển bùn cát từ hệ thống cửa sông ra biển, cũng như ảnh hưởng tổng hợp của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ven biển như nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy và sinh hoạt ven biển. Tuy nhiên, với kết quả quan trắc hiện có, chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng hoặc vi sinh trên diện rộng; các khu vực có biến động cần tiếp tục được theo dõi trong các chương trình quan trắc định kỳ nhằm đánh giá xu thế diễn biến lâu dài của môi trường biển ven bờ.
3.2.2. Kết quả quan trắc định kỳ nước biển ven bờ giai đoạn 2021 - 2025:
Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ được thể hiện trong hình bên dưới.
79
Hnh 3.2. Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố Cần Thơ
80
Kết quả quan trắc như sau: Thông số pH: Giá trị trung bình pH tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021 – 2025 dao động từ 7,02 – 7,68 có tính kiềm. Giá trị thấp nhất ghi nhận tại tại vị trí xã Vĩnh Tân (năm 2023) và cao nhất tại tại vị trí xã An Thạnh Nam (năm 2021). Nhìn chung, giá trị pH tại các vị trí quan trắc qua các năm có xu hướng biến động nhẹ và vẫn duy trì ổn định đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 1. Biểu đồ 3.21. Giá trị trung bình thông số pH giai đoạn năm 2021 – 2025 Thông số DO: DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật sống dưới nước (cá, lưỡng cư, thuỷ sinh,v.v...) thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy tự do dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo và v.v... Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật sống dưới nước giảm hoạt động hoặc bị chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước, cũng như chất lượng môi trường nước. Giá trị trung bình thông số DO tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2022 – 2025 dao động từ 5,05 – 6,24 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại tại vị trí xã Vĩnh Hải (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã Trung Bình (năm 2023). Nhìn chung, giá trị DO vẫn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT
– Bảng 1.
Sự biến động DO giữa các năm và giữa các vị trí quan trắc có thể liên quan đến điều kiện thủy động lực, nhiệt độ nước, hàm lượng chất hữu cơ, độ đục, cũng như ảnh hưởng của các nguồn nước từ cửa sông đổ ra biển. Tuy nhiên, giá trị DO nhìn chung vẫn duy trì trong giới hạn quy chuẩn, cho thấy môi trường nước biển ven bờ vẫn bảo đảm điều kiện oxy hòa tan cho hệ sinh thái thủy sinh.
81
Biểu đồ 3.22. Giá trị trung bình thông số DO giai đoạn năm 2022 – 2025
Thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Tổng chất rắn lơ lửng thể hiện hàm lượng cặn lơ lửng trong nước, khi hàm lượng TSS cao chúng làm ảnh hưởng đến giá trị cảm quan của nguồn nước cũng như làm giảm sự xuyên thấu của ánh sáng, ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật phù du trong nước. Giá trị trung bình thông số TSS tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021 – 2025 dao động từ 79,02 – 334 (mg/L) vượt từ khoảng 1,5 lần – 6,68 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 1. Biểu đồ 3.23. Giá trị trung bình thông số TSS giai đoạn năm 2021 – 2025
82
Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến điều kiện tự nhiên vùng ven bờ như thủy triều, sóng gió, mưa lớn, dòng chảy mang phù sa từ đất liền, sạt lở bờ sông – bờ biển và quá trình bồi lắng trầm tích; bên cạnh đó, các hoạt động kinh tế – xã hội ven biển như nuôi trồng và khai thác thủy sản, tàu thuyền hoạt động gần bờ và xáo trộn đáy biển có thể làm gia tăng cục bộ hàm lượng TSS tại một số thời điểm. Xét theo không gian, hàm lượng TSS có sự khác biệt giữa các vị trí quan trắc, phản ánh ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, đặc điểm địa hình cửa sông và cường độ vận chuyển bùn cát tại từng khu vực.
+
Thông số Amoni (NH
tính theo N):
4 Giá trị trung bình thông số Amoni tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021
– 2025 dao động từ 0,02 – 0,278 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại vị trí xã Vĩnh Hải (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã An Thạnh Nam (năm 2023) vượt gấp 2,18 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 2 về chất lượng nước biển vùng ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái biển.
Việc xuất hiện giá trị amoni vượt quy chuẩn tại một số thời điểm cho thấy có dấu hiệu gia tăng cục bộ nguồn dinh dưỡng trong môi trường nước biển ven bờ. Nguyên nhân có thể liên quan đến nước từ hệ thống sông mang theo chất dinh dưỡng từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và quá trình phân hủy chất hữu cơ. Biểu đồ 3.24. Giá trị trung bình thông số Amoni giai đoạn 2021 – 2025
3- Thông số Photphat tính theo P (P-PO ): 4 Giá trị trung bình thông số Photphat tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021 – 2025 dao động từ 0,023 – 0,23 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại vị trí xã Trung Bình (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã Trung Bình (năm 2024)
83
vượt gấp 1,15 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 2 về chất lượng nước biển vùng ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái biển.
Sự biến động hàm lượng photphat (P-PO₄³⁻) qua các năm chịu ảnh hưởng của cả điều kiện tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội. Các yếu tố như lượng mưa, chế độ thủy triều, quá trình trao đổi nước giữa sông và biển, cùng với nguồn dinh dưỡng từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nước thải sinh hoạt ven biển có thể làm gia tăng cục bộ hàm lượng photphat tại một số thời điểm.
3- Biểu đồ 3.25. Giá trị trung bình thông số P-PO giai đoạn 2021 – 2025 4 Thông số Sắt tổng (Fe): Giá trị trung bình thông số sắt tổng tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021
– 2025 dao động từ 0,86 – 3,30 (mg/L) vượt gấp 1,7 lần – 6,6 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 2 về chất lượng nước biển vùng ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái biển. Giá trị thấp nhất ghi nhận tại vị trí xã An Thạnh 3 (năm 2025) và cao nhất tại tại vị trí xã Vĩnh Hải (năm 2023).
Nguyên nhân gia tăng hàm lượng sắt (Fe) chủ yếu do yếu tố tự nhiên vùng ven bờ, đặc biệt trong mùa mưa khi quá trình rửa trôi từ đất liền và phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí làm giải phóng sắt từ trầm tích. Bên cạnh đó, các hoạt động ven biển (xả thải, nuôi trồng thủy sản, nạo vét và giao thông thủy) góp phần làm xáo trộn trầm tích, gây tăng Fe cục bộ.
84
Biểu đồ 3.26. Giá trị trung bình thông số Sắt tổng giai đoạn 2021 – 2025 Nhận xét chung: Kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy chất lượng nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố nhìn chung tương đối ổn định. Các thông số pH và DO duy trì trong giới hạn quy chuẩn qua các năm, phản ánh điều kiện môi trường nước biển cơ bản đáp ứng yêu cầu đối với hệ sinh thái thủy sinh. Tuy nhiên, một số thông số như TSS, Fe, amoni và photphat ghi nhận vượt quy chuẩn tại một số vị trí và thời điểm, cho thấy vẫn tồn tại các khu vực chịu tác động cục bộ của các nguồn phát sinh chất ô nhiễm. Xét theo không gian, một số thông số có xu hướng tăng cục bộ tại từng vị trí quan trắc trong các năm khác nhau, như amoni tại xã An Thạnh Nam (năm 2023), photphat tại xã Trung Bình (năm 2024) và Fe tại xã Vĩnh Hải (năm 2023). Điều này cho thấy chất lượng nước biển ven bờ có sự khác biệt giữa các khu vực, phản ánh ảnh hưởng tổng hợp của điều kiện tự nhiên và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại từng địa phương. Xét theo thời gian, các thông số chất lượng nước có xu hướng biến động qua từng năm nhưng chưa ghi nhận xu thế suy giảm rõ rệt trên toàn vùng nghiên cứu. Các biến động cục bộ của amoni và photphat cho thấy có thời điểm xuất hiện dấu hiệu gia tăng dinh dưỡng; trong khi TSS và Fe chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên và quá trình vận chuyển bùn cát. Đối với thông số Coliform, kết quả quan trắc các năm đều nằm trong giới hạn quy chuẩn, chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm vi sinh cục bộ tại các vị trí quan trắc. Nhìn chung, chất lượng nước biển ven bờ vẫn đáp ứng yêu cầu đối với phần lớn mục đích sử dụng, tuy nhiên cần tiếp tục duy trì quan trắc định kỳ tại các khu vực cửa sông và ven biển nhằm theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và kịp thời phát hiện các biến động bất thường.
85
3.3. CÁC VẤN ĐỀ NỔI CỘM VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN TẠI CÁC ĐẢO,
CỤM ĐẢO
Căn cứ Hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 40/2025/QĐ- TTg ngày 31/10/2025 về tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận xã đảo và xã An toàn khu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Toàn thành phố, hiện đã công nhận 03 xã (xã An Thạnh, Cù Lao Dung và Phong Nẫm) là xã đảo. Thời gian qua, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố đã tập trung phát triển kinh tế - xã hội các xã đảo. Hệ thống giao thông được kết nối thuận lợi với Quốc lộ 60, Quốc lộ Nam Sông Hậu, đặc biệt dự án cầu Đại Ngãi bắc qua sông Hậu (dự kiến trước 2030) sẽ là động lực lớn, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 02 xã An Thạnh, Cù Lao Dung với tỉnh Vĩnh Long, rút ngắn khoảng cách đi thành phố Hồ Chí Minh đến 80 km. Ngoài giao thông, thành phố còn chú trọng nâng cấp hạ tầng thủy lợi, cứng hóa mặt đê với hơn 80 km đê sông và 23 km đê biển; tận dụng lợi thế cửa sông lớn (Định An, Trần Đề), đáp ứng vận chuyển bằng tàu thuyền lớn, phục vụ kinh tế biển và du lịch. Sản xuất phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao kết hợp với du lịch sinh thái, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân. Hiện nay, cả 03 xã đều đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
3.3.1. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa; công tác thu gom, xử lý còn
hạn chế a. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa: Chất thải nhựa phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm chất thải rắn (CTR) sinh hoạt, CTR trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Trong thực tế, khối lượng chất thải nhựa thất thoát ra môi trường chủ yếu có nguồn gốc từ CTR sinh hoạt, do các dòng chất thải nhựa phát sinh từ nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng thường được quản lý, thu gom và xử lý tương đối hiệu quả. Thực tế cho thấy rất nhiều vật dụng trong gia đình đều có nguồn gốc từ nhựa. Theo Phạm Thị Mai Thảo (2021), kết quả khảo sát về phát sinh rác thải nhựa tại thành phố Hà Nội cho thấy túi ni lông và bao bì đóng gói phát sinh nhiều nhất, chiếm 69,8%; chai dầu gội đầu, sữa tắm chiếm 62,5%; chai nhựa, bình nhựa chiếm 58%; hộp đựng sữa chua, ống hút chiếm 48,6%; đường ống nước, vỏ bọc dây điện chiếm 43,2%; hộp xốp, cốc nhựa dùng một lần chiếm 23,9%. Điều này khẳng định hầu hết các sản phẩm thiết yếu trên thị trường đều có nguồn gốc từ nhựa. Do đó, để giảm lượng rác thải nhựa cần có các giải pháp nghiên cứu và phát triển sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường. Khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn các đơn vị hành chính thuộc vùng đảo và ven biển được tính toán dựa trên số dân và định mức phát thải. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính theo Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg, số liệu về CTR sinh hoạt và rác thải nhựa trên các xã đảo được trình bày tại bảng bên dưới.
86
Bảng 3.7. Khối lượng chất thải rắn và rác thải nhựa phát sinh tại các xã đảo
| TT | Đơn vị hành chính | Dân số (người) | Định mức (kg/người/ngày) | CTR sinh hoạt (kg/ngày) | Rác thải nhựa (kg/ngày) |
| 1 | Xã An Thạnh | 37.711 | 0,65 | 24.512 | 2.402 |
| 2 | Xã Cù Lao Dung | 44.937 | 0,65 | 29.209 | 2.862 |
| 3 | Xã Phong Nẫm | 6.416 | 0,65 | 4.170 | 409 |
| Tổng | 89.064 | 57.892 | 5.673 | ||
Ghi chú:
- Định mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017).
- Tỷ lệ rác thải nhựa được tính theo kết quả khảo sát tại bãi rác xã An Thạnh 2 năm 2026 với tỷ lệ là 9,8%. b. Thực trạng thu gom, xử lý: (i) Khu vực xã Cù Lao Dung và xã Anh Thạnh: Trên địa bàn, công tác thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt do Công ty TNHH Xây dựng Huỳnh Khánh Toàn thực hiện. Hiện có 03 bãi rác gồm bãi rác An Thạnh 1 (xã An Thạnh), bãi rác An Thạnh 2 và bãi rác An Thạnh 3 (xã Cù Lao Dung). Trong đó, bãi rác An Thạnh 2 là bãi rác sử dụng chung và hiện đã ngừng hoạt động. Phương thức xử lý chất thải chủ yếu là lưu chứa kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học nhằm tăng khả năng phân hủy chất thải và giảm thiểu mùi hôi phát sinh. Công tác thu gom hiện chỉ bao phủ các khu vực nội ô, trung tâm xã, chợ, trường học. Tỷ lệ thu gom rác thải toàn địa bàn đạt khoảng 60%, trong đó khu vực đô thị đạt 91%. Tỷ lệ thu gom tại khu vực nông thôn còn thấp do hạ tầng giao thông không đảm bảo cho phương tiện tiếp cận vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, trên địa bàn đang triển khai xây dựng phương án thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt theo cơ cấu hành chính mới. Tại các khu vực chưa được tổ chức thu gom, người dân buộc phải tự xử lý bằng các phương pháp: đào hố chứa, đốt, hoặc vứt chất thải ven đường và xuống sông, kênh, rạch - gây tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường không khí, nước mặt, đất và nước ngầm. (ii) Khu vực xã Phong Nẫm: Do địa bàn có điều kiện giao thông không thuận lợi, không thể vận chuyển CTR về bãi rác tập trung, các cơ quan chức năng phối hợp hướng dẫn người dân tại các ấp tự thu gom và xử lý bằng biện pháp chôn lấp hoặc đốt theo quy định.
87
Tại các khu vực không tổ chức được thu gom, một bộ phận người dân tự xử lý rác bằng cách ủ phân hoặc đốt; một số hộ vứt rác xuống kênh, mương, gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước mặt trong khu vực.
3.3.2. Ô nhiễm nước biển ven đảo do nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế
biến thủy sản quy mô nhỏ a. Ô nhiễm nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế biến thủy sản quy mô nhỏ: Đối với nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nguồn thải phát sinh thường xuyên từ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người dân như tắm giặt, vệ sinh cá nhân, chế biến thực phẩm và vệ sinh hộ gia đình. Thành phần nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, dầu mỡ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh. Khi không được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải, các chất ô nhiễm hữu cơ dễ bị phân hủy yếm khí, phát sinh mùi hôi và làm gia tăng nồng độ BOD, COD trong nguồn tiếp nhận, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt khu vực ven biển, cửa sông và kênh rạch nội đồng. Trên địa bàn các xã đảo, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tương đối lớn do dân cư phân bố tập trung tại các khu dân cư ven sông, ven biển. Tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng 7.125,1 m³/ngày, cụ thể như sau: Bảng 3.8. Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại các xã đảo Ghi chú: Định mức phát sinh nước thải sinh hoạt nông thôn theo QCVN 01:2021/BXD: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn cấp nước ≥80 lít/ngày/người. Đối với nước thải nuôi trồng và chế biến thủy sản: Nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế chủ lực tại khu vực ven biển và các xã đảo. Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội của các địa phương, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của ba địa phương gồm xã An Thạnh, xã Phong Nẫm và xã Cù Lao Dung đạt khoảng 4.305 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm khoảng 3.275 ha, chiếm tỷ trọng chủ đạo; diện tích nuôi các loài thủy sản khác khoảng 1.030 ha.
| TT | Xã | Số dân (người) | Hệ số cấp nước 3 (m /ngày) | Nước thải 3 (m /ngày) |
| 1 | Xã An Thạnh | 37.711 | 0,08 | 3016,9 |
| 2 | Xã Cù Lao Dung | 44.937 | 0,08 | 3595,0 |
| 3 | Xã Phong Nẫm | 6.416 | 0,08 | 513,3 |
| Tổng | 89.064 | 7.125,1 | ||
88
Cụ thể, xã An Thạnh có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 714 ha, gồm 473 ha nuôi tôm và 241 ha nuôi các loài thủy sản khác. Xã Phong Nẫm có khoảng 189 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Trong khi đó, xã Cù Lao Dung có quy mô nuôi trồng lớn nhất với khoảng 3.402 ha, trong đó diện tích nuôi tôm đạt 2.802 ha (gồm 2.350 ha tôm thẻ chân trắng và 452 ha tôm sú), phần diện tích còn lại khoảng 600 ha nuôi các loài thủy sản khác. Cùng với sự phát triển nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, lượng nước thải phát sinh ngày càng lớn. Trong quá trình nuôi, lượng thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ, bùn đáy ao, hóa chất, chế phẩm sinh học và dư lượng kháng sinh có thể tích tụ trong môi trường nước. Khi xả thải trực tiếp ra sông, kênh rạch hoặc vùng ven biển mà không qua xử lý sẽ làm gia tăng tải lượng ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh trong nguồn nước tiếp nhận. Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015), Lưu lượng thải trung bình trên mỗi hecta sau mỗi vụ nuôi tôm khoảng 9.000 - 12.000 m³/ha. Với tổng diện tích nuôi tôm tại các xã đảo khoảng 3.275 ha, lượng nước thải phát sinh sau mỗi
3
vụ nuôi ước khoảng 29,5 – 39,3 triệu m
. Đây là nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường nước khu vực ven biển, đặc biệt trong điều kiện hệ thống xử lý nước thải tập trung chưa được đầu tư đồng bộ. b. Thực trạng thu gom, xử lý:
- Đối với nước thải sinh hoạt: Hiện nay, tại các xã đảo hầu như chưa được đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; ngoại trừ hệ thống xử lý nước thải tại chợ An Thạnh 3 với công suất khoảng 200 m³/ngày đêm. Phần lớn nước thải sinh hoạt từ hộ gia đình chỉ được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại trước khi xả ra môi trường. Do đó, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sau xử lý sơ bộ nhìn chung chưa bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh mới đạt khoảng 75,48%, cho thấy nguy cơ nước thải sinh hoạt và chất thải sinh hoạt chưa được quản lý triệt để vẫn còn tương đối lớn, gây ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt tại khu vực kênh rạch, sông và vùng cửa sông ven biển.
- Đối với nước thải nuôi trồng thủy sản: Nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản có lưu lượng xả thải lớn, đặc biệt vào thời điểm thay nước ao nuôi và cuối vụ nuôi. Hiện nay, phần lớn nước thải từ các ao nuôi, nhất là mô hình nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, vẫn được xả trực tiếp ra môi trường mà chưa qua xử lý đạt quy chuẩn. Thành phần ô nhiễm chủ yếu gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, Nitơ, Photpho, dư lượng thức ăn, hóa chất và vi sinh vật như Coliform. Việc xả thải kéo dài có thể làm gia tăng hiện tượng phú dưỡng hóa, suy giảm oxy hòa tan, phát sinh dịch bệnh thủy sản và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước vùng ven biển, cửa sông và hệ sinh thái thủy sinh khu vực.
89
3.3.3. Suy thoái hệ sinh thái ven đảo (rừng ngập mặn, bãi triều), suy giảm
nguồn lợi thủy sản Hệ sinh thái ven biển, bao gồm rừng ngập mặn và bãi triều tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ bờ biển, điều hòa môi trường nước, duy trì đa dạng sinh học và là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sản. Tuy nhiên, trong thời gian dài, hệ sinh thái này đang chịu tác động tổng hợp từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ biển và các hoạt động phát triển kinh tế ven biển, dẫn đến suy giảm chức năng sinh thái ở nhiều khu vực. Rừng ngập mặn – được xem là “lá chắn xanh” của vùng ven biển – có xu hướng bị thu hẹp và suy giảm chất lượng tại một số khu vực do tác động của xói lở bờ biển, triều cường, nước biển dâng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong các giai đoạn phát triển trước đây. Một số khu vực rừng trồng mới hoặc rừng phục hồi chưa đạt trạng thái ổn định sinh thái, làm giảm khả năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái như cố định bùn cát, giảm sóng và tạo sinh cảnh cho thủy sinh. Sự suy giảm và phân mảnh sinh cảnh rừng ngập mặn và bãi triều đã kéo theo suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ. Đây là các khu vực đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, là nơi ươm giống tự nhiên của nhiều loài tôm, cá, cua. Khi diện tích sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp hoặc suy thoái, khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản bị suy giảm, làm giảm trữ lượng và kích thước cá thể khai thác. Bên cạnh đó, áp lực khai thác thủy sản ven bờ kéo dài, ô nhiễm môi trường nước cửa sông – ven biển và biến đổi khí hậu tiếp tục làm gia tăng mức độ suy giảm đa dạng sinh học. Một số nghiên cứu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng ghi nhận xu hướng dịch chuyển cơ cấu loài khai thác theo hướng giảm các loài có giá trị kinh tế cao và tăng các loài kích thước nhỏ, phản ánh sự suy giảm chất lượng nguồn lợi. Kết quả khảo sát xã hội học tại khu vực ven biển cho thấy phần lớn ý kiến đánh giá nguồn lợi thủy sản có xu hướng suy giảm rõ rệt trong những năm gần đây (115/119 ý kiến, tương đương 96,6%), không ghi nhận xu hướng cải thiện đáng kể. Biểu đồ 3.27. Đánh giá của người dân về xu hướng thay đổi của nguồn lợi
thủy sản trong 05 năm qua 90
Nhìn chung, hệ sinh thái ven các xã đảo đang có dấu hiệu suy giảm chức năng sinh thái ở mức độ cục bộ, thể hiện qua suy giảm chất lượng sinh cảnh rừng ngập mặn, bãi triều và nguồn lợi thủy sản. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường bảo vệ, phục hồi và quản lý tổng hợp hệ sinh thái ven biển theo hướng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3.3.4. Xói lở bờ đảo, xâm nhập mặn, tác động của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng Khu vực các xã đảo trên địa bàn đang chịu tác động rõ rệt của tình trạng xói lở bờ biển, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong những năm gần đây, diễn biến xói lở có xu hướng gia tăng cả về phạm vi và mức độ, đặc biệt tại các đoạn bờ không được che chắn bởi rừng ngập mặn hoặc đã bị suy giảm thảm thực vật bảo vệ. Quá trình xói lở làm mất đất, thu hẹp diện tích sinh cảnh ven biển, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái bãi triều, rừng ngập mặn cũng như cơ sở hạ tầng và sinh kế của người dân khu vực đảo. Bên cạnh đó, xâm nhập mặn ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt vào mùa khô khi lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm. Nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng không chỉ làm thay đổi đặc tính môi trường nước mà còn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nguồn nước sinh hoạt. Hiện tượng này có xu hướng gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt động khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng được xác định là nguyên nhân nền tảng làm gia tăng các hiện tượng nêu trên. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam, mực nước biển có xu hướng dâng lên trong dài hạn, kết hợp với gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, triều cường, gây áp lực lớn lên hệ thống bờ biển và các khu vực đảo. Sự cộng hưởng của các yếu tố này không chỉ làm gia tăng nguy cơ xói lở và xâm nhập mặn mà còn đe dọa đến tính ổn định của hệ sinh thái khu vực xã đảo, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp thích ứng và quản lý tổng hợp vùng bờ.
3.3.5. Áp lực từ giao thông hàng hải, neo đậu tàu thuyền và hoạt động du lịch
Khu vực xã đảo đang chịu áp lực ngày càng gia tăng từ hoạt động giao thông hàng hải, neo đậu tàu thuyền và phát triển du lịch. Sự gia tăng mật độ tàu thuyền qua lại, đặc biệt tại các tuyến luồng chính và khu vực cửa sông, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường nước do rò rỉ nhiên liệu, dầu mỡ, chất thải sinh hoạt từ tàu nếu không được quản lý chặt chẽ. Hoạt động neo đậu tàu thuyền, nhất là tại các khu vực chưa được quy hoạch bến bãi hợp lý, có thể gây xáo trộn trầm tích đáy, làm tăng độ đục của nước và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái nhạy cảm như bãi triều và rừng ngập mặn.
91
Bên cạnh đó, sự phát triển của hoạt động du lịch ven biển, mặc dù mang lại lợi ích kinh tế, nhưng cũng tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường. Gia tăng lượng khách du lịch kéo theo phát sinh chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và nguy cơ ô nhiễm cục bộ nếu hệ thống thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Các hoạt động du lịch tự phát hoặc thiếu kiểm soát như đi lại bằng ca nô, tàu cao tốc, tham quan sinh thái… có thể làm suy giảm chất lượng môi trường nước, gây xáo trộn sinh cảnh và ảnh hưởng đến tập tính sinh sống của các loài sinh vật. Ngoài ra, việc phát triển hạ tầng phục vụ giao thông và du lịch (bến cảng, cầu tàu, khu dịch vụ) nếu không được quy hoạch và đánh giá tác động môi trường đầy đủ có thể làm thay đổi cảnh quan tự nhiên, gia tăng nguy cơ xói lở cục bộ và suy giảm chức năng của hệ sinh thái ven biển. Do đó, cần tăng cường công tác quản lý, quy hoạch hợp lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động liên quan nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường khu vực các xã đảo.
3.3.6. Đánh giá tổng hợp tác động của nguồn thải nội địa đến môi trường
nước biển ven bờ khu vực các xã đảo Để đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường tại khu vực các xã đảo gồm An Thạnh, Cù Lao Dung và Phong Nẫm, cần xem xét trong mối liên hệ giữa áp lực phát sinh nguồn thải nội địa với kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ tại các khu vực tiếp giáp trực tiếp như Cù Lao Dung, An Thạnh Nam và An Thạnh 3 đã trình bày tại mục 3.2. Việc đối chiếu các nguồn dữ liệu cho phép nhận diện một số đặc điểm và xu hướng môi trường nổi bật như sau: Thứ nhất, mặc dù khu vực các xã đảo phát sinh lượng nước thải sinh hoạt và nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tương đối lớn, các thông số hóa lý cơ bản như pH và DO tại khu vực nước biển ven bờ nhìn chung vẫn duy trì trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT. Điều này cho thấy khu vực cửa sông – ven biển chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy triều và dòng chảy từ các cửa sông lớn như Định An và Trần Đề, góp phần tăng cường quá trình pha loãng, xáo trộn và tự làm sạch tự nhiên của môi trường nước. Tuy nhiên, khả năng tự làm sạch này chỉ mang tính hỗ trợ tự nhiên và có thể suy giảm nếu tải lượng ô nhiễm tiếp tục gia tăng trong tương lai. Thứ hai, kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025 và đợt bổ sung năm 2026 cho thấy thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và sắt tổng (Fe) có xu hướng vượt giới hạn tại một số khu vực ven đảo. Diễn biến này có thể liên quan đồng thời đến các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Khu vực các xã đảo nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình bồi tụ phù sa từ hệ thống sông Mê Kông nên nền TSS tự nhiên tương đối cao. Đồng thời, tình trạng xói lở bờ biển, sạt lở bờ sông và quá trình rửa trôi đất ven bờ trong mùa mưa có thể làm gia tăng lượng vật chất lơ lửng và kim loại tự nhiên đi vào môi trường nước.
92
Thứ ba, mặc dù các chỉ tiêu vi sinh tại khu vực nước biển ven bờ nhìn chung chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng, áp lực từ rác thải nhựa phát sinh tại các xã đảo đang có xu hướng gia tăng. Do điều kiện thu gom và xử lý chất thải tại khu vực nông thôn ven biển còn hạn chế, một phần chất thải nhựa có nguy cơ thất thoát vào hệ thống sông rạch, sau đó di chuyển và tích tụ tại khu vực cửa sông, bãi triều và rừng ngập mặn. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn có thể gây tác động lâu dài đến hệ sinh thái ven biển và môi trường sống của các loài thủy sinh. Trên cơ sở tổng hợp hiện trạng phát sinh nguồn thải và kết quả quan trắc môi trường, có thể nhận định mức độ tác động của các nhóm nguồn thải đến môi trường nước biển ven bờ khu vực các xã đảo như sau: hoạt động nuôi trồng thủy sản được đánh giá là nguồn gây áp lực lớn nhất do phát sinh đồng thời nước thải, bùn thải và chất thải nhựa; hoạt động sinh hoạt khu vực ven biển có mức độ tác động trung bình, chủ yếu thông qua nước thải sinh hoạt và chất thải rắn; hoạt động nông nghiệp gây áp lực ở mức trung bình do phát sinh nguồn thải không điểm chứa dinh dưỡng và thuốc bảo vệ thực vật; trong khi các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hiện có mức độ tác động từ thấp đến trung bình do quy mô còn hạn chế và cơ bản đã thực hiện các biện pháp quản lý môi trường theo quy định. Nhìn chung, môi trường nước biển ven bờ khu vực các xã đảo hiện vẫn duy trì trạng thái tương đối ổn định đối với các chỉ tiêu hóa lý cơ bản. Tuy nhiên, áp lực tích lũy từ nguồn thải nội địa, đặc biệt là chất rắn lơ lửng, chất thải nhựa và các hoạt động kinh tế ven biển, đang tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với chất lượng môi trường nước trong dài hạn. Điều này cho thấy cần tăng cường kiểm soát nguồn thải từ đất liền, kết hợp với mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường nhằm theo dõi và quản lý kịp thời các biến động môi trường tại khu vực ven biển và hải đảo.
93
CHƯƠNG 4. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
4.1. CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BIỂN
Khu vực biển và ven biển thành phố Cần Thơ nằm ở hạ lưu hệ thống sông Mê Kông, là nơi giao thoa giữa môi trường nước ngọt từ hệ thống sông Hậu và nước mặn của Biển Đông. Dưới tác động tổng hợp của chế độ thủy triều, dòng chảy, quá trình vận chuyển và bồi tụ phù sa, khu vực này đã hình thành các hệ sinh thái đặc trưng gồm hệ sinh thái cửa sông, rừng ngập mặn, bãi triều, bãi bồi và vùng nước ven bờ. Các hệ sinh thái này có mối liên kết chặt chẽ về cấu trúc và chức năng, tạo thành một chỉnh thể sinh thái thống nhất, giữ vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững kinh tế biển. Các hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nơi cư trú, sinh sản và ươm dưỡng của nhiều loài thủy sinh, chim nước và các nhóm sinh vật đặc trưng vùng cửa sông mà còn cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu như bảo vệ bờ biển, giảm tác động của sóng và triều cường, giữ và bồi tụ phù sa, điều hòa chu trình vật chất, cải thiện chất lượng môi trường nước, hấp thụ và lưu trữ cacbon, góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, đây cũng là nền tảng tự nhiên quan trọng cho các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, giao thông đường thủy, du lịch sinh thái và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển. Các hệ sinh thái biển và ven biển của thành phố Cần Thơ có sự khác biệt về đặc điểm tự nhiên, cấu trúc quần xã sinh vật và chức năng sinh thái, đồng thời chịu tác động của các quá trình tự nhiên và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển. Vì vậy, việc đánh giá đặc điểm phân bố, cấu trúc, giá trị sinh thái và hiện trạng của từng hệ sinh thái là cơ sở quan trọng để nhận diện các giá trị cần bảo tồn, các sức ép môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường biển và ven biển.
4.1.1. Hệ sinh thái cửa sông
Hệ sinh thái cửa sông là hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển thành phố Cần Thơ, hình thành tại khu vực chuyển tiếp giữa nước ngọt từ hệ thống sông Hậu, sông Mỹ Thanh với nước mặn của Biển Đông. Trên địa bàn thành phố, hệ sinh thái này phân bố chủ yếu tại cửa Định An, cửa Trần Đề và cửa Mỹ Thanh, chịu ảnh hưởng đồng thời của dòng chảy từ lưu vực sông Mê Kông và chế độ bán nhật triều không đều của Biển Đông. Đây là vùng chuyển tiếp có tính động lực cao, nơi diễn ra thường xuyên quá trình pha trộn giữa nước ngọt và nước mặn, vận chuyển phù sa, trao đổi vật chất và năng lượng giữa lục địa với biển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các sinh cảnh có năng suất sinh học cao.
94
Hnh 4.1. Cửa sông Mỹ Thanh và Trần Đề
Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái cửa sông là sự biến động theo mùa của chế độ thủy văn và quá trình bồi tụ – xói lở. Vào mùa mưa, lưu lượng nước từ thượng nguồn tăng mạnh làm giảm độ mặn và tăng lượng phù sa đưa ra biển; trong khi mùa khô chịu ảnh hưởng rõ hơn của thủy triều và xâm nhập mặn. Sự tương tác giữa dòng chảy sông và thủy triều tạo nên các bãi triều, bãi bồi giàu phù sa và chất hữu cơ, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của các quần xã sinh vật vùng cửa sông. Nguồn dinh dưỡng dồi dào cùng điều kiện thủy văn đặc thù đã tạo nên năng suất sinh học cao cho hệ sinh thái cửa sông. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên và cộng sự (2020) ghi nhận 221 loài thực vật nổi thuộc 5 ngành, 15 lớp, 48 bộ, 59 họ và 88 giống tại vùng cửa sông Hậu thuộc Sóc Trăng (trước sáp nhập), trong đó ngành tảo khuê có thành phần loài đa dạng hơn các ngành tảo khác. Cấu trúc quần xã thực vật nổi có sự biến động theo mùa, chịu ảnh hưởng của độ mặn, chế độ dòng chảy và điều kiện thủy triều, phản ánh tính năng động của môi trường cửa sông và khả năng thích nghi của sinh vật trước các biến động tự nhiên. Thực vật nổi đóng vai trò là sinh vật sản xuất sơ cấp, cung cấp nguồn thức ăn cho động vật phù du và các bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông. Bên cạnh đó, khu vực cửa sông và vùng biển ven bờ còn là nơi phân bố của nhiều loài cá, tôm, cua và nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Hệ sinh thái cửa sông đồng thời là nơi sinh sản, ươm dưỡng và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh trong các giai đoạn phát triển khác nhau của vòng đời, góp phần duy trì và bổ sung nguồn lợi thủy sản cho vùng biển Tây Nam Bộ. Hoạt động khai thác thủy sản của địa phương cũng tập trung chủ yếu tại khu vực cửa sông và vùng nước ven bờ, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của hệ sinh thái này đối với sinh kế của cộng đồng ven biển. Ngoài giá trị về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái cửa sông còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng như điều hòa dòng chảy, vận chuyển và lưu giữ phù sa, trao đổi vật chất giữa lục địa và biển, góp phần hình thành bãi bồi ven biển và duy trì sự phát triển của các hệ sinh thái liền kề như rừng ngập mặn, bãi triều và vùng nước ven bờ. Các quá trình sinh địa hóa diễn ra tại khu vực cửa sông còn góp phần hấp thu, chuyển hóa và phân hủy một phần chất hữu cơ, chất dinh dưỡng từ lưu vực trước khi lan truyền ra vùng biển, qua đó hỗ trợ duy trì chất lượng môi trường nước và cân bằng sinh thái.
95
4.1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là hợp phần quan trọng nhất của hệ sinh thái biển và ven biển thành phố Cần Thơ, phân bố chủ yếu dọc theo tuyến bờ biển và khu vực cửa sông thuộc các phường Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, các xã Vĩnh Hải, Lai Hòa, Trần Đề và Cù Lao Dung. Đây là kiểu hệ sinh thái đặc trưng của vùng ven biển nhiệt đới, được hình thành trên nền đất bùn hoặc bùn pha cát, chịu ảnh hưởng thường xuyên của chế độ thủy triều và quá trình bồi tụ phù sa từ hệ thống sông Mê Kông. Điều kiện tự nhiên đặc thù đã tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các quần xã thực vật ngập mặn, đồng thời hình thành các sinh cảnh có năng suất sinh học cao và giữ vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng sinh thái vùng cửa sông – ven biển. Thảm thực vật rừng ngập mặn trên địa bàn thành phố có thành phần loài tương đối đa dạng, gồm các loài cây ngập mặn chính như đước đôi (Rhizophora apiculata), mắm trắng (Avicennia alba), bần chua (Sonneratia caseolaris), dà vôi (Ceriops decandra) cùng một số loài cây tham gia khác. Sự phân bố các loài thực vật ngập mặn có sự phân hóa theo điều kiện địa hình, chế độ ngập triều và độ mặn của môi trường. Tại các bãi bồi mới hình thành, loài tiên phong thường là mắm trắng với khả năng thích nghi cao trên nền bùn mềm và chịu ngập triều thường xuyên. Khi nền đất dần ổn định, các loài đước và bần phát triển ưu thế, hình thành các quần xã rừng ngập mặn có cấu trúc ổn định hơn. Quá trình diễn thế tự nhiên này góp phần mở rộng diện tích bãi bồi, gia tăng khả năng giữ phù sa và tạo điều kiện cho sự phát triển của các sinh cảnh ven biển. Hnh 4.2. Khu sinh thái rừng ngập mặn xã Cù Lao Dung (địa phận An
Thạnh Nam cũ)
Trong giai đoạn 2021 – 2025, diện tích rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển trên địa bàn nhìn chung được duy trì tương đối ổn định, mặc dù có biến động giữa các năm. Năm 2021, diện tích rừng ngập mặn đạt 5.936,46 ha; năm 2022 tăng lên 5.963,84 ha nhờ triển khai các chương trình trồng mới và phục hồi rừng. Giai đoạn 2023 – 2024 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ, còn 5.944,49 ha và 5.935,05 ha, chủ yếu do tác động của sạt lở bờ biển, triều cường, thời tiết cực đoan và suy giảm cục bộ tại một số khu vực rừng phòng hộ. Đến năm 2025, diện tích rừng
96
phòng hộ chắn sóng, lấn biển được công bố đạt 6.810,13 ha. Sự gia tăng này chủ yếu phản ánh việc cập nhật phạm vi thống kê và phân loại hiện trạng rừng theo kết quả kiểm kê mới, do đó không hoàn toàn tương đồng với chuỗi số liệu diện tích rừng ngập mặn các năm trước (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng, 2021 – 2024; Chi cục Kiểm lâm thành phố Cần Thơ, 2025).
Bảng 4.1. Diễn biến diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 2021 – 2025 Ghi chú: Năm 2025 sử dụng số liệu diện tích rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển theo công bố hiện trạng rừng của thành phố Cần Thơ; số liệu không hoàn toàn tương đồng với chỉ tiêu rừng ngập mặn các năm trước. Rừng ngập mặn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng đối với vùng biển và ven biển thành phố. Hệ thống rễ chống của cây đước và rễ thở của cây mắm có tác dụng làm giảm năng lượng sóng, giữ lại phù sa, ổn định nền đáy và hạn chế xói lở bờ biển. Đồng thời, rừng ngập mặn là nơi cư trú, sinh sản, ươm dưỡng và kiếm ăn của nhiều loài cá, tôm, cua, nhuyễn thể, chim nước và các nhóm động vật đáy, góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng như tính đa dạng sinh học của vùng cửa sông và ven biển. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các khu vực có rừng ngập mặn phát triển thường có mật độ và sinh khối động vật đáy, giáp xác và cá con cao hơn đáng kể so với các khu vực không có rừng ngập mặn, khẳng định vai trò của hệ sinh thái này như một "vườn ươm tự nhiên" đối với nhiều loài thủy sinh có giá trị kinh tế. Bên cạnh vai trò bảo vệ bờ biển và duy trì đa dạng sinh học, rừng ngập mặn còn là một trong những hệ sinh thái có khả năng hấp thụ và lưu trữ cacbon hiệu quả nhất trong các hệ sinh thái ven biển. Sinh khối cây rừng cùng lớp trầm tích giàu chất hữu cơ dưới tán rừng góp phần lưu giữ lượng lớn cacbon trong thời gian dài, qua đó giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, rừng ngập mặn còn tham gia điều hòa chu trình dinh dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và du lịch sinh thái theo hướng bền vững.
| Năm | Diện tích (ha) | Tăng/giảm so với năm trước (ha) |
| 2021 | 5.936,46 | |
| 2022 | 5.963,84 | +27,38 |
| 2023 | 5.944,49 | -19,35 |
| 2024 | 5.935,05 | -9,44 |
| 2025 | 6.810,13 | +875,08 |
97
Nhìn chung, trong giai đoạn 2021 – 2025, hệ sinh thái rừng ngập mặn của thành phố Cần Thơ vẫn duy trì được vai trò là tuyến phòng hộ tự nhiên quan trọng và là sinh cảnh có giá trị cao về đa dạng sinh học. Công tác trồng mới, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng đã góp phần duy trì diện tích và từng bước nâng cao khả năng phòng hộ của rừng ven biển. Tuy nhiên, chất lượng rừng giữa các khu vực vẫn chưa đồng đều; một số diện tích là rừng trồng hoặc rừng đang trong giai đoạn phục hồi nên cấu trúc quần xã và chức năng sinh thái chưa đạt như rừng tự nhiên trưởng thành. Ngoài ra, sạt lở bờ biển, nước biển dâng, thay đổi chế độ bồi tụ phù sa và áp lực từ các hoạt động phát triển kinh tế ven biển vẫn là những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường bảo vệ rừng hiện có, phục hồi các khu vực rừng bị suy thoái, kết hợp với quản lý tổng hợp vùng bờ nhằm duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của vùng ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu.
4.1.3. Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi
Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi phân bố dọc theo vùng cửa sông và ven biển thành phố Cần Thơ, tập trung tại khu vực cửa Định An, cửa Trần Đề, cửa Mỹ Thanh và dọc bờ biển thuộc các phường Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, các xã Lai Hòa và Cù Lao Dung. Đây là các sinh cảnh được hình thành dưới tác động tổng hợp của dòng chảy từ hệ thống sông Mê Kông, chế độ thủy triều Biển Đông và quá trình bồi lắng trầm tích ven biển. Sự lắng đọng liên tục của phù sa đã tạo nên các bãi bùn và bãi cát ngập triều có diện tích biến động theo mùa và theo diễn biến bồi tụ – xói lở, đồng thời là nền tảng cho quá trình hình thành và mở rộng rừng ngập mặn ven biển. Bãi triều là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, luân phiên ngập và phơi bãi theo chu kỳ ngày đêm. Điều kiện môi trường đặc thù với nền đáy giàu bùn, chất hữu cơ và dinh dưỡng tạo môi trường sống thuận lợi cho nhiều nhóm sinh vật đáy như giun nhiều tơ (Polychaeta), thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), thân mềm chân bụng (Gastropoda) và giáp xác. Các bãi triều còn là nơi kiếm ăn của nhiều loài chim nước và chim di cư, đồng thời là khu vực sinh sản, ươm dưỡng tự nhiên của nhiều loài cá, tôm, cua và nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Mối liên kết sinh thái giữa bãi triều với rừng ngập mặn và vùng nước ven bờ tạo nên chuỗi sinh cảnh liên hoàn, góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản tự nhiên và tính đa dạng sinh học của vùng cửa sông – ven biển. Sự hiện diện của các quần xã động vật đáy với mật độ cao cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy chất hữu cơ, tái tuần hoàn dinh dưỡng và duy trì cân bằng sinh thái của môi trường đáy.
98
Bãi bồi ven biển được hình thành từ quá trình bồi lắng phù sa do hệ thống sông Hậu và sông Mỹ Thanh mang ra biển. Đây là dạng địa hình có tính động cao, thường xuyên biến đổi dưới tác động của dòng chảy, sóng và thủy triều. Kết quả nghiên cứu về diễn biến địa hình vùng cửa sông cho thấy quá trình bồi tụ và xói lở diễn ra đồng thời, làm thay đổi hình thái đường bờ và phạm vi các bãi bồi theo không gian và thời gian. Các bãi bồi mới hình thành không chỉ góp phần mở rộng quỹ đất tự nhiên mà còn tạo điều kiện cho các loài thực vật tiên phong như mắm trắng (Avicennia alba) phát triển, tạo tiền đề cho quá trình diễn thế hình thành rừng ngập mặn. Ngoài vai trò tạo lập sinh cảnh, bãi triều và bãi bồi còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng như giữ lại trầm tích và chất dinh dưỡng, giảm năng lượng sóng trước khi tác động vào bờ, góp phần ổn định đường bờ và hạn chế xói lở. Các sinh cảnh này còn tham gia điều hòa chu trình vật chất, hỗ trợ quá trình tự làm sạch môi trường nước và duy trì nguồn thức ăn cho nhiều nhóm sinh vật ở các bậc dinh dưỡng khác nhau. Đồng thời, đây cũng là khu vực có giá trị đối với khai thác thủy sản ven bờ, thu hái nhuyễn thể và phát triển các mô hình sinh kế gắn với hệ sinh thái tự nhiên của cộng đồng ven biển.
4.1.4. Hệ sinh thái vùng nước ven bờ
Hệ sinh thái vùng nước ven bờ của thành phố Cần Thơ phân bố dọc theo khu vực biển ven bờ từ cửa Định An đến cửa Mỹ Thanh, chịu ảnh hưởng đồng thời của nguồn nước ngọt từ hệ thống sông Hậu, sông Mỹ Thanh và nước mặn từ Biển Đông. Đây là vùng chuyển tiếp giữa hệ sinh thái cửa sông và vùng biển khơi, có sự biến động theo mùa về độ mặn, nhiệt độ, hàm lượng chất dinh dưỡng và chế độ thủy động lực. Quá trình trao đổi nước thường xuyên dưới tác động của dòng chảy và thủy triều tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quần xã sinh vật phù du, sinh vật đáy và nguồn lợi thủy sản ven bờ, hình thành một trong những hệ sinh thái có năng suất sinh học cao của vùng biển Tây Nam Bộ. Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái vùng nước ven bờ là sự phong phú về nguồn dinh dưỡng do chịu ảnh hưởng của lượng phù sa và vật chất hữu cơ từ hệ thống sông Mê Kông. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quần xã thực vật phù du, đóng vai trò là sinh vật sản xuất sơ cấp trong chuỗi thức ăn biển. Kết quả nghiên cứu tại vùng biển ven bờ Sóc Trăng cho thấy thành phần thực vật nổi và động vật phù du tương đối đa dạng, trong đó nhóm tảo silic (Bacillariophyta) và giáp xác chân chèo (Copepoda) chiếm ưu thế. Cấu trúc quần xã có sự biến động theo mùa và chịu ảnh hưởng rõ rệt của độ mặn, nhiệt độ, hàm lượng chất dinh dưỡng và chế độ thủy văn. Sự phát triển của các nhóm sinh vật phù du tạo nguồn thức ăn quan trọng cho cá, giáp xác, nhuyễn thể và các bậc dinh dưỡng cao hơn trong hệ sinh thái biển.
99
Bên cạnh đó, vùng nước ven bờ là nơi phân bố của nhiều loài cá, tôm, cua, mực và nhuyễn thể có giá trị kinh tế, đồng thời là khu vực di cư, kiếm ăn và sinh trưởng của nhiều loài thủy sản trong các giai đoạn khác nhau của vòng đời. Kết quả khảo sát khu hệ cá vùng biển ven bờ Sóc Trăng – Bạc Liêu (trước sáp nhập) ghi nhận thành phần loài phong phú với nhiều loài thuộc các họ cá lượng (Leiognathidae), cá đù (Sciaenidae), cá trích (Clupeidae), cá úc (Ariidae) và nhiều nhóm cá biển khác có giá trị khai thác (Hà Phước Hùng và cs., 2022). Nguồn lợi thủy sản phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề khai thác hải sản ven bờ, góp phần quan trọng vào sinh kế của cộng đồng ngư dân địa phương. Ngoài giá trị về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái vùng nước ven bờ còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng như điều hòa chu trình vật chất, vận chuyển chất dinh dưỡng, duy trì cân bằng sinh địa hóa và hỗ trợ quá trình tự làm sạch của môi trường biển. Đồng thời, đây cũng là môi trường kết nối giữa các hệ sinh thái cửa sông, rừng ngập mặn, bãi triều và vùng biển xa bờ, tạo điều kiện cho sự trao đổi vật chất, năng lượng và sự di cư của nhiều loài sinh vật biển. Mối liên kết này góp phần duy trì tính ổn định và khả năng phục hồi của toàn bộ hệ sinh thái biển và ven biển thành phố.
4.2. THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
4.2.1. Thành phần loài
a. Nhóm cá (Pisces): Có khoảng 350 – 450 loài cá thuộc nhiều bộ, họ khác nhau được ghi nhận tại vùng biển thành phố Cần Thơ (thuộc khu vực tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập)), trong đó phần lớn thuộc lớp Cá xương (Osteichthyes). Thành phần loài cá phân bố theo gradient độ muối từ vùng cửa sông ra khơi, với các nhóm sinh thái chính sau: Cá vùng cửa sông và ven bờ (chiếm ~60% thành phần loài): Bao gồm các loài cá đặc trưng như cá đù (Johnius spp.), cá mòi (Clupanodon thrissa), cá chét (Silurus spp.), cá trác (Priacanthus spp.), cá chai (Platycephalus spp.), cá bơn (Psettodes erumei), cá đuối (Raja spp.). Nhóm này có mật độ cao nhất quanh vùng cửa ba sông lớn trong mùa mưa khi nước ngọt đẩy mạnh phù sa và chất dinh dưỡng ra vùng ven bờ. Cá vùng khơi (chiếm ~40%): Các loài cá nổi di cư như cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis), cá thu (Scomberomorus spp.), cá nục (Decapterus spp.), cá trích (Sardinella spp.), cá hố (Trichiurus lepturus), cá bạc má (Rastrelliger kanagurta) là những đối tượng khai thác quan trọng của nghề lưới vây và lưới kéo (Viện Nghiên cứu Hải sản, 2020).
100
Bảng 4.2. Danh mục các loài cá tiêu biểu
| STT | Tên Việt Nam | Tên khoa học | Họ | Sinh cảnh chính | Giá trị kinh tế | Tnh trạng bảo tồn |
| 1 | Cá đù đỏ | Sciaenops ocellatus | Sciaenidae | Cửa sông, ven bờ | Cao | LC (IUCN) |
| 2 | Cá mòi cờ hoa | Clupanodon thrissa | Clupeidae | Cửa sông | Cao | NT |
| 3 | Cá hố | Trichiurus lepturus | Trichiuridae | Ven bờ – khơi | Trung bình | LC |
| 4 | Cá thu chấm | Scomberomors guttatus | Scombridae | Khơi | Cao | NT |
| 5 | Cá nục sò | Decapterus maruadsi | Carangidae | Ven bờ – khơi | Cao | LC |
| 6 | Cá bạc má | Rastrelliger kanagurta | Scombridae | Khơi | Cao | LC |
| 7 | Cá ngát | Plotosus canius | Plotosidae | Cửa sông | Trung bình | LC |
| 8 | Cá chẽm | Lates calcarifer | Latidae | Cửa sông, lợ | Cao | LC |
| 9 | Cá đuối bồng | Himantura uarnak | Dasyatidae | Đáy ven bờ | Trung bình | VU (IUCN) |
| 10 | Cá mập đầu búa | Sphyrna lewini | Sphyrnidae | Khơi | Thấp/KT | EN (IUCN) |
| 11 | Cá chai | Platycephalus indicus | Platycephalida e | Đáy ven bờ | Trung bình | LC |
| 12 | Cá trác cam | Priacanthus hamrur | Priacanthidae | Ven bờ | Trung bình | LC |
Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản (2020); IUCN Red List (2023) Ghi chú: LC = Least Concern; NT = Near Threatened; VU = Vulnerable; EN = Endangered.
| Cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus) |
| Cá mòi cờ hoa (Clupanodon thrissa) |
| Cá nục sò (Decapterus maruadsi) |
| Cá chai (Platycephalus indicus) |
| Cá trác cam (Priacanthus hamrur) |
| Cá đuối bồng (Himantura uarnak) |
Hnh 4.3. Hình ảnh một số loài cá tiêu biểu
b. Nhóm giáp xác (Crustacea): Giáp xác là nhóm có giá trị kinh tế hàng đầu của vùng biển thuộc thành phố Cần Thơ. Đã ghi nhận khoảng 80 – 120 loài thuộc các bộ Mười chân (Decapoda), giáp xác chân chèo (Copepoda) và nhiều nhóm khác. Các đối tượng quan trọng bao gồm:
- Tôm sú (Penaeus monodon): Loài nuôi trồng và khai thác chủ lực, phân bố chủ yếu vùng ven bờ và cửa sông, nơi có độ muối 15–25‰.
- Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei): Loài nhập nội, hiện là đối tượng nuôi trồng chủ yếu, cũng xuất hiện ở vùng tự nhiên.
- Tôm đất (Metapenaeus ensis): Phổ biến vùng cửa sông và bãi triều, khai thác bằng nghề lú, đáy cạn.
- Tôm ch (Metapenaeus brevicornis): Loài tôm nhỏ, phổ biến ven bờ.
- Cua biển (Scylla serrata, S. tranquebarica, S. paramamosain): Ba loài cua biển quan trọng, phân bố trong rừng ngập mặn và vùng bãi triều, có giá trị kinh tế và xuất khẩu rất cao.
102
- Ghẹ xanh (Portunus pelagicus): Loài giáp xác bơi lội tự do, phân bố rộng từ ven bờ đến khơi.
Bảng 4.3. Danh mục loài giáp xác tiêu biểu
| STT | Tên Việt Nam | Tên khoa học | Sinh cảnh | Giá trị KT | Tnh trạng |
| 1 | Tôm sú | Penaeus monodon | Ven bờ, cửa sông | Rất cao | NT (IUCN) |
| 2 | Tôm thẻ chân trắng | Litopenaeus vannamei | Ven bờ (nuôi) | Rất cao | NT |
| 3 | Tôm đất | Metapenaeus ensis | Cửa sông, bãi triều | Cao | LC |
| 4 | Tôm chì | Metapenaeus brevicornis | Ven bờ | Trung bình | LC |
| 5 | Cua biển | Scylla serrata | RNM, bãi triều | Rất cao | LC |
| 6 | Ghẹ xanh | Portunus pelagicus | Ven bờ – khơi | Cao | LC |
| 7 | Tôm tít | Harpiosquilla harpax | Đáy bùn ven bờ | Trung bình | LC |
| 8 | Tôm vỗ | Metapenaeopsis palmensis | Đáy ven bờ | Thấp | LC |
Nguồn: Bộ NN&PTNT (2021); Viện Nghiên cứu Hải sản (2020)
| Tôm sú (Penaeus monodon) |
| Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) |
| Tôm đất (Metapenaeus ensis) |
| Tôm tít (Harpiosquilla harpax) |
| Tôm vỗ (Metapenaeopsis palmensis) |
| Tôm chì (Metapenaeus brevicornis) |
| Cua biển (Scylla serrata) |
| Ghẹ xanh (Portunus pelagicus) |
Hnh 4.4. Hnh ảnh một số loài giáp xác tiêu biểu
c. Nhóm nhuyễn thể (Mollusca): Nhóm nhuyễn thể tại vùng biển thuộc thành phố Cần Thơ ghi nhận khoảng 150 – 200 loài, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế và sinh thái cao. Đặc biệt, các bãi triều là nơi tập trung của các loài hai mảnh vỏ (Bivalvia) quan trọng:
- Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata): Loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có sản lượng khai thác lớn nhất khu vực ĐBSCL, phân bố trên các bãi cát – bùn ven biển thuộc khu vực tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) và các tỉnh lân cận. Đây là loài có giá trị xuất khẩu quan trọng, đặc biệt sang thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Sò huyết (Tegillarca granosa): Phổ biến trên các bãi triều lầy và vùng rừng ngập mặn.
- Hàu cửa sông (Crassostrea lugubris, C. rivularis): Gắn liền với các cấu trúc cứng ở vùng cửa sông và ven bờ.
- Điệp quạt (Chlamys nobilis): Phân bố vùng ven bờ có chất đáy cát sạch.
- Mực nang (Sepia spp.) và mực ống (Loligo spp.): Hai nhóm đầu túc (Cephalopoda) quan trọng về kinh tế.
104
Bảng 4.4. Danh mục loài nhuyễn thể tiêu biểu
| STT | Tên Việt Nam | Tên khoa học | Sinh cảnh | Giá trị KT | Tình trạng |
| 1 | Nghêu Bến Tre | Meretrix lyrata | Bãi triều cát – bùn | Rất cao | Chưa đánh giá đầy đủ |
| 2 | Sò huyết | Tegillarca granosa | Bãi triều lầy | Cao | NT (IUCN) |
| 3 | Hàu cửa sông | Crassostrea lugubris | Cửa sông | Cao | LC |
| 4 | Điệp quạt | Chlamys nobilis | Ven bờ, đáy cát | Trung bình | LC |
| 5 | Mực nang vân hổ | Sepia pharaonis | Ven bờ | Cao | LC |
| 6 | Mực ống trắng | Uroteuthis chinensis | Ven bờ – khơi | Cao | LC |
| 7 | Ốc hương | Babylonia areolata | Đáy cát ven bờ | Rất cao | LC |
| 8 | Bạch tuộc | Octopus vulgaris | Đáy cứng | Trung bình | LC |
Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản (2020); IUCN Red List (2023).
| Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) |
| Sò huyết (Tegillarca granosa) |
| Hào cửa sông (Crassostrea lugubri) |
| Điệp quạt (Chlamys nobilis) |
| Mực nang vân hổ (Sepia pharaonis) |
| Mực ống trắng (Uroteuthis chinensis) |
| Ốc hương (Babylonia areolata) |
| Bạch tuộc (Octopus vulgaris) |
Hnh 4.5. Một số loài nhuyển thể tiêu biểu
d. Thực vật thủy sinh (Thực vật phù du và Macroalgae): Thực vật phù du (phytoplankton) tại vùng biển thuộc thành phố Cần Thơ được ghi nhận với khoảng 150 – 200 loài thuộc các ngành tảo Silic (Bacillariophyta), tảo Hai roi (Dinoflagellata), tảo Lam (Cyanophyta) và tảo Lục (Chlorophyta). Trong đó, tảo Silic chiếm ưu thế về số lượng loài và sinh khối, đặc biệt vào đầu mùa khô và giai đoạn chuyển mùa khi nước biển trong hơn và ánh sáng dồi dào. Mật độ tế bào thực vật phù du dao động từ 10⁴ đến 10⁶ tế bào/lít ở vùng cửa sông giàu dinh dưỡng (Viện Hải dương học, 2018). Rong biển và cỏ biển: Vùng ven bờ ghi nhận một số loài cỏ biển (Halophila ovalis, Thalassia hemprichii) ở dạng thảm rải rác dưới chân triều thấp. Thảm cỏ biển tuy không tập trung thành quần xã lớn như ở Phú Quốc hay Côn Đảo nhưng vẫn có chức năng sinh thái quan trọng là nơi ươm dưỡng của các loài giáp xác nhỏ và cá con.
Hnh 4.6. Rong biển và cỏ biển 106
4.2.2. Phân loại theo giá trị bảo tồn và kinh tế
a. Loài có giá trị kinh tế cao: Theo thống kê của ngành thủy sản tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập), khoảng 50 – 70 loài trong tổng số thành phần loài ghi nhận được là đối tượng khai thác và nuôi trồng có giá trị kinh tế cao, bao gồm: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển, ghẹ xanh, nghêu, sò huyết, ốc hương, mực ống, mực nang, cá thu, cá nục, cá bạc má, cá chẽm và cá mòi (Sở NN&PTNT Sóc Trăng, 2022). b. Loài quý hiếm, nguy cấp: Kết quả tổng hợp từ các nguồn tài liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu bảo tồn quốc gia và quốc tế, các công trình nghiên cứu khoa học và kết quả khảo sát tại khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy vùng biển thành phố Cần Thơ là nơi phân bố hoặc có khả năng xuất hiện của nhiều loài thủy sinh quý, hiếm có giá trị bảo tồn cao. Các loài này thuộc nhiều nhóm phân loại khác nhau như rùa biển, cá xương, cá sụn, giáp xác cổ đại và thú biển; trong đó có nhiều loài được xếp hạng nguy cấp, cực kỳ nguy cấp trong Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Sách Đỏ Việt Nam, đồng thời được bảo vệ theo Công ước CITES và các quy định của pháp luật Việt Nam. Sự hiện diện của các loài quý, hiếm phản ánh giá trị đa dạng sinh học và vai trò sinh thái quan trọng của hệ sinh thái biển, ven biển và cửa sông trong khu vực. Danh mục các loài thủy sinh quý, hiếm được tổng hợp tại bảng bên dưới. Bảng 4.5. Loài quý hiếm, nguy cấp ghi nhận tại vùng biển Cần Thơ và vùng
lân cận 107
| STT | Tên phổ thông | Tên khoa học | Nhóm phân loại | Tình trạng bảo tồn | Căn cứ bảo vệ | Sinh cảnh, phân bố |
| 1 | Vích (Rùa xanh biển) | Chelonia mydas | Rùa biển | EN (IUCN); EN (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | CITES Phụ lục I; NĐ 37/2024/NĐ- CP; NĐ 64/2019/NĐ- CP | Vùng biển ven bờ, cửa sông, bãi cát ven biển; ghi nhận 03 cá thể tại cửa biển Trần Đề năm 2023. |
| 2 | Đồi mồi | Eretmochelys imbricata | Rùa biển | CR (IUCN); CR (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | CITES Phụ lục I; NĐ 37/2024/NĐ- CP; NĐ 64/2019/NĐ- CP | Phân bố vùng biển phía Nam Việt Nam; kiếm ăn tại vùng ven biển ĐBSCL. |
| 3 | Đồi mồi dứa | Lepidochelys olivacea | Rùa biển | VU (IUCN); EN (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | CITES Phụ lục I; NĐ 37/2024/NĐ- CP; NĐ 64/2019/NĐ- CP | Vùng biển ven bờ và vùng nước mở nhiệt đới; phân bố xác lập tại vùng biển Nam Bộ. |
| STT | Tên phổ thông | Tên khoa học | Nhóm phân loại | Tình trạng bảo tồn | Căn cứ bảo vệ | Sinh cảnh, phân bố |
| 4 | Cá ngựa đen | Hippocampus kuda | Cá xương | VU (IUCN); EN (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | CITES Phụ lục II; NĐ 26/2019/NĐ- CP | Cửa sông, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển; sinh cảnh phù hợp tại Cù Lao Dung và Long Phú. |
| 5 | Cá ngựa gai | Hippocampus spinosissimus | Cá xương | VU (IUCN); VU (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | CITES Phụ lục II; NĐ 26/2019/NĐ- CP | Vùng biển ven bờ, đáy bùn cát, thảm cỏ biển; phân bố rộng tại vùng biển Nam Bộ. |
| 6 | Cá mập đầu búa hình vỏ sò | Sphyrna lewini | Cá sụn | CR (IUCN) | CITES Phụ lục II; Nhóm I - NĐ 26/2019/NĐ- CP | Phân bố tại vùng biển nhiệt đới Đông Nam Á; có khả năng xuất hiện tại vùng biển Nam Bộ. |
| 7 | Cá đuối nạng (nhóm Mobula spp.) | Mobula spp. | Cá sụn | VU - EN (IUCN) | CITES Phụ lục II; Nhóm I - NĐ 26/2019/NĐ- CP | Vùng biển mở và ven bờ nhiệt đới; phân bố tại vùng biển phía Nam Việt Nam. |
| 8 | Sam ba gai | Tachypleus tridentatus | Giáp xác cổ đại | VU (IUCN); EN (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | Sách Đỏ Việt Nam 2007 | Bãi triều bùn cát, cửa sông nước lợ - mặn; sinh cảnh phù hợp tại khu vực ven biển Cần Thơ |
| 9 | Sam đuôi tròn (So biển) | Carcinoscorpius rotundicauda | Giáp xác cổ đại | DD (IUCN); EN (Sách Đỏ Việt Nam 2007) | Sách Đỏ Việt Nam 2007 | Bãi triều bùn mềm, rừng ngập mặn, cửa sông; phân bố tại vùng ven biển Việt Nam. |
| 10 | Cá heo lưng gù Ấn Độ - Thái Bình Dương | Sousa chinensis | Thú biển | VU (IUCN) | Sách Đỏ Việt Nam 2007; NĐ 26/2019/NĐ- CP | Vùng cửa sông lớn, vùng biển ven bờ nông; sinh cảnh phù hợp tại khu vực cửa Định An và Mỹ Thanh. |
Nguồn: Tổng hợp từ Danh lục Đỏ IUCN, Sách Đỏ Vi ệt Nam (2007), Công ước CITES, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP, Nghị định số 37/2024/NĐ-CP và các kết quả nghiên cứu, khảo sát về đa dạng sinh học vùng biển Sóc Trăng và Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2018–2025.
108
Dưới đây là hình ảnh về một số loài quý hiếm, nguy cấp:
| Rùa xanh (Chelonia mydas) |
| Đồi mồi (Eretmochelys imbricata) |
| Đồi mồi dứa (Lepidochelys olivacea) |
| Cá ngựa đen (Hippocampus kuda) |
| Cá ngựa gai (Hippocampus spinosissimus) |
| Cá mập đầu búa hình vỏ sò (Sphyrna lewini) |
| Sam ba gai (Tachypleus tridentatus) |
| So biển (Carcinoscorpius rotundicauda) |
| Cá heo bứu (Sousa chinensis) |
4.2.3. Vùng phân bố
Vùng cửa sông (0 – 3 km từ bờ): Đây là vùng có tính biến động cao nhất về độ muối, nhiệt độ, độ đục và lưu tốc dòng chảy. Thành phần loài ít đa dạng hơn nhưng mật độ cá thể của một số loài thích nghi đặc biệt rất cao. Các loài ưu thế bao gồm cá ngát (Plotosus canius), cá chẽm (Lates calcarifer), cá thát lát (Notopterus notopterus) ở tầng nước ngọt – lợ; tôm đất, tôm chì và ghẹ xanh con ở bãi nền. Đây là vùng bãi đẻ quan trọng của nhiều loài tôm biển và là vùng ươm dưỡng ấu trùng của tôm sú tự nhiên (Viện Nghiên cứu Hải sản, 2019). Vùng ven bờ (3 – 20 hải lý): Vùng này có chất đáy biển chủ yếu là bùn mềm đến bùn cát, thích hợp cho các loài đáy như cá đù, cá bơn, tôm tít, nghêu, sò. Tầng nước giữa là nơi tập trung của các đàn cá nổi nhỏ (cá trích, cá nục, cá bạc má). Độ sâu phổ biến 5–30 m. Năng suất khai thác cao nhất tập trung tại vùng này, chiếm khoảng 60–70% tổng sản lượng khai thác biển của tỉnh (Sở NN&PTNT Sóc Trăng, 2022).
110
Vùng xa bờ (>20 hải lý): Độ sâu từ 30 – 100 m, chất đáy cát bùn đến cát. Đây là vùng phân bố của các loài cá nổi lớn di cư (cá thu, cá ngừ, cá cờ) và một số loài giáp xác xa bờ. Các tàu có công suất lớn hoạt động nghề lưới vây, câu cá ngừ tại vùng này (Bộ NN&PTNT, 2022). Ngoài ra, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản (2019, 2020) xác định có một số khu vực bãi đẻ và bãi giống quan trọng:
- Cửa Trần Đề – Định An: Bãi giống và bãi đẻ của tôm sú, ghẹ xanh, cua biển và một số loài cá đáy
- Bãi triều Vĩnh Châu: Bãi giống nghêu, bãi ươm của ấu trùng giáp xác nhỏ.
- Vùng nước ven biển Cù Lao Dung: Khu vực ươm dưỡng ấu trùng cá và tôm, có rừng ngập mặn che phủ Mùa sinh sản của các loài chính: Tôm sú sinh sản từ tháng 3 – tháng 7, ấu trùng tập trung cao nhất ở vùng cửa sông vào tháng 4 – 6. Cá chẽm sinh sản vào đầu mùa mưa (tháng 5 – 6). Nghêu đẻ rải rác quanh năm, cao điểm vào mùa khô. Cua biển sinh sản chủ yếu từ tháng 7 – tháng 10 (Nguyễn Văn Hảo, 2005; Viện Nghiên cứu Hải sản, 2019).
4.3. HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI THỦY HẢI SẢN
Vùng biển thành phố Cần Thơ là khu vực chuyển tiếp giữa môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều hệ sinh thái thủy sinh và nguồn lợi thủy hải sản phong phú. Kết quả điều tra cho thấy khu vực biển và ven biển có khoảng 661 loài cá, 35 loài tôm, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm hùm, tôm rồng; 23 loài mực thuộc các nhóm mực nang, mực ống và mực sim, cùng nhiều loài cua, ghẹ và động vật thân mềm khác. Nguồn lợi thủy sản phong phú đã tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế biển, đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ngư dân ven biển và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Thủy sản tiếp tục là một trong những ngành kinh tế quan trọng của thành phố, trong đó khai thác thủy sản biển giữ vai trò chủ đạo. Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 được trình bày tại bảng bên dưới. Bảng 4.6. Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022); Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025)
| Năm | Khai thác biển (tấn) | Khai thác nội địa (tấn) |
| 2021 | 63.161 | 5.221 |
| 2022 | 56.407 | 5.466 |
| 2023 | 59.815 | 12.253 |
| 2024 | 56.315,8 | 11.952,1 |
| 2025 | 60.000 |
111
Trong giai đoạn 2021 – 2025, sản lượng khai thác biển duy trì ở mức tương đối cao, dao động từ khoảng 56.000 – 63.000 tấn/năm. Tuy nhiên, xét theo xu hướng dài hạn, sản lượng khai thác biển có dấu hiệu giảm so với đầu giai đoạn. Năm 2021, sản lượng khai thác biển đạt 63.161 tấn; đến năm 2024 giảm còn 56.315,8 tấn, tương ứng giảm khoảng 10,8%. Mặc dù sản lượng năm 2025 được ước đạt khoảng 60.000 tấn, nhưng mức phục hồi chưa đáng kể so với giai đoạn trước. Xu hướng suy giảm sản lượng khai thác biển phản ánh những biến động của nguồn lợi thủy sản tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Cường lực khai thác duy trì ở mức cao trong thời gian dài, đặc biệt tại các vùng biển ven bờ, đã làm gia tăng áp lực lên các quần đàn thủy sản có giá trị kinh tế. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng, thay đổi chế độ thủy văn cửa sông, suy giảm chất lượng môi trường sống và sự biến động của nguồn thức ăn tự nhiên cũng ảnh hưởng đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản. Đối với khai thác thủy sản nội địa, sản lượng có xu hướng tăng trong giai đoạn gần đây. Từ mức 5.221 tấn năm 2021, sản lượng khai thác nội địa tăng lên trên 12.000 tấn vào các năm 2023 – 2024. Kết quả này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của các hệ sinh thái sông, kênh, rạch và vùng ngập nước trong việc cung cấp nguồn lợi thủy sản phục vụ nhu cầu sinh kế của người dân. Tuy nhiên, sự gia tăng sản lượng khai thác nội địa cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, bảo vệ các thủy vực tự nhiên nhằm bảo đảm khai thác bền vững và duy trì khả năng phục hồi của nguồn lợi thủy sản. Trước những áp lực ngày càng gia tăng đối với nguồn lợi thủy sản tự nhiên, địa phương đã triển khai nhiều hoạt động tái tạo và phục hồi nguồn lợi thủy sản. Trong giai đoạn 2021 – 2025, toàn vùng đã thực hiện thả trên 12 triệu con tôm sú giống và khoảng 500 nghìn con cua giống ra môi trường biển, đồng thời bổ sung nhiều loài cá bản địa vào các thủy vực nội đồng nhằm phục hồi quần đàn thủy sinh tự nhiên. Riêng năm 2023, địa phương đã tổ chức 04 đợt thả giống với tổng số trên 4,5 triệu con giống các loại; năm 2024 tiếp tục thả hơn 2 triệu con tôm sú giống ra vùng biển ven bờ. (Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022); Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025)). Song song với hoạt động tái tạo nguồn lợi, công tác bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và quản lý nguồn lợi thủy sản tiếp tục được triển khai thông qua các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng. Tại khu vực ven biển, địa phương duy trì hoạt động của Ban đại diện 05 Nhóm Đồng quản lý nghề cá ven bờ tại các địa bàn Trần Đề, Cù Lao Dung và Vĩnh Châu. Các nhóm đồng quản lý thường xuyên phối hợp với cơ quan chuyên môn trong việc theo dõi tình hình khai thác, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, giám sát hoạt động khai thác thủy sản và tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các vùng biển ven bờ. Việc duy trì mô hình đồng quản lý đã góp phần tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn nguồn lợi thủy sản, đồng thời hỗ trợ giảm thiểu các hoạt động khai thác có nguy cơ gây suy giảm nguồn lợi và tác động đến hệ sinh thái biển.
112
Tuy nhiên, công tác khoanh vùng bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh hiện còn có sự khác biệt giữa khu vực ven biển và khu vực nội địa. Trong khi mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ đã được duy trì và phát huy hiệu quả tại nhiều địa phương ven biển, việc triển khai xây dựng các khu bảo tồn vùng nước nội địa vẫn gặp nhiều khó khăn và chưa thể thực hiện theo kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự chồng lấn giữa các quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, gây khó khăn trong việc xác định phạm vi bảo vệ, cơ chế quản lý và bố trí nguồn lực đầu tư. Điều này cho thấy công tác bảo tồn hệ sinh thái thủy sinh nội địa vẫn còn nhiều hạn chế và cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới. Nhìn chung, nguồn lợi thủy hải sản của thành phố Cần Thơ vẫn duy trì được tính đa dạng sinh học tương đối cao và tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế biển cũng như sinh kế của cộng đồng ven biển. Tuy nhiên, xu hướng giảm sản lượng khai thác biển trong giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường sống, cường lực khai thác và các yếu tố kinh tế - xã hội. Mặc dù địa phương đã triển khai nhiều hoạt động tái tạo nguồn lợi và phát huy hiệu quả mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ, vẫn cần tiếp tục tăng cường công tác điều tra, quan trắc, bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm khai thác và sử dụng bền vững trong thời gian tới.
4.4. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC
4.4.1. Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng biển, ven biển thành phố Cần Thơ. Sự gia tăng nhiệt độ nước biển, thay đổi chế độ mưa, gia tăng tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan đang làm thay đổi điều kiện sinh sống của nhiều loài sinh vật biển. Theo IPCC (2021), nhiệt độ nước biển tại khu vực Biển Đông có xu hướng tăng khoảng 0,2 – 0,4°C mỗi thập kỷ, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, sinh sản, phân bố và khả năng thích nghi của các loài thủy sinh vật. Bên cạnh đó, nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ ngập thường xuyên đối với các khu vực bãi triều, cửa sông và rừng ngập mặn ven biển. Sự thay đổi điều kiện thủy văn và môi trường sống có thể làm thu hẹp diện tích sinh cảnh tự nhiên, ảnh hưởng đến nơi cư trú, sinh sản và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh vật. Đối với khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, biến đổi khí hậu còn góp phần làm gia tăng tình trạng xói lở bờ biển, suy giảm bồi tụ và gia tăng mức độ tổn thương của các hệ sinh thái ven biển.
4.4.2. Xâm nhập mặn
Xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng do tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông. Ranh giới mặn – ngọt ngày càng dịch chuyển sâu vào nội đồng, làm thay đổi đặc điểm môi trường sống của các hệ sinh thái cửa sông và ven biển.
113
Sự thay đổi độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần loài và cấu trúc quần xã sinh vật, đặc biệt là các loài cá nước ngọt, cá nước lợ, động vật đáy và các loài thực vật thủy sinh. Đồng thời, hiện tượng này cũng tác động đến chu kỳ sinh trưởng, sinh sản và di cư của nhiều loài thủy sinh vật, làm thay đổi nguồn thức ăn tự nhiên và ảnh hưởng đến năng suất sinh học của các thủy vực ven biển.
4.4.3. Thay đổi dòng chảy và phù sa
Nguồn phù sa từ hệ thống sông Mê Kông có vai trò quan trọng trong việc duy trì năng suất sinh học, bồi đắp bãi triều và hình thành các sinh cảnh đặc trưng vùng cửa sông, ven biển. Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình thủy điện trên thượng nguồn cùng với những thay đổi về chế độ dòng chảy đã làm suy giảm đáng kể lượng phù sa vận chuyển về Đồng bằng sông Cửu Long. Sự suy giảm phù sa không chỉ làm giảm nguồn dinh dưỡng tự nhiên mà còn góp phần gia tăng xói lở bờ biển, thu hẹp diện tích bãi bồi và làm suy giảm chất lượng sinh cảnh của nhiều loài thủy sinh vật đáy. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản và làm giảm năng suất sinh học của các hệ sinh thái ven biển.
4.4.4. Suy thoái và thu hẹp sinh cảnh ven biển
Các hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi bồi ven biển và vùng cửa sông là những sinh cảnh quan trọng đối với đa dạng sinh học biển, đồng thời đóng vai trò là nơi sinh sản, cư trú, kiếm ăn và ươm giống tự nhiên của nhiều loài thủy sinh vật có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng nuôi trồng thủy sản, xây dựng hạ tầng và tác động của xói lở bờ biển đã làm suy giảm hoặc thu hẹp một số khu vực sinh cảnh tự nhiên. Sự suy thoái các hệ sinh thái quan trọng này làm giảm khả năng cung cấp nơi cư trú, nguồn thức ăn và điều kiện sinh sản cho nhiều loài sinh vật, từ đó ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học và khả năng phục hồi của nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
4.4.5. Tác động từ hoạt động khai thác thủy sản
Hoạt động khai thác thủy sản là nguồn sinh kế quan trọng của cộng đồng ven biển nhưng cũng là một trong những áp lực lớn đối với đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản. Việc khai thác kéo dài với cường độ cao, đặc biệt tại các khu vực ven bờ, cửa sông và bãi giống, bãi đẻ đã làm suy giảm trữ lượng nguồn lợi tự nhiên và làm thay đổi cấu trúc quần xã sinh vật. Một số nghề khai thác có tính chọn lọc thấp như lưới kéo đáy có thể tác động tiêu cực đến hệ sinh thái đáy biển do khai thác cả các loài phi mục tiêu, cá con và các giai đoạn non của nhiều loài thủy sản. Ngoài ra, việc sử dụng các hình thức khai thác mang tính hủy diệt như xung điện, hóa chất hoặc ngư cụ bị cấm (mặc dù đã giảm đáng kể) vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây suy giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản.
114
4.4.6. Ô nhiễm môi trường biển:
Ô nhiễm môi trường biển là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy giảm đa dạng sinh học và chất lượng sinh cảnh ven biển. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, chất thải rắn sinh hoạt, rác thải nhựa và các hoạt động giao thông đường thủy. Sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) và các chất ô nhiễm khác trong môi trường nước có thể dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa, suy giảm hàm lượng oxy hòa tan và ảnh hưởng đến sức khỏe của các quần xã sinh vật thủy sinh. Bên cạnh đó, rác thải nhựa và vi nhựa có thể gây tổn thương trực tiếp cho sinh vật biển hoặc xâm nhập vào chuỗi thức ăn, làm gia tăng các rủi ro đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái biển. Các sự cố ô nhiễm cục bộ từ hoạt động vận tải biển, cảng biển hoặc nuôi trồng thủy sản cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của các loài sinh vật ven biển. Nhìn chung, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng biển, ven biển thành phố Cần Thơ đang chịu tác động tổng hợp của cả các yếu tố tự nhiên và hoạt động nhân sinh. Những tác động này không chỉ làm suy giảm chất lượng sinh cảnh và nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của các hệ sinh thái ven biển. Do đó, việc tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên, kiểm soát ô nhiễm và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản là những yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới.
115
CHƯƠNG 5. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG Hiện nay, chưa có các nghiên cứu hoặc đánh giá mang tính toàn diện về tải lượng rác thải phát sinh và xả trực tiếp ra môi trường biển trên địa bàn. Phần lớn các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào việc phân tích tải lượng chất thải rắn sinh hoạt hoặc xem xét riêng lẻ theo từng ngành, từng hoạt động phát sinh, với phạm vi và thời điểm nghiên cứu còn hạn chế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bức tranh tổng thể cho toàn vùng ven biển của thành phố Cần Thơ. Báo cáo này tiếp cận theo hướng đánh giá định tính kết hợp bán định lượng, dựa trên các tiêu chí như quy mô phát sinh, mức độ ảnh hưởng, đặc trưng thành phần chất thải và cơ chế phát tán. Mặc dù chưa thể lượng hóa chi tiết tải lượng chất thải cho từng nhóm nguồn, cách tiếp cận này vẫn cho phép nhận diện tương đối đầy đủ các nguồn thải chính, xu hướng phát sinh và các nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường nước và trầm tích biển ven bờ. Các nhóm nguồn thải chính được xem xét trong báo cáo bao gồm hoạt động sinh hoạt dân cư; hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản; hoạt động du lịch ven biển; cùng với các nguồn liên quan khác. Chuỗi số liệu sử dụng trong báo cáo từ năm 2021 đến năm 2025, do đó tên một số địa danh vẫn theo tên gọi cũ (trừ số liệu thống kê do theo quy định, số liệu niên giám thống kê có độ trễ 01 năm).
5.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI
DƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Với đặc điểm nằm ở hạ lưu sông Hậu với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc kết hợp 72 km đường bờ biển (phân bố dọc theo 06 xã, phường: Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Hải, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa), tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, giao thông thủy và nuôi trồng thủy sản, đồng thời cũng đặt ra thách thức lớn trong công tác quản lý môi trường. Đặc biệt, mạng lưới sông ngòi liên thông trực tiếp với Biển Đông làm gia tăng nguy cơ phát tán chất thải rắn từ đất liền ra môi trường biển, nhất là rác thải nhựa. Các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ và nuôi trồng thủy sản nếu không được kiểm soát hiệu quả sẽ góp phần làm gia tăng tải lượng ô nhiễm, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và môi trường biển ven bờ. Do đó, công tác quản lý rác thải trên sông, kênh, rạch được xác định là một nội dung trọng tâm trong kiểm soát rác thải đại dương từ nguồn nội địa. Theo số liệu từ Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025 của thành phố Cần Thơ, tổng khối lượng CTRSH được thu gom và xử lý trên địa bàn thành phố là 520.736,8 tấn, tương đương khoảng 1.712,95 tấn/ngày. Trong thời gian qua, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố đã được tổ chức tương đối đồng bộ. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị đạt mức cao (khoảng 96,76%), trong khi khu vực nông thôn từng
116
bước được cải thiện. Hệ thống thu gom chủ yếu được thực hiện thông qua 19 đơn vị thu gom, vận chuyển và 5 cơ sở xử lý tập trung kết hợp với khoảng 30 bãi rác quy mô nhỏ (1 - 2 ha) phân bố rải rác. Theo kết quả phỏng vấn và thu thập thông tin từ các xã, phường ven biển trên địa bàn, hiện nay các đơn vị chủ lực đảm nhận thu gom, vận chuyển tại các khu vực ven biển như: Công ty cổ phần công trình đô thị Sóc Trăng, Công ty TNHH MTV Công trình đô thị Vĩnh Châu, Công ty TNHH xây dựng Huỳnh Khánh Toàn (xã Cù Lao Dung),…
Tuy nhiên, tại các khu vực ven sông, kênh, rạch, bến thủy nội địa, chợ nổi và khu dân cư phân tán ven biển, công tác thu gom còn gặp khó khăn do đặc thù địa hình ở một số khu vực ven biển xa, nơi thói quen xả thẳng hoặc tự đốt vẫn còn. Bên cạnh đó một lượng rác chưa được thu gom hoặc tồn đọng tại các điểm tập kết tự phát, rất dễ bị cuốn trôi theo hệ thông sông ngòi làm gia tăng nguy cơ phát tán ra môi trường biển thông qua hệ thống dòng chảy và xuất hiện tình trạng tích tụ rác tại các khu vực ven kênh, sông và bờ biển rất phổ biến nhất là khi mưa lớn hoặc triều cường cao. Kết quả khảo sát cộng đồng được thực hiện với 120 phiếu điều tra hộ dân/hộ đánh bắt và 30 cơ sở kinh doanh tại các khu vực ven biển (ấp Cảng – xã Trần Đề; Vĩnh An, Cà Lăng B – phường Vĩnh Châu; ấp Mỹ Thanh – xã Vĩnh Hải; khu vực Tân Nam – xã Vĩnh Phước; ấp Xung Tham B – xã Lai Hòa; ấp Nguyễn Tăng – xã Cù Lao Dung) cho thấy, 57,9% người được hỏi nhận định chất lượng môi trường biển đã “xấu đi” trong 5 năm gần đây, trong khi chỉ 10,9% cho rằng có cải thiện, phản ánh xu hướng suy giảm rõ rệt về chất lượng môi trường. Đồng thời, trên 74% người dân thường xuyên quan sát thấy rác nổi trên sông, kênh rạch và biển, cho thấy tình trạng ô nhiễm rác thải là hiện tượng phổ biến và dễ nhận diện trong thực tế. Công tác thu gom rác tại sông, kênh, rạch được ưu tiên nhằm ngăn chặn rác phát tán ra biển. Thành phố duy trì định kỳ các chương trình ra quân thu gom rác thải, vớt rác nổi và phát quang bờ sông. Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự chuyển mình rõ nét từ quản lý truyền thống sang mô hình tích hợp công nghệ hiện đại, hợp tác quốc tế và sự tham gia của cộng đồng, được triển khai đồng bộ trên địa bàn thành phố. Một trong những dự án tiêu biểu là Interceptor 003 (tên gọi René) do Tổ chức The Ocean Cleanup (Hà Lan) triển khai trên sông Cần Thơ, hợp tác với Công ty Coca-Cola Việt Nam, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ (trước đây là Sở Tài nguyên và Môi trường) và hỗ trợ của UNDP. Hệ thống được hạ thủy thử nghiệm tháng 12/2021, chính thức vận hành từ tháng 4/2022. Đây là hệ thống thu gom rác tự động thế hệ thứ hai, vận hành bằng năng lượng mặt trời, với công suất thiết kế tối đa 50 tấn/ngày. Theo báo cáo của UNDP (2026), lũy kế đến năm 2025, hệ thống đã thu gom 244,8 tấn rác thải nổi, trong đó khoảng 60% là rác hữu cơ và lục bình, 20 - 25% là rác nhựa (UNDP, 2026; The Ocean Cleanup, 2025).
117
Đồng thời, năm 2024, thành phố triển khai thí điểm dự án Clear Rivers (Recycled Island Foundation - Hà Lan) với khoản viện trợ 122.000 USD. Dự án lắp đặt bẫy rác thụ động (Litter Trap) trên rạch Cái Khế (quận Ninh Kiều trước sáp nhập), thu gom trung bình ~28,23 kg nhựa/ngày, kết hợp mô hình tái chế cộng đồng và giám sát AI-CCTV (Nguyen Truong Thanh et al., 2025; VietnamPlus, 2024). Trên các khu vực ven biển như xã Trần Đề, phường Vĩnh Châu còn triển khai các giải pháp chuyên biệt gắn với ngành nuôi trồng thủy sản. Nổi bật là dự án “Establishing a sustainable, efficient, and scalable system for collecting and converting used pond liners” (2024, hợp tác với Dow), tập trung thu gom và tái chế lưới lót ao nuôi tôm – một nguồn rác nhựa lớn đặc thù của vùng. Bên cạnh đó, dự án “Protecting the marine environment and coral reefs” (gọi tắt là 3RproMar) do GIZ hỗ trợ đã được mở rộng, nhằm giảm thiểu ô nhiễm nhựa từ nuôi trồng thủy sản và rác xuyên biên giới từ thượng nguồn sông Mê Kông. Tổng thể, giai đoạn 2021 - 2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản lý rác thải đại dương tại Cần Thơ. Việc ứng dụng giải pháp công nghệ cao (Interceptor 003, Clear Rivers) kết hợp các dự án điểm (Dow, 3RproMar) đã hình thành được một hệ thống quản lý sơ bộ, tương đối hiện đại và phù hợp với đặc thù địa phương, giúp giảm thiểu một phần nguy cơ rác phát tán ra biển. Tuy nhiên, các dự án chỉ đang ở giai đoạn tạo nền tản quan trọng về công nghệ và mô hình quản lý, để đạt hiệu quả thực chất, cần chuyển từ thí điểm sang triển khai đồng bộ trên diện rộng, gắn với tăng cường nguồn lực và hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp với điều kiện địa phương. Ngoài các dự án tiêu biểu được thực hiện trên địa bàn, các chương trình tuyên truyền chống rác thải nhựa trên địa bàn cũng triển khai song song (như ngày “Chủ nhật xanh”, phong trào “Nói không với bao bì nylon”, triển khai giảm nhựa trong trường học, cơ quan…) góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, tiêu biểu là phản ánh qua tỷ lệ người được hỏi sẵn sàng tham gia làm sạch môi trường đạt 93,3%. Bên cạnh đó, UBND thành phố cũng phát động chương trình phân loại tại nguồn (mục tiêu 70% hộ gia đình đến 2030) và phát động phong trào chống rác thải nhựa (giảm 70% sản phẩm nhựa dùng một lần). Tuy nhiên, tính đến nay chỉ 26,9% hộ dân khảo sát thực hiện phân loại chất thải tại nguồn và có 21,8% người dân biết rõ quy định xử phạt xả thải xuống sông, biển, phần đông người được hỏi chỉ nghe qua nhưng chưa rõ chiếm 54,6%. Từ đó cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã bước đầu tác động tích cực đến nhận thức của người dân, thể hiện qua sự quan tâm và sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể vẫn còn hạn chế, cho thấy đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi phải được duy trì thường xuyên, liên tục và gắn với các biện pháp quản lý, giám sát hiệu quả.
118
5.2. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG
5.2.1. Các nguồn phát sinh rác thải đại dương
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ có 103 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 31 phường và 72 xã. Trong đó, có 06 đơn vị hành chính giáp biển gồm: xã Cù Lao Dung, xã Trần Đề, xã Vĩnh Hải, phường Vĩnh Châu, phường Vĩnh Phước và xã Lai Hòa, với tổng chiều dài đường bờ biển khoảng 72 km, tiếp giáp Biển Đông. Khu vực ven biển có đặc trưng địa hình điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các cửa sông lớn (Trần Đề, Định An, Mỹ Thanh), bãi triều thấp và đai rừng ngập mặn mỏng. Với đặc điểm tự nhiên nêu trên, khu vực ven biển không chỉ đóng vai trò là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và đại dương mà còn là vùng tiếp nhận và tích tụ rác thải từ nhiều nguồn khác nhau. Rác thải có thể được vận chuyển từ nội đồng thông qua hệ thống sông, kênh rạch đồng thời chịu ảnh hưởng của rác trôi dạt từ ngoài khơi vào theo chế độ sóng, gió và dòng chảy biển. Xét về nguồn phát sinh, rác thải đại dương trên địa bàn chủ yếu bao gồm: (i) sinh hoạt dân cư ven biển; (ii) hoạt động nuôi trồng thủy sản; (iii) khai thác thủy sản; (iv) hoạt động du lịch ven biển; và (v) dòng chảy từ hệ thống kênh rạch nội đồng. Các nguồn này phát sinh đa dạng các loại chất thải, trong đó rác thải nhựa chiếm tỷ lệ cao, với đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ phát tán, dẫn đến khả năng tồn lưu lâu dài trong môi trường. a. Sinh hoạt dân cư ven biển: Đây là nguồn phát sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất, bao gồm các loại rác thải sinh hoạt hàng ngày như chất thải hữu cơ (chiếm tỷ lệ lớn), nhựa có khả năng tái chế, nhựa khó tái chế, thủy tinh, giấy, vải và một số thành phần khác. Trong đó, chất thải nhựa chiếm tỷ lệ đáng kể, có đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ bị cuốn trôi theo dòng chảy ra sông, kênh rạch và cuối cùng là môi trường biển. Hnh 5.1. Thành phần các loại chất thải rắn trên địa bàn các xã ven biển
119
Hiện nay, quy mô dân số của thành phố là 4.199.824 người, trong đó dân số ven biển có 274.917 người chiếm 6,6% dân số toàn thành phố. Theo thống kê sơ bộ, khối lượng CTRSH được thu gom xử lý 520.736,8 tấn, tương đương khoảng 1.712,95 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị đạt mức cao (khoảng 96,76%), song tỷ lệ này giảm mạnh ở các xã ven biển và trên các tàu cá (ước tính dưới 40 – 50%), như vậy còn khoảng 3,24 – 50% lượng CTR thông thường phát sinh chưa được thu gom. Bảng 5.1. Khối lượng CTRSH trên địa bàn các xã, phường ven biển
| STT | Xã/Phường | Dân số (người) | Định mức (kg/người/ngày) | CTR sinh hoạt (kg/ngày) |
| 1 | Vĩnh Châu | 68.437 | 0,80 | 43.799,7 |
| 2 | Vĩnh Phước | 51.897 | 0,80 | 33.214,1 |
| 3 | Cù Lao Dung | 44.973 | 0,65 | 23.386,0 |
| 4 | Vĩnh Hải | 27.820 | 0,65 | 14.466,4 |
| 5 | Trần Đề | 52.771 | 0,65 | 27.440,9 |
| 6 | Lai Hòa | 29.019 | 0,65 | 15.089,9 |
| TỔNG CỘNG | 274.917 | 157.396,9 | ||
(Nguồn: Số liệu dân số từ Niên giám thống kê năm 2025) Ghi chú: Định mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn được áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường là 0,65 kg/người/ngày; đối với khu vực đô thị loại V, áp dụng định mức 0,8 kg/người/ngày theo QCVN 01:2021/BXD. Đáng chú ý, trên 80% số hộ được phỏng vấn ghi nhận tình trạng rác thải xuất hiện trên biển với tần suất “thỉnh thoảng” đến “rất thường xuyên”, phản ánh mức độ phổ biến và liên tục của hiện tượng ô nhiễm. Biểu đồ 5.1. Mức độ xuất hiện rác thải trên biển qua khảo sát cộng đồng
ven biển 120
Kết quả khảo sát cho thấy các loại chất thải quan sát được trên mặt biển có mức độ ghi nhận khác nhau. Trong đó, túi ni-lông được ghi nhận nhiều nhất với 82% số người được khảo sát lựa chọn; tiếp theo là vỏ chai nhựa (35%). Các loại chất thải khác được ghi nhận với tỷ lệ thấp hơn, gồm rác sinh hoạt tổng hợp (23%) và thực vật trôi nổi như lục bình, thân cây (20%). Xốp được ghi nhận ở mức 6%, trong khi hiện tượng dầu loang chỉ được 1% số người khảo sát ghi nhận.
Biểu đồ 5.2. Tần suất ghi nhận các loại chất thải trên mặt biển b. Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản: Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản là một trong những nguồn phát sinh chất thải đáng kể tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, mức độ đóng góp vào rác thải đại dương giữa hai loại hình hoạt động có sự khác biệt rõ rệt. Đối với hoạt động khai thác thủy sản, chất thải phát sinh trực tiếp trên biển bao gồm lưới hỏng, dây cước, phao xốp, bao bì vật tư, chai lọ nhựa và rác sinh hoạt từ tàu cá. Các loại chất thải này có khả năng thất thoát trực tiếp ra môi trường biển trong quá trình khai thác, neo đậu hoặc bốc dỡ thủy sản. Đặc biệt, ngư cụ bị mất hoặc bị bỏ lại trên biển có thể tồn lưu lâu dài, tiếp tục gây tác động đến sinh vật biển và được xem là một trong những nguồn phát sinh rác thải nhựa đại dương quan trọng. Theo UNDP-MONRE (2023), rác thải từ hoạt động thủy sản, chủ yếu là lưới nylon, dây cước và phao xốp, chiếm khoảng 20 – 30% tổng lượng rác thải nhựa trên biển Việt Nam. Tại khu vực cảng cá Trần Đề, lưu lượng tàu cá hoạt động và cập cảng lớn tạo ra khối lượng đáng kể chất thải sinh hoạt, ngư lưới cụ hư hỏng, dây cước, lưới nylon, bao bì vật tư và phụ phẩm thủy sản. Nếu không được thu gom, lưu giữ và xử lý phù hợp, các loại chất thải này có thể phát tán theo hệ thống sông, cửa sông ra biển, góp phần làm gia tăng áp lực rác thải biển và rác thải nhựa đại dương trên địa bàn.
121
Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, chất thải phát sinh chủ yếu gồm bao bì thức ăn, bao bì thuốc thú y thủy sản, vật liệu nhựa như bạt HDPE, ống dẫn nước, phao nổi và các thiết bị nuôi hư hỏng. Phần lớn các chất thải này phát sinh tại các vùng nuôi trên đất liền hoặc khu vực ven biển như Vĩnh Châu, Vĩnh Hải và Trần Đề. Do đó, đây không phải là nguồn phát sinh rác thải đại dương trực tiếp. Tuy nhiên, trong trường hợp không được thu gom và quản lý phù hợp, các chất thải nhựa này có thể theo hệ thống kênh rạch, sông ngòi và cửa sông phát tán ra biển, trở thành nguồn đóng góp gián tiếp vào rác thải đại dương.
Hnh 5.2. Cảng biển Trần Đề
c. Hoạt động du lịch ven biển: Hoạt động du lịch ven biển trên địa bàn thành phố Cần Thơ tập trung tại các khu vực như Vĩnh Châu, Vĩnh Hải, Cù Lao Dung, đang có xu hướng phát triển nhờ lợi thế cảnh quan hoang sơ, đường bờ biển dài và hệ sinh thái ven biển đặc trưng. Các khu vực này thu hút du khách bởi sự kết hợp giữa biển, rừng ngập mặn và văn hóa địa phương, kéo theo sự gia tăng các hoạt động dịch vụ ăn uống, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí.
Hnh 5.3. Khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Mỏ Ó 122
Tuy nhiên, đi kèm với sự gia tăng lượng khách du lịch là sự gia tăng đáng kể chất thải phát sinh, chủ yếu từ các hoạt động tiêu dùng ngắn hạn tại bãi biển. Thành phần chất thải đặc trưng bao gồm: nhựa dùng một lần (ly, hộp, ống hút), chai nước, bao bì thực phẩm, túi ni-lông và rác thực phẩm. Đây đều là các loại chất thải có đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ phát tán. Đặc điểm nổi bật của nguồn thải từ du lịch ven biển là tính thời vụ rõ rệt, tập trung vào các dịp lễ, cuối tuần và mùa cao điểm du lịch, phân bố cục bộ tại bãi biển và các quán ăn, nhưng dễ lan rộng do tác động của gió và thủy triều, khó kiểm soát tức thời, do phụ thuộc nhiều vào ý thức du khách và năng lực thu gom tại chỗ Trong điều kiện hạ tầng thu gom còn hạn chế tại một số khu vực ven biển, rác thải phát sinh từ du lịch nếu không được thu gom kịp thời sẽ nhanh chóng bị cuốn trôi ra biển, đặc biệt trong các thời điểm triều cường hoặc mưa lớn. Ngoài ra, hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ ven biển (quán ăn, hàng rong) thường sử dụng nhiều vật liệu nhựa dùng một lần, góp phần làm gia tăng tải lượng rác thải nhựa. Mặc dù so với các nguồn như sinh hoạt dân cư hay thủy sản, quy mô phát sinh từ du lịch có thể không lớn bằng, nhưng đây là nguồn có tính tập trung cao, dễ gây ô nhiễm cục bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan môi trường biển, từ đó tác động tiêu cực đến chính hoạt động du lịch và hình ảnh địa phương. d. Dòng chảy từ hệ thống kênh rạch nội đồng: Kết quả tính toán cân bằng khối lượng cho thấy, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn các xã/phường ven biển ước tính là 219.933,6 kg/ngày, tương đương khoảng 219,9 tấn/ngày. Tuy nhiên tỷ lệ thu gom theo mạng lưới ở các xã ven biển và trên các tàu cá chỉ chiếm khoảng 50%, ước tính có khoảng 109,25 tấn/ngày có khả năng phát tán ra môi trường biển. Đáng chú ý, phần lớn lượng chất thải này không phát sinh trực tiếp tại khu vực ven biển mà được vận chuyển từ nội đồng thông qua hệ thống kênh rạch. Ước tính có khoảng 12% lượng chất thải (Báo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia, giai đoạn 2021 - 2025), tương đương khoảng 13 tấn/ngày có khả năng theo dòng chảy kênh rạch ra biển. Như vậy, xét trong tổng tải lượng rác thải ra biển, nguồn từ kênh rạch nội đồng giữ vai trò là nguồn vận chuyển gián tiếp nhưng ổn định và liên tục. Mặc dù tỷ trọng thấp hơn so với nguồn phát sinh trực tiếp tại khu vực ven biển, nhưng do đặc tính phân tán rộng, khó kiểm soát và gia tăng mạnh theo mùa mưa, nguồn thải từ hệ thống kênh rạch có ý nghĩa quan trọng trong tổng thể bài toán quản lý rác thải đại dương. Đây được xem là mắt xích trung gian kết nối các nguồn thải trên đất liền với môi trường biển, do đó cần được ưu tiên kiểm soát thông qua các giải pháp ngăn chặn từ thượng nguồn và dọc theo tuyến kênh.
123
Nhìn chung, xét về mức độ tác động, nhóm nguồn từ sinh hoạt dân cư và thủy sản đóng vai trò chủ đạo do phát sinh liên tục và trực tiếp tại khu vực ven biển, hệ thống kênh rạch nội đồng giữ vai trò là tuyến vận chuyển trung gian, đưa chất thải từ đất liền ra biển với quy mô ổn định theo thời gian. Các nguồn từ du lịch ven biển và hoạt động cảng tuy có tính cục bộ hoặc thời vụ, nhưng lại có khả năng gây ô nhiễm điểm, ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan và chất lượng môi trường ven bờ.
Hnh 5.4. Tổng quan nguồn phát sinh rác thải đại dương
5.2.2. Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý
a. Tình hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt: Trong thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường công tác theo dõi, giám sát hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn, qua đó góp phần hạn chế tình trạng tồn đọng, ùn ứ rác thải tại các điểm tập kết tạm và điểm trung chuyển, đặc biệt tại khu vực các phường trung tâm. Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025, trên địa bàn thành phố Cần Thơ, tỷ lệ thu gom CTRSH khu vực đô thị năm 2025 đạt khoảng 96,76%, phản ánh hệ thống thu gom tại khu vực này cơ bản hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, tại các xã ven biển và trên các tàu cá, tỷ lệ thu gom còn thấp, ước tính dưới 50%, cho thấy sự chênh lệch đáng kể về mức độ tiếp cận dịch vụ môi trường giữa các khu vực.
124
Hiện nay, hệ thống thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn chủ yếu được thực hiện thông qua 19 đơn vị thu gom, vận chuyển và 05 cơ sở xử lý tập trung, kết hợp với khoảng 30 bãi rác quy mô nhỏ (1 – 2 ha) phân bố rải rác. Mô hình này bước đầu đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải, tuy nhiên còn mang tính phân tán, chưa đồng bộ, đặc biệt tại khu vực ven biển và nông thôn. Tại các xã, phường ven biển, công tác thu gom chủ yếu do một số đơn vị đảm nhận theo phạm vi địa bàn, cụ thể:
- Công ty Cổ phần công trình đô thị Sóc Trăng: Thực hiện thu gom tại một phần địa bàn của phường Vĩnh Châu, xã Trần Đề.
- Công ty TNHH xây dựng Huỳnh Khánh Toàn: Thực hiện thu gom tại một phần địa bàn xã Cù Lao Dung. Đối với các khu vực nông thôn chưa có đơn vị tham gia đấu thầu hoặc nhận đặt hàng dịch vụ, công tác thu gom chủ yếu do các tổ vệ sinh môi trường tự phát đảm nhận, sau đó tập kết tại các điểm trung chuyển để đơn vị chức năng tiếp nhận, vận chuyển và xử lý. Hình thức này tuy linh hoạt nhưng thiếu tính ổn định, hiệu quả thu gom chưa cao và tiềm ẩn nguy cơ phát tán rác thải ra môi trường xung quanh. Bên cạnh đó, trên địa bàn thành phố cũng đã triển khai một số chương trình, dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và khu vực cửa cống, góp phần kiểm soát nguồn thải ngay từ các tuyến trung gian trước khi phát tán ra sông và biển. Các hoạt động này chủ yếu tập trung tại các tuyến kênh chính, cửa xả và khu vực có nguy cơ tích tụ rác cao, thông qua việc lắp đặt lưới chắn rác, bố trí nhân lực thu gom thủ công kết hợp với phương tiện chuyên dụng. Một số dự án điển hình trên địa bàn như sau: Bảng 5.2. Một số chương trnh, dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và
khu vực cửa cống 125
| Dự án | Thời gian | Vị trí chính | Công nghệ/Đặc điểm | Lượng thu gom (đến 2025) | Thành phần rác chính | Nguồn trích dẫn |
| Interceptor 003 | 12/2021 đến nay | Sông Cần Thơ | Tự động, năng lượng mặt trời, băng tải | 244,8 tấn | Rác hữu cơ/lục bình (~60%), nhựa (~20- 25%) | UNDP (2026) |
| Clear Rivers Litter Trap | 5/2024 đến 6/2025 | Rạch Cái Khế | Thụ động, không nhiên liệu, túi đựng | ~28,23 kg nhựa/ngày | Nhựa nổi, rác sinh hoạt | VietnamPlu s (2024) |
| Dự án Dow (pond liners) | 2024 đến nay | Khu vực ven biển (Trần Đề, Vĩnh Châu) | Thu gom & tái chế lưới lót ao nuôi tôm | Tập trung tái chế lưới ao (chưa có số liệu tổng) | Lưới lót ao, bao bì thủy sản | Dow & đối tác (2024) |
| 3RproMar (GIZ) | 2023 đến nay | Toàn địa bàn ven biển | Giảm thiểu nhựa từ nuôi trồng thủy sản | Giảm ô nhiễm nhựa từ ao nuôi | Nhựa từ nuôi trồng thủy sản | GIZ (2024) |
Nhìn chung, hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn đã phát huy hiệu quả tại khu vực đô thị với tỷ lệ thu gom cao và tương đối ổn định. Tuy nhiên, khu vực ven biển vẫn là điểm nghẽn chính trong công tác quản lý chất thải do hạ tầng thu gom còn hạn chế và phạm vi phục vụ chưa bao phủ đầy đủ, phụ thuộc nhiều vào các tổ thu gom tự phát, dẫn đến hiệu quả thu gom chưa cao và khó kiểm soát. Đồng thời, việc triển khai các mô hình thu gom rác nổi bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm lượng rác trôi theo dòng chảy, cải thiện cảnh quan môi trường và hạn chế tình trạng bồi lắng, tắc nghẽn dòng chảy tại các cửa cống. Tuy nhiên, quy mô triển khai hiện nay còn hạn chế, chủ yếu mang tính cục bộ, chưa bao phủ toàn bộ hệ thống kênh rạch, do đó hiệu quả kiểm soát tổng thể vẫn chưa cao. Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, tỷ lệ thu gom thấp tại khu vực ven biển, kết hợp với hạn chế trong kiểm soát rác trên các tuyến kênh rạch trung gian, đã và đang trở thành nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng lượng rác thải phát tán ra môi trường biển, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm rác thải đại dương trên địa bàn. b. Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các xã, phường ven biển: Tại các xã, phường ven biển, công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) hiện nay được thực hiện theo hai hình thức chính: xử lý tập trung và lưu chứa tạm thời tại các bãi rác địa phương. Đối với các khu vực được thu gom bởi Công ty Cổ phần Công trình Đô thị Sóc Trăng, chất thải sau thu gom được vận chuyển về Nhà máy xử lý chất thải rắn thành phố Sóc Trăng để xử lý. Tại đây, CTRSH được xử lý bằng công nghệ ủ phân compost với công suất khoảng 100 tấn rác hữu cơ/ngày, phần còn lại được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh với khối lượng khoảng 215 tấn/ngày. Mô hình này bước đầu góp phần giảm tải lượng rác thải phát sinh tại khu vực ven biển và hạn chế phát tán ra môi trường. Tuy nhiên, tại nhiều xã, phường ven biển chưa được thu gom đồng bộ, các bãi rác lộ thiên vẫn tồn tại và chủ yếu đóng vai trò là điểm tập kết tạm thời. Tại các điểm này, chính quyền địa phương định kỳ thực hiện các biện pháp như phun xịt chế phẩm sinh học nhằm giảm mùi, kết hợp san ủi để tăng khả năng lưu chứa. Mặc dù các biện pháp này giúp hạn chế một phần ô nhiễm thứ cấp, nhưng về bản chất vẫn chưa phải là giải pháp xử lý triệt để. Bên cạnh hệ thống thu gom và xử lý hiện có, tại khu vực nông thôn ven biển vẫn tồn tại phổ biến các hình thức tự xử lý chất thải của người dân. Cụ thể, người dân còn duy trì thói quen đốt rác tại chỗ hoặc xả trực tiếp xuống sông, kênh rạch, đặc biệt tại các vùng nuôi tôm tập trung như Vĩnh Châu và Cù Lao Dung, nơi hạ tầng thu gom còn hạn chế.
126
Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 47,9% số hộ dân tự xử lý chất thải, trong khi 1,7% thực hiện xả thải trực tiếp ra kênh, mương gần khu vực sinh sống. Tỷ lệ này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào các phương thức xử lý không chính thức, đồng thời cho thấy khoảng trống đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH tại khu vực ven biển.
Biểu đồ 5.3. Tỷ lệ các phương thức xử lý CTRSH của hộ dân Với hệ thống xử lý CTRSH đang sử dụng tại khu vực ven biển hiện phần lớn phụ thuộc vào phương thức chôn lấp và các bãi tập kết tạm thời, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, đặc biệt trong điều kiện mưa lớn và triều cường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng khả năng rò rỉ, phát tán rác thải ra hệ thống kênh rạch và môi trường biển nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
5.2.3. Các điểm nóng ô nhiễm rác thải biển
Trong bối cảnh áp lực gia tăng từ các nguồn thải trên đất liền và hoạt động kinh tế ven biển, tình trạng ô nhiễm rác thải tại các khu vực cửa sông, bãi triều và tuyến kênh rạch trên địa bàn thành phố Cần Thơ đang diễn biến ngày càng phức tạp. Thực tế ghi nhận cho thấy nhiều tuyến kênh mương nội đồng đang phải tiếp nhận tải lượng rác thải sinh hoạt lớn, dẫn đến ách tắc dòng chảy, suy giảm khả năng tiêu thoát nước và phát sinh ô nhiễm cục bộ. Mặc dù đã triển khai các biện pháp quản lý như lắp đặt biển cấm và tăng cường tuyên truyền, song tình trạng xả rác không đúng quy định vẫn tiếp diễn, phản ánh hạn chế trong kiểm soát hành vi và hạ tầng thu gom. Ở quy mô rộng hơn, các nghiên cứu về rác thải biển tại Việt Nam cho thấy phần lớn rác thải nhựa có nguồn gốc từ đất liền và được vận chuyển ra biển thông qua hệ thống sông, kênh rạch, đóng vai trò là “hành lang vận chuyển” chính. Điều này lý giải vì sao các khu vực cửa sông và ven bờ thường trở thành nơi tích tụ rác với mật độ cao. Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới sử dụng chỉ số bờ biển sạch (CCI) cho thấy khu vực bãi biển xã Lai Hòa đạt giá trị CCI = 176, thuộc nhóm “cực kỳ bẩn”, nằm trong nhóm các bãi biển ô nhiễm nghiêm trọng nhất trong số các khu vực được khảo sát. Theo phương pháp đánh giá CCI, các giá trị cao phản ánh mật độ rác lớn và mức độ ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép.
127
Bên cạnh đó, từ hoạt động khảo sát thực địa, các khu vực điểm nóng chủ yếu tập trung tại các vị trí giao thoa giữa nguồn phát sinh và dòng vận chuyển, nơi rác thải có xu hướng tích tụ với mật độ cao. Điển hình ở một số điểm sau:
- Cửa sông Trần Đề: Là khu vực hội tụ rác từ hệ thống sông Hậu, kênh rạch nội đồng và hoạt động cảng cá, tàu thuyền. Đây là điểm giao cắt của nhiều nguồn thải, dẫn đến tải lượng rác lớn và đa dạng thành phần (nhựa, ngư cụ, rác sinh hoạt).
Hnh 5.5. Hiện trạng rác thải tại cửa sông Trần Đề
- Cửa Định An: Là cửa chính của hệ thống sông Cửu Long, tiếp nhận lượng lớn chất thải trôi theo dòng chảy liên vùng. Đặc trưng của khu vực này là rác phân tán rộng, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều
Hnh 5.6. Hiện trạng rác thải tại cửa Định An
Khu vực bãi triều Vĩnh Châu (Lai Hòa, Vĩnh Hải): Là khu vực chịu tác động tổng hợp từ nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt dân cư và rác trôi dạt từ biển. Địa hình bãi triều thấp khiến rác dễ bị giữ lại và tích tụ lâu dài.
128
Hnh 5.7. Hiện trạng rác thải tại khu vực bãi triều Vĩnh Châu
- Khu vực Cù Lao Dung: Là vùng có hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển nhưng hạ tầng thu gom còn hạn chế. Rác phát sinh từ sinh hoạt và sản xuất dễ bị cuốn trôi ra hệ thống sông và biển.
Hnh 5.8. Hiện trạng rác thải tại khu vực Cù Lao Dung Tổng hợp các kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá cho thấy tình trạng ô nhiễm rác thải biển trên địa bàn thành phố Cần Thơ không phải là hiện tượng cục bộ mà là hệ quả của quá trình tích tụ liên tục từ nhiều nguồn phát sinh khác nhau, diễn ra trên toàn bộ không gian từ nội đồng đến ven biển. Các điểm nóng như Vĩnh Châu, Trần Đề, Định An và Cù Lao Dung không chỉ là nơi phát sinh rác mà chủ yếu là khu vực hội tụ cuối cùng của dòng vật chất, nơi rác thải từ sinh hoạt, sản xuất và hệ thống kênh rạch được vận chuyển và tích tụ dưới tác động của dòng chảy và thủy triều. Trong đó, nguyên nhân cốt lõi làm gia tăng tải lượng rác thải ra ngoài môi trường biển chủ yếu về hạ tầng thu gom tại khu vực ven biển, mô hình quản lý còn phân tán, cùng với hành vi xả thải chưa được kiểm soát. Ô nhiễm rác thải đại dương không chỉ là vấn đề của khu vực ven biển, mà là bài toán quản lý tổng hợp liên vùng, đòi hỏi phải kiểm soát ngay từ đất liền, trên tuyến vận chuyển và tại các điểm nóng tích tụ nếu muốn đạt hiệu quả thực chất và bền vững.
129
CHƯƠNG 6. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN
6.1. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM ĐỐI VỚI MÔI
TRƯỜNG BIỂN VÀ VEN BIỂN Vùng ven biển thành phố Cần Thơ là khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, tập trung nhiều hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản, công nghiệp chế biến, logistics cảng biển, vận tải thủy, khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Đồng thời, đây cũng là nơi phân bố các hệ sinh thái đặc trưng như rừng ngập mặn, bãi bồi triều và vùng cửa sông, có vai trò quan trọng trong duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển, điều hòa các quá trình sinh thái và cung cấp sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường biển và ven biển của thành phố tiếp tục chịu tác động từ nhiều nhóm nguồn ô nhiễm khác nhau. Các nguồn thải phát sinh từ khu vực đất liền thông qua hệ thống sông, kênh, rạch đổ ra biển; các hoạt động khai thác, sử dụng không gian biển, giao thông hàng hải, cảng biển và logistics; cùng với sự gia tăng rác thải nhựa đã và đang tạo áp lực lên chất lượng môi trường nước, trầm tích, hệ sinh thái ven bờ và nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, quá trình phát triển các ngành kinh tế mới như năng lượng tái tạo ven biển cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý và giám sát nhằm hạn chế các tác động bất lợi đối với môi trường biển. Ô nhiễm môi trường biển là kết quả tổng hợp của nhiều nguồn tác động phát sinh từ cả đất liền và các hoạt động trên biển, trong đó mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào quy mô nguồn thải, điều kiện lan truyền trong môi trường nước, khả năng tự làm sạch của thủy vực cũng như hiệu quả quản lý, kiểm soát ô nhiễm. Trên cơ sở phân tích nguồn gây tác động tại Chương 2, kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2021 – 2025 và các thông tin, số liệu hiện có, các tác động đối với môi trường biển và ven biển của thành phố được đánh giá theo ba nhóm nguồn chính: (i) các nguồn ô nhiễm từ đất liền khu vực ven biển; (ii) các nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển; và (iii) ô nhiễm do rác thải nhựa trên biển.
6.1.1. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ đất liền
Các nguồn ô nhiễm từ đất liền là nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm chất lượng môi trường biển trên phạm vi toàn cầu, ước tính chiếm khoảng 80% tổng lượng chất ô nhiễm đổ ra đại dương (UNEP/GPA, 2006). Đối với thành phố Cần Thơ, các nguồn ô nhiễm có khả năng tác động trực tiếp đến môi trường biển chủ yếu phát sinh từ khu vực ven biển và lưu vực cửa sông, bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải và chất thải từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản và hệ thống logistics ven biển. Đặc điểm chung của nhóm nguồn này là các chất ô nhiễm được vận chuyển theo hệ thống sông, kênh rạch và vùng cửa sông trước khi phát tán ra môi trường biển, tạo ra tác động tích lũy đối với chất lượng nước, trầm tích, hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản.
130
a. Biến đổi chất lượng môi trường nước biển ven bờ: Nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý triệt để tại các khu dân cư ven biển tiếp tục là nguồn bổ sung đáng kể các chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh và chất dinh dưỡng vào hệ thống sông, kênh rạch. Khi theo dòng chảy đổ ra vùng cửa sông và ven biển, các chất ô nhiễm này làm gia tăng hàm lượng BOD, COD, nitơ và photpho, thúc đẩy quá trình phú dưỡng cục bộ, suy giảm hàm lượng oxy hòa tan và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước biển. Hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại khu vực ven biển cũng góp phần làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm vào môi trường tiếp nhận. Nước thải từ các vùng nuôi tôm thâm canh tại các địa phương ven biển chứa hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng và dư lượng hóa chất, kháng sinh tương đối cao. Kết quả quan trắc cho thấy tại một số thời điểm, nồng độ amoni (NH₄⁺), photphat (PO₄³⁻), BOD và COD trong các kênh cấp, thoát nước và khu vực ven biển có xu hướng gia tăng, nhiều thời điểm vượt giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT. Sự tích tụ chất hữu cơ trong trầm tích tại khu vực tiếp nhận nước thải làm hình thành các vùng yếm khí cục bộ, làm giảm hàm lượng oxy hòa tan và gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi. Bên cạnh đó, hoạt động nạo vét ao nuôi, xả bùn đáy và dòng chảy cuốn trôi đất canh tác làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), giảm khả năng xuyên sáng của cột nước và ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật phù du cũng như thực vật đáy. Tại một số khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của đất phèn, nước thải mang theo sắt và nhôm hòa tan còn có thể làm giảm pH cục bộ, gây bất lợi đối với các loài thủy sinh nhạy cảm. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản và hệ thống logistics ven biển cũng là những nguồn phát sinh chất ô nhiễm đáng chú ý. Hoạt động chế biến thủy sản phát sinh nước thải có hàm lượng chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, dầu mỡ, nitơ và photpho cao; nếu hệ thống xử lý nước thải vận hành không ổn định hoặc xả thải không đạt quy chuẩn sẽ làm gia tăng BOD, COD, TSS và chất dinh dưỡng tại nguồn tiếp nhận, góp phần gây suy giảm oxy hòa tan và phú dưỡng cục bộ. Đồng thời, phụ phẩm chế biến, bùn thải và chất thải rắn công nghiệp nếu không được thu gom, xử lý đúng quy định có thể phát sinh nước rỉ, mùi hôi và gây ô nhiễm thứ cấp đối với môi trường đất, nước và vùng ven biển. Cùng với quá trình phát triển Khu công nghiệp Trần Đề, Khu công nghiệp Mỹ Thanh, các cụm công nghiệp chế biến thủy sản và hệ thống logistics ven biển, quy mô phát sinh nước thải và chất thải dự báo sẽ tiếp tục gia tăng. Nếu hạ tầng thu gom, xử lý nước thải tập trung, hệ thống quản lý chất thải và công tác giám sát môi trường không được đầu tư đồng bộ, áp lực ô nhiễm tích lũy đối với hệ thống sông, cửa sông và vùng biển ven bờ sẽ ngày càng lớn, làm gia tăng nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường nước và trầm tích.
131
b. Suy thoái hệ sinh thái ven bờ: Sự gia tăng tải lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản đã góp phần thúc đẩy quá trình phú dưỡng tại một số khu vực cửa sông và ven biển. Khi tảo phát triển quá mức và phân hủy sẽ làm suy giảm oxy hòa tan, ảnh hưởng đến sinh vật đáy và các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế như nghêu, sò huyết. Dư lượng hóa chất, kháng sinh từ hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể tồn lưu trong trầm tích và tích lũy trong các loài nhuyễn thể, giáp xác sống đáy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái và làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Một số lô hàng thủy sản của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã từng bị cảnh báo hoặc từ chối tại các thị trường nhập khẩu do phát hiện dư lượng kháng sinh vượt ngưỡng cho phép, ảnh hưởng đến uy tín và năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản (Bộ NN&PTNT, 2021). Ngoài ra, việc chuyển đổi đất ven biển sang nuôi trồng thủy sản nếu thiếu quy hoạch hợp lý cũng có thể làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, giảm khả năng bảo vệ bờ biển, suy giảm nơi cư trú, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sinh. c. Tác động đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế: Ô nhiễm môi trường nước ven biển từ các nguồn phát sinh trên đất liền làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật, đặc biệt là Coliform và các vi sinh vật gây bệnh tại khu vực cửa sông, bãi triều và vùng ven biển, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng thông qua các bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da và các bệnh truyền nhiễm liên quan đến nguồn nước. Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản không đúng quy định còn làm gia tăng nguy cơ tồn dư các chất độc hại trong thủy sản, thúc đẩy hiện tượng kháng kháng sinh và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thủy sản. Điều này không chỉ tác động đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu và sinh kế của cộng đồng ven biển. Sự suy giảm chất lượng môi trường nước và hệ sinh thái vùng cửa sông cũng làm giảm năng suất nuôi trồng thủy sản, gia tăng nguy cơ dịch bệnh và chi phí sản xuất, qua đó ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và tính bền vững của các mô hình sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên ven biển.
6.1.2. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển
Nguồn phát sinh và đặc tính của các nhóm nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển, bao gồm khai thác thủy sản, hoạt động hàng hải, cảng biển, logistics và khai thác, sử dụng không gian biển đã được trình bày tại Chương 2. Trong mục này, báo cáo tập trung đánh giá các tác động của các hoạt động này đối với chất lượng môi trường nước, hệ sinh thái ven bờ, sức khỏe cộng đồng và sinh kế người dân.
132
a. Biến đổi chất lượng môi trường nước biển ven bờ: Không giống các nguồn ô nhiễm từ đất liền thường tập trung tại các điểm xả, các nguồn ô nhiễm phát sinh từ hoạt động trên biển và ven biển có tính phân tán, chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy, sóng và thủy triều, làm cho chất ô nhiễm dễ lan truyền trên phạm vi rộng và tích lũy trong môi trường nước, trầm tích ven bờ. Hoạt động khai thác thủy sản và giao thông hàng hải làm gia tăng nguy cơ phát sinh dầu mỡ, nhiên liệu rò rỉ, nước dằn tàu, nước la canh, chất thải sinh hoạt từ tàu và các sự cố tràn dầu. Các chất ô nhiễm này có khả năng hình thành màng dầu trên mặt nước, làm giảm khả năng trao đổi oxy giữa nước và khí quyển, ảnh hưởng đến chất lượng nước biển và môi trường sống của các loài thủy sinh. Tuyến hàng hải qua cửa Định An và cửa Trần Đề có mật độ tàu thuyền lưu thông lớn, tiềm ẩn nguy cơ sự cố dầu loang và xả nước dằn tàu không đúng quy định. Thực tế, vùng biển Nam Bộ đã từng ghi nhận các vệt dầu loang trôi dạt vào bờ từ nguồn không xác định, gây ô nhiễm cục bộ khu vực rừng ngập mặn ven cửa sông (Cục Kiểm soát ô nhiễm, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018). Đây là nguy cơ thường trực cần được kiểm soát trong bối cảnh lưu lượng tàu thuyền và hoạt động vận tải biển dự báo tiếp tục gia tăng. Đối với hệ thống cảng biển và logistics ven biển, các hoạt động bốc xếp hàng hóa, neo đậu tàu thuyền, bảo dưỡng phương tiện, nạo vét luồng hàng hải và lưu giữ nhiên liệu có thể làm phát sinh dầu mỡ, chất thải từ tàu, nước dằn tàu và bùn nạo vét. Nếu không được quản lý theo đúng quy định, các nguồn thải này có thể gây suy giảm chất lượng nước biển, ô nhiễm trầm tích, ảnh hưởng đến sinh vật đáy, nguồn lợi thủy sản và chức năng sinh thái của vùng cửa sông, ven biển. Đối với các dự án điện gió ven biển và ngoài khơi, tác động đến môi trường nước chủ yếu phát sinh trong giai đoạn thi công. Hoạt động đóng cọc móng, nạo vét cục bộ, vận chuyển vật liệu và lắp đặt thiết bị có thể làm gia tăng độ đục của nước, phát tán trầm tích và gây tiếng ồn dưới nước, ảnh hưởng cục bộ đến sinh vật đáy và các loài thủy sinh. Trong giai đoạn vận hành, các dự án điện gió hầu như không phát sinh nước thải hoặc khí thải đáng kể; tuy nhiên vẫn cần giám sát nguy cơ rò rỉ dầu bôi trơn, tiếng ồn dưới nước và các tác động đối với giao thông hàng hải cũng như hoạt động khai thác thủy sản. b. Suy thoái các hệ sinh thái ven bờ: Hoạt động khai thác thủy sản với cường độ cao, đặc biệt tại khu vực ven bờ và cửa sông, làm gia tăng áp lực lên nguồn lợi thủy sản và các hệ sinh thái tự nhiên. Việc sử dụng một số ngư cụ có tính hủy diệt hoặc khai thác không đúng quy định có thể gây tổn thương nền đáy, làm suy giảm nơi cư trú, sinh sản và ươm giống tự nhiên của nhiều loài thủy sinh.
133
Sự gia tăng lưu lượng tàu thuyền và hoạt động hàng hải cũng làm gia tăng nguy cơ tác động đến các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn, bãi triều và vùng cửa sông thông qua dầu mỡ, chất thải từ tàu, tiếng ồn dưới nước và nguy cơ xảy ra sự cố môi trường. Khi xảy ra sự cố dầu tràn, lớp dầu phủ trên bề mặt nước có thể làm giảm khả năng quang hợp, gây chết cục bộ sinh vật phù du, động vật đáy và ảnh hưởng trực tiếp đến rừng ngập mặn ven biển. Đối với các dự án điện gió ngoài khơi, trong giai đoạn thi công, tiếng ồn từ hoạt động đóng cọc và sự gia tăng độ đục của nước có thể ảnh hưởng cục bộ đến tập tính di cư, sinh sản và kiếm ăn của cá và các loài thủy sinh. Tuy nhiên, các tác động này chủ yếu mang tính cục bộ và ngắn hạn nếu áp dụng đầy đủ các biện pháp giảm thiểu trong quá trình thi công. c. Tác động đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế: Suy giảm chất lượng môi trường biển và nguồn lợi thủy sản làm giảm hiệu quả khai thác, buộc ngư dân phải mở rộng ngư trường hoặc kéo dài thời gian đánh bắt, dẫn đến chi phí sản xuất tăng trong khi sản lượng khai thác có xu hướng giảm. Điều này làm gia tăng tính dễ bị tổn thương về sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển. Các sự cố ô nhiễm dầu, sự cố hàng hải hoặc ô nhiễm cục bộ tại khu vực cảng biển có thể làm gián đoạn hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng hải sản và thu nhập của người dân. Bên cạnh đó, việc mở rộng các công trình sử dụng không gian biển như cảng biển, luồng tàu và điện gió ngoài khơi cũng có thể làm thay đổi phạm vi hoạt động khai thác truyền thống của ngư dân, làm phát sinh xung đột trong sử dụng không gian biển nếu thiếu cơ chế quản lý và điều phối phù hợp.
6.1.3. Tác động của ô nhiễm từ rác thải nhựa
Nguồn phát sinh, khối lượng, thực trạng thu gom và các điểm nóng ô nhiễm rác thải đại dương trên địa bàn thành phố đã được phân tích chi tiết tại Chương 5. Phần này tập trung đánh giá các tác động thực tế của ô nhiễm rác thải nhựa đối với môi trường biển, hệ sinh thái và hoạt động kinh tế ven bờ. Không giống các dạng ô nhiễm hữu cơ có thể bị phân hủy sinh học theo thời gian, rác thải nhựa tồn lưu trong môi trường biển hàng trăm năm và tác động lên hệ sinh thái theo nhiều cơ chế khác nhau, từ vật lý, hóa học đến sinh thái học. Tác động vật lý lên sinh vật biển và hệ sinh thái ven bờ: Rác thải nhựa kích thước lớn – đặc biệt là lưới nylon, dây cước và phao xốp bỏ đi từ hoạt động khai thác thủy sản – tạo thành bẫy vô hình dưới nước, làm chết ngạt và gây thương tích cho các loài chim biển, rùa biển và động vật biển có vú khi chúng bị vướng vào ngư cụ ma (ghost gear). Tại các bãi triều Vĩnh Châu và Cù Lao Dung, quan sát thực địa ghi nhận ngư cụ bỏ đi bị cuốn vào đai rừng ngập mặn, làm gãy cành, hỏng rễ và ức chế sự tái sinh của cây con trong các khu vực phục hồi rừng.
134
Rác thải nhựa tích tụ trên bề mặt trầm tích bãi triều làm thay đổi các tính chất vật lý của nền đáy, bao gồm độ dẫn nhiệt, khả năng giữ ẩm và độ thoáng khí, từ đó ảnh hưởng đến quá trình sinh sản và phát triển của sinh vật đáy là nhóm sinh vật giữ vai trò nền tảng trong chuỗi thức ăn ven bờ. Tác động hóa học qua con đường vi nhựa: Khi nhựa phân rã dưới tác động của bức xạ UV, sóng và ma sát cơ học, chúng tạo ra vi nhựa (microplastics, kích thước dưới 5 mm) – dạng ô nhiễm tiềm ẩn nguy cơ cao nhất và khó kiểm soát nhất. Kết quả nghiên cứu tại vùng biển ĐBSCL ghi nhận mật độ vi nhựa trong nước biển ven bờ đạt 2,1 – 8,7 hạt/m³ và trong trầm tích ven bờ lên đến 247 – 1.850 hạt/kg khô (Nguyen et al., 2020). Vi nhựa có khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững (POPs) và kim loại nặng trên bề mặt với nồng độ cao gấp nhiều lần môi trường xung quanh, trở thành vectơ vận chuyển và cô đặc hóa chất độc hại trong hệ sinh thái biển (GESAMP, 2016). Sinh vật phù du và nhuyễn thể lọc nước (nghêu, hàu, sò) nhầm vi nhựa với thức ăn tự nhiên do kích thước và màu sắc tương đồng. Khi vi nhựa được tiêu thụ bởi các sinh vật bậc thấp, chúng tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học qua các bậc dinh dưỡng cao hơn – dẫn đến nồng độ vi nhựa và chất độc đi kèm trong cá, tôm ven bờ có thể cao gấp nhiều lần so với môi trường nước. Đây là con đường mà ô nhiễm vi nhựa từ môi trường biển xâm nhập trực tiếp vào chuỗi thực phẩm của con người, đặc biệt nguy hiểm đối với người dân ven biển có thói quen tiêu thụ hải sản địa phương hàng ngày. Tác động đến sản xuất thủy sản và xuất khẩu: Sự hiện diện của vi nhựa và các chất phụ gia nhựa độc hại (chất hóa dẻo phthalate, bisphenol A) trong môi trường nuôi trồng thủy sản đã được ghi nhận là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hành vi, tốc độ tăng trưởng và khả năng sinh sản của tôm, cá nuôi (Ecotoxicology and Environmental Safety, 2023). Tích lũy vi nhựa trong mô thủy sản không chỉ là rủi ro sức khỏe cộng đồng mà còn là nguy cơ thương mại trực tiếp: các thị trường nhập khẩu thủy sản lớn như EU và Nhật Bản đang từng bước siết chặt quy định về giới hạn vi nhựa trong sản phẩm thủy sản, đặt ra áp lực tuân thủ ngày càng cao cho ngành nuôi trồng ven biển của thành phố. Tác động đến cảnh quan và du lịch biển: Rác thải nhựa trôi dạt vào bờ tạo ra cảnh quan nhếch nhác tại các bãi biển, cửa sông và đai rừng ngập mặn, làm giảm sức hút du lịch của vùng ven biển. Kết quả khảo sát CCI (Clean Coast Index) của Ngân hàng Thế giới tại bãi biển xã Lai Hòa ghi nhận giá trị CCI = 176, thuộc nhóm "cực kỳ bẩn", phản ánh trực tiếp mức độ ô nhiễm rác thải nhựa đang là rào cản lớn đối với tiềm năng phát triển du lịch biển của thành phố. Theo ước tính của UNWTO (2019), mỗi sự kiện ô nhiễm rác thải dạt bờ lớn có thể gây thiệt hại kinh tế du lịch trực tiếp hàng tỷ đồng và ảnh hưởng lâu dài đến hình ảnh điểm đến.
135
6.2. KHAI THÁC THIẾU BỀN VỮNG, GIA TĂNG MỨC ĐỘ SUY GIẢM
TÀI NGUYÊN BIỂN Như đã trình bày tại Chương 2, hoạt động khai thác thủy sản ven bờ và khai thác cát biển trong giai đoạn 2021 – 2025 tiếp tục tạo áp lực lớn lên tài nguyên biển khu vực ven biển thành phố Cần Thơ. Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản có xu hướng suy giảm, tình trạng xói lở bờ biển gia tăng, suy giảm phù sa từ thượng nguồn sông Mekong và biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc gia tăng cường lực khai thác đang làm gia tăng nguy cơ mất ổn định sinh thái vùng ven biển.
6.2.1. Suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ
Nguồn lợi thủy sản ven bờ thành phố Cần Thơ đang chịu tác động ngày càng rõ nét từ khai thác kéo dài, suy thoái sinh cảnh ven biển, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Những tác động này không chỉ làm suy giảm trữ lượng nguồn lợi tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc quần xã sinh vật biển, hiệu quả khai thác và sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển. Một trong những biểu hiện rõ nhất là sự suy giảm và biến động của sản lượng khai thác biển trong giai đoạn 2021 – 2025. Theo số liệu của ngành thủy sản, sản lượng khai thác biển đạt 63.161 tấn năm 2021, giảm còn 56.407 tấn năm 2022, tăng lên 59.815 tấn năm 2023, giảm xuống 56.315,8 tấn năm 2024 và ước đạt khoảng 60.000 tấn năm 2025. Mặc dù có sự dao động giữa các năm, sản lượng khai thác biển nhìn chung không còn duy trì xu hướng tăng trưởng mà có dấu hiệu chững lại và giảm so với giai đoạn trước, phản ánh khả năng khai thác của nguồn lợi tự nhiên đang chịu nhiều áp lực (Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng, 2021 – 2024; Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ, 2025). Suy giảm nguồn lợi thủy sản còn gắn liền với quá trình suy thoái sinh cảnh tự nhiên. Trong giai đoạn 2021 – 2025, tình trạng sạt lở bờ biển, xói lở đê biển và suy giảm đai rừng phòng hộ ven biển tại các khu vực Vĩnh Châu, Vĩnh Hải, Trần Đề và Cù Lao Dung đã làm thu hẹp diện tích bãi triều, rừng ngập mặn và các khu vực sinh cư, sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Sự mất mát các sinh cảnh quan trọng này làm giảm khả năng tái tạo tự nhiên của nguồn lợi thủy sản ven bờ, đồng thời làm suy giảm khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước các tác động từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường vùng cửa sông – ven biển từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các hoạt động kinh tế ven biển cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống của các loài thủy sản tự nhiên. Sự gia tăng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng trong môi trường nước có thể làm suy giảm chất lượng nơi cư trú, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sinh. Cùng với đó, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng đã làm thay đổi điều kiện hải văn và môi trường sống, ảnh hưởng đến phân bố nguồn lợi và mùa vụ khai thác thủy sản.
136
Những tác động trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển. Hiệu quả khai thác giảm, chi phí sản xuất gia tăng và nguồn lợi tự nhiên suy giảm khiến nhiều hộ dân phải thu hẹp quy mô khai thác, chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc tìm kiếm sinh kế khác. Đối với các cộng đồng phụ thuộc nhiều vào nghề khai thác ven bờ, đặc biệt là các nhóm dân cư có thu nhập thấp, sự suy giảm nguồn lợi thủy sản đang làm gia tăng nguy cơ mất sinh kế truyền thống và tạo thêm áp lực đối với công tác bảo đảm an sinh xã hội tại khu vực ven biển. Nhìn chung, suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ là một trong những tác động môi trường biển đáng quan ngại tại thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 –
2025. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cân bằng hệ sinh thái biển mà còn tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế biển và sinh kế cộng đồng ven biển. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường bảo vệ sinh cảnh tự nhiên, phục hồi rừng ngập mặn, quản lý khai thác thủy sản bền vững và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường ven biển trong thời gian tới.
6.2.2. Tác động của khai thác cát biển đến địa mạo và hệ sinh thái ven bờ
Trên cơ sở quy mô khai thác đã được trình bày tại mục 2.3.6, hoạt động khai thác cát biển đang tạo ra nhiều tác động đối với môi trường biển và vùng ven bờ, đặc biệt trong bối cảnh nguồn bùn cát tự nhiên từ sông Mekong suy giảm và khu vực ven biển Cần Thơ đang chịu áp lực xói lở, sụt lún và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. a. Tác động đến địa hình đáy biển và vận chuyển bùn cát: Hoạt động khai thác cát biển bằng phương pháp hút xén thổi làm thay đổi địa hình đáy biển tại khu vực khai thác. Việc hình thành các hố sâu cục bộ có thể làm thay đổi hướng dòng chảy, chế độ vận chuyển bùn cát và quá trình bồi tụ tự nhiên ven bờ. Trong bối cảnh quy mô khai thác cát biển tại khu vực B1 ngày càng gia tăng, với tổng trữ lượng đã được xác nhận và cấp phép lên tới trên 22,8 triệu m³, nguy cơ tác động đến cân bằng bùn cát khu vực ven biển cần được theo dõi chặt chẽ. Việc khai thác quy mô lớn trong điều kiện nguồn phù sa từ thượng nguồn sông Mekong suy giảm có thể làm gia tăng tình trạng thiếu hụt vật liệu bồi tụ ven biển, từ đó thúc đẩy quá trình xói lở và suy giảm khả năng mở rộng bãi bồi tự nhiên. Khu vực ven biển Cần Thơ hiện là một trong những vùng chịu xói lở mạnh của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số đoạn bờ biển thuộc khu vực Vĩnh Hải, Lai Hòa và Vĩnh Phước ghi nhận tình trạng sạt lở nghiêm trọng trong nhiều năm qua. b. Xói lở bờ biển: Xói lở bờ biển là hiện tượng diễn ra tại nhiều khu vực ven biển thành phố Cần Thơ dưới tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, bao gồm biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sóng, dòng chảy ven bờ, suy giảm nguồn bùn cát và khai thác tài nguyên. Trong đó, hoạt động khai thác cát biển có thể làm thay đổi địa hình đáy biển và cân bằng bùn cát tự nhiên, từ đó làm gia tăng nguy cơ xói lở tại một số khu vực ven bờ.
137
Theo các nghiên cứu chuyên ngành và báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước, khu vực ven biển Vĩnh Hải, Vĩnh Phước và một số đoạn tuyến đê biển Vĩnh Châu là những khu vực thường xuyên chịu tác động của quá trình xói lở bờ biển với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Kết quả phân tích biến động đường bờ cho thấy nhiều đoạn bờ biển có tốc độ xói lở lớn, đai rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển tiếp tục bị thu hẹp, làm gia tăng nguy cơ sóng biển tác động trực tiếp đến các tuyến đê biển xung yếu (Nguyễn Thị Bích Linh và ctv., 2020; Nguyễn Hồng Trung và ctv., 2022; Võ Quốc Thành và ctv., 2025). Các nghiên cứu đều thống nhất rằng quá trình xói lở là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, chế độ sóng - dòng chảy ven bờ, sự suy giảm nguồn cung trầm tích từ thượng nguồn và suy giảm đai rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, việc khai thác cát lòng sông quá mức nếu không được kiểm soát hiệu quả có thể làm gia tăng tình trạng thiếu hụt nguồn trầm tích, làm giảm lượng bùn cát vận chuyển ra vùng cửa sông và ven biển, từ đó góp phần làm trầm trọng hơn quá trình xói lở tại một số khu vực ven biển (Anthony và ctv., 2015; WWF Việt Nam, 2022). c. Tác động đến chất lượng nước và hệ sinh thái đáy: Hoạt động khai thác cát biển làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và độ đục cục bộ tại khu vực khai thác. Sự gia tăng độ đục có thể làm giảm khả năng xuyên sáng trong nước biển, ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp của thực vật phù du và hệ sinh thái đáy. Quá trình hút cát cũng tác động trực tiếp đến quần xã sinh vật đáy như giun nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và các loài giáp xác đáy. Đây là các nhóm sinh vật đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái ven biển. Ngoài ra, khu vực cửa Định An và Trần Đề còn là vùng sinh cư, sinh sản và ương dưỡng của nhiều loài thủy sản tự nhiên. Vì vậy, các thay đổi về nền đáy và chất lượng nước có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi nguồn lợi trong dài hạn. Hiện nay, dữ liệu quan trắc đầy đủ trước và sau khai thác cát biển tại khu vực B1 còn hạn chế, cần tiếp tục được bổ sung trong quá trình triển khai hoạt động khai thác. d. Tác động cộng hưởng và nguy cơ dài hạn: Tác động của khai thác cát biển diễn ra đồng thời với nhiều áp lực môi trường khác như: Sụt lún đất; Nước biển dâng; Suy giảm phù sa; Xói lở bờ biển; Suy giảm rừng ngập mặn; Biến đổi khí hậu. Theo nhiều nghiên cứu về Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực ven biển đang chịu tác động tổng hợp của cả quá trình sụt lún nền đất và nước biển dâng, làm gia tăng nguy cơ mất đất ven biển trong dài hạn.
138
Đáng lưu ý, tổng quy mô trữ lượng cát biển đã được xác nhận và cấp phép tại khu vực B1 đến năm 2025 đạt khoảng 22,85 triệu m³, cho thấy áp lực khai thác vật liệu biển tại khu vực ven biển Cần Thơ đang gia tăng đáng kể. Trong trường hợp hoạt động khai thác mở rộng trong thời gian dài mà không có hệ thống quan trắc và đánh giá tác động đầy đủ, nguy cơ biến đổi địa hình đáy biển, mất cân bằng vận chuyển bùn cát và gia tăng xói lở ven biển có thể trở nên rõ rệt hơn. Bảng 6.1. Đánh giá nguy cơ môi trường liên quan khai thác cát biển Nhận định tổng hợp: Việc khai thác cát biển tại khu vực ven biển Cần Thơ diễn ra trong bối cảnh hệ sinh thái ven biển đã chịu nhiều áp lực kéo dài. Quy mô trữ lượng khai thác được cấp phép lớn, tập trung tại khu vực cửa Định An và vùng biển lân cận, có thể làm gia tăng nguy cơ xói lở bờ biển, suy giảm sinh cảnh tự nhiên và ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ sinh thái ven biển trong dài hạn nếu không được kiểm soát chặt chẽ thông qua quan trắc môi trường và quản lý tổng hợp vùng bờ.
| Thành phần môi trường | Nguy cơ chính | Mức độ rủi ro |
| Địa hình đáy biển | Thay đổi địa hình, dòng chảy | Cao |
| Bùn cát ven bờ | Thiếu hụt nguồn bồi tụ | Cao |
| Bờ biển ven biển | Gia tăng xói lở | Rất cao |
| Rừng ngập mặn | Suy giảm khả năng tái sinh | Cao |
| Sinh vật đáy | Suy giảm sinh cảnh | Cao |
| Nguồn lợi thủy sản | Ảnh hưởng bãi sinh sản | Cao |
| Sinh kế cộng đồng ven biển | Giảm nguồn lợi khai thác | Cao |
6.3. SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC BIỂN
Chất lượng môi trường nước biển là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ ô nhiễm, khả năng chịu tải của hệ sinh thái cũng như mức độ an toàn đối với các hoạt động phát triển kinh tế biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, chất lượng nước biển ven bờ thành phố được theo dõi thông qua chương trình quan trắc môi trường định kỳ do địa phương triển khai. Theo quy hoạch mạng lưới quan trắc, việc lấy mẫu được thực hiện tại 05 vị trí đại diện (Vĩnh Hải, An Thạnh Nam, Trung Bình, Vĩnh Tân và An Thạnh 3) với tần suất 02 tháng/lần, bao gồm các nhóm thông số về nước biển, trầm tích và các yếu tố sinh thái liên quan. Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng môi trường nước biển có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm chỉ tiêu. Các thông số pH và oxy hòa tan (DO) tương đối ổn định và duy trì trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT, phản ánh môi trường nước nhìn chung vẫn đảm bảo điều kiện cơ bản cho đời sống thủy sinh và khả năng tự làm sạch. Tuy nhiên, bên cạnh đó đã xuất hiện các dấu hiệu suy giảm chất lượng nước thông qua sự gia tăng của một số thông số đặc trưng, bao gồm tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Amoni (NH₄⁺), Photphat (PO₄³⁻) và Sắt tổng (Fe).
139
Trong đó, TSS là chỉ tiêu thể hiện rõ nhất tình trạng biến động của môi trường nước. Giá trị TSS vượt quy chuẩn nhiều lần cho thấy độ đục của nước gia tăng đáng kể, làm suy giảm khả năng xuyên sáng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp của thực vật phù du. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự kết hợp giữa đặc điểm tự nhiên vùng ven bờ – nơi chịu tác động mạnh của sóng, thủy triều và dòng chảy mang phù sa – với các hoạt động như nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, nạo vét và khai thác cát, làm gia tăng xáo trộn trầm tích đáy. Đối với các hợp chất dinh dưỡng, sự gia tăng Amoni và Photphat phản ánh rõ tác động của các nguồn thải có nguồn gốc từ hoạt động con người. Amoni hình thành từ quá trình phân hủy chất hữu cơ, thường xuất hiện trong nước thải sinh hoạt và chất thải từ nuôi trồng thủy sản, trong khi Photphat chủ yếu phát sinh từ chất tẩy rửa và dòng chảy mang dinh dưỡng từ đất liền. Việc các thông số này vượt quy chuẩn tại một số thời điểm cho thấy áp lực từ nguồn thải chưa được kiểm soát hiệu quả. Đặc biệt, sự hiện diện đồng thời của Amoni và Photphat làm gia tăng nguy cơ phú dưỡng hóa, có thể dẫn đến hiện tượng phát triển quá mức của tảo và suy giảm oxy hòa tan khi sinh khối tảo phân hủy. Hàm lượng Sắt tổng (Fe) cũng ghi nhận vượt quy chuẩn với mức tương đối cao tại nhiều vị trí, phản ánh sự biến động của môi trường trầm tích và quá trình trao đổi vật chất giữa đáy và cột nước. Ngoài các yếu tố tự nhiên như rửa trôi từ đất liền và giải phóng sắt trong điều kiện yếm khí, các hoạt động ven biển như nạo vét, giao thông thủy và nuôi trồng thủy sản đã góp phần làm xáo trộn trầm tích, dẫn đến gia tăng hàm lượng Fe trong nước. Sự gia tăng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan mà còn có thể tác động đến sinh vật nếu tích tụ kéo dài. Mặc dù DO vẫn nằm trong giới hạn cho phép, sự dao động theo không gian và thời gian cho thấy môi trường nước đã chịu những tác động nhất định từ gia tăng tải lượng hữu cơ và độ đục cao, làm giảm hiệu quả quang hợp và khả năng tự làm sạch. Đây được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm về nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường nước trong trường hợp các nguồn thải tiếp tục gia tăng. Tổng hợp các kết quả trên cho thấy chất lượng nước biển ven bờ thành phố Cần Thơ đang chịu tác động đồng thời của điều kiện tự nhiên và các hoạt động phát triển kinh tế ven biển. Mặc dù chưa ghi nhận sự suy thoái nghiêm trọng trên diện rộng, việc nhiều thông số vượt quy chuẩn tại các thời điểm khác nhau đã phản ánh xu hướng suy giảm cục bộ và tiềm ẩn nguy cơ tích tụ ô nhiễm. Trong bối cảnh đó, nếu không có các biện pháp kiểm soát hiệu quả, đặc biệt đối với nước thải sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản, chất lượng môi trường nước biển trong khu vực có thể tiếp tục suy giảm trong thời gian tới.
140
6.4. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐỐI VỚI CÁC
VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, CẢNH QUAN VÀ HỆ SINH THÁI
6.4.1. Đối với phát triển kinh tế - xã hội
a. Tác động đến sức khỏe cộng đồng dân cư ven biển: Ô nhiễm môi trường biển đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt tại các khu vực có mật độ dân cư cao, nơi tập trung các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản và phát triển công nghiệp ven bờ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ô nhiễm đại dương có mối liên hệ trực tiếp với sự gia tăng gánh nặng bệnh tật toàn cầu (Landrigan et al., 2020; World Health Organization, 2019). Trước hết, ô nhiễm vi sinh trong nước biển làm gia tăng các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, tả, lỵ và viêm gan A, E. Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua hoạt động sinh hoạt, tắm biển hoặc sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, các chất ô nhiễm như kim loại nặng (Hg, Pb, Cd), hợp chất hữu cơ bền vững và vi nhựa có khả năng tích lũy sinh học (bioaccumulation) trong chuỗi thức ăn biển và xâm nhập vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ hải sản. Quá trình này có thể dẫn đến các bệnh mãn tính như ung thư, rối loạn nội tiết, suy giảm chức năng gan, thận và tổn thương hệ thần kinh (Landrigan et al., 2020; United Nations Environment Programme, 2021). Đáng chú ý, các tác động của vi nhựa và các hợp chất hữu cơ bền vững thường không biểu hiện ngay lập tức mà diễn ra âm thầm ở cấp độ tế bào và hệ nội tiết. Quá trình phơi nhiễm kéo dài có thể dẫn đến các rối loạn sinh học nghiêm trọng, khó phát hiện sớm và có nguy cơ gây hậu quả lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, việc tiếp xúc trực tiếp với nước biển ô nhiễm còn làm gia tăng các bệnh về da và đường hô hấp như viêm da, dị ứng, viêm phế quản và hen suyễn. Đáng chú ý, phụ nữ mang thai và trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương do tác động của các chất độc hại, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và sự phát triển thần kinh. Không chỉ dừng lại ở tác động trực tiếp, ô nhiễm môi trường biển còn gây ra các hệ lụy gián tiếp đối với sức khỏe thông qua suy giảm sinh kế, thiếu dinh dưỡng và áp lực tâm lý. Tuy nhiên, các tác động này sẽ được xem xét cụ thể hơn dưới góc độ kinh tế – xã hội ở các mục sau. Nhìn chung, ô nhiễm môi trường biển gây ra các tác động đa chiều đối với sức khỏe cộng đồng, làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng gánh nặng y tế tại khu vực ven biển.
141
b. Tác động đến các ngành kinh tế biển: (i) Nuôi trồng và khai thác thủy sản: Nuôi trồng và khai thác thủy sản là ngành chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất từ ô nhiễm môi trường biển. Ô nhiễm hữu cơ trong nước biển tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh và lây lan của các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn Vibrio spp. (gây bệnh hoại tử gan tụy cấp – AHPND, hội chứng chết sớm
– EMS) và virus đốm trắng (WSSV).
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022), thiệt hại do dịch bệnh tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm lên đến hàng nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập) ghi nhận diện tích nuôi tôm bị thiệt hại dao động từ 5.000 – 15.000 ha/năm. Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra mối tương quan thuận giữa nồng độ chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh trong nước và tỷ lệ tôm mắc bệnh (Tendencia & de la Peña, 2001). Bên cạnh đó, sự tích lũy sinh học của kim loại nặng (As, Hg, Cd), kháng sinh và vi nhựa trong mô thủy sản đang trở thành vấn đề an toàn thực phẩm nghiêm trọng. Một số lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã bị từ chối tại các thị trường như Nhật Bản và EU do dư lượng kháng sinh vượt ngưỡng cho phép (Bộ NN&PTNT, 2021), gây thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu quốc gia. Đối với khai thác thủy sản tự nhiên, ô nhiễm môi trường làm suy giảm trữ lượng và thu hẹp ngư trường, buộc ngư dân phải khai thác xa bờ hơn, làm gia tăng chi phí nhiên liệu và giảm hiệu quả kinh tế (Tran, 2019). Thực tế cho thấy nhiều hộ ngư dân ven biển đã phải chuyển đổi nghề do hoạt động khai thác ngày càng kém hiệu quả. Ngoài ra, ô nhiễm nhựa đang nổi lên như một thách thức mới đối với ngành thủy sản. Vi nhựa không chỉ làm suy giảm chất lượng nước mà còn có thể hấp phụ các chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, hành vi và khả năng sinh sản của vật nuôi thủy sản, từ đó làm giảm năng suất và lợi nhuận (Ecotoxicology and Environmental Safety, 2023). (ii) Du lịch biển: Ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm đáng kể giá trị và sức hấp dẫn của các điểm du lịch ven biển. Tình trạng nước biển đục, rác thải nhựa dạt vào bờ và mùi hôi từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ đã làm giảm chất lượng trải nghiệm của du khách. Theo United Nations World Tourism Organization, ch ất lượng môi trường là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách, và các sự cố ô nhiễm có thể gây thiệt hại kinh tế đáng kể trong cả ngắn hạn và dài hạn (UNWTO, 2019). Thực tế cho thấy nhiều khu vực ven biển dù có tiềm năng nhưng chưa thể phát triển du lịch tương xứng do chất lượng môi trường chưa đảm bảo.
142
Ngoài ra, khoảng 70 – 80% rác thải biển có nguồn gốc từ đất liền, trong khi hoạt động du lịch cũng góp phần gây áp lực môi trường từ 20 – 30%, làm gia tăng nguy cơ suy thoái cảnh quan và hệ sinh thái ven biển. c. Thiệt hại kinh tế và sinh kế: Ô nhiễm môi trường biển gây ra các thiệt hại kinh tế tổng hợp, bao gồm chi phí trực tiếp, gián tiếp và các tổn thất phi thị trường. Trước hết, ô nhiễm môi trường làm gia tăng đáng kể chi phí cho các hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, xử lý nước thải, cải tạo môi trường, nạo vét trầm tích ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái cũng như quan trắc, giám sát và ứng phó với các sự cố môi trường. Khi mức độ ô nhiễm kéo dài hoặc diễn biến phức tạp, chi phí đầu tư cho các hoạt động khắc phục và phục hồi môi trường thường tăng lên đáng kể, tạo áp lực lớn đối với ngân sách nhà nước và nguồn lực của địa phương. Tiếp theo, chi phí phục hồi môi trường bao gồm tái tạo rừng ngập mặn, phục hồi hệ sinh thái và cải thiện chất lượng nước. Các hoạt động này thường kéo dài nhiều năm và đòi hỏi nguồn lực lớn (UNEP, 2021). Bên cạnh đó, thiệt hại gián tiếp bao gồm giảm sản lượng thủy sản, mất doanh thu du lịch, gia tăng chi phí sản xuất và suy giảm năng suất lao động. Những tổn thất này thường có quy mô lớn và kéo dài hơn so với chi phí xử lý trực tiếp (World Bank, 2016; OECD, 2019). Ở cấp độ hộ gia đình, ô nhiễm môi trường biển tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân ven biển, đặc biệt là các cộng đồng phụ thuộc vào thủy sản. Thu nhập giảm, chi phí sản xuất tăng và rủi ro dịch bệnh cao đã khiến một bộ phận người dân rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phải chuyển đổi sinh kế hoặc di cư lao động. Các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng ghi nhận xu hướng gia tăng di cư từ các vùng ven biển do suy giảm sinh kế truyền thống (Nguyen & Pham, 2020). Nhìn chung, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường biển không chỉ thể hiện ở chi phí hữu hình mà còn bao gồm các tổn thất về đa dạng sinh học, cảnh quan và giá trị văn hóa – xã hội, ảnh hưởng lâu dài đến phát triển bền vững của khu vực. Các tác động kinh tế – xã hội nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ với sự suy giảm chất lượng cảnh quan và hệ sinh thái ven biển, vốn là nền tảng duy trì các hoạt động sinh kế và phát triển kinh tế tại khu vực ven biển.
6.4.2. Đối với cảnh quan môi trường
Ô nhiễm môi trường biển không chỉ tác động đến hệ sinh thái và hoạt động kinh tế mà còn gây suy giảm rõ rệt giá trị cảnh quan môi trường ven biển – một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng.
143
Trước hết, rác thải rắn, đặc biệt là rác thải nhựa, là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm giá trị thẩm mỹ của khu vực ven biển. Các loại bao bì nhựa, ngư cụ hỏng, xốp, chai lọ và xác sinh vật biển bị sóng đánh dạt vào bờ tạo nên hình ảnh nhếch nhác tại các bãi biển và khu vực cửa sông. Theo United Nations Environment Programme (2021), rác thải nhựa chiếm tới khoảng 80% tổng lượng rác thải biển toàn cầu, và là tác nhân chính làm suy giảm chất lượng cảnh quan ven biển tại nhiều quốc gia. Bên cạnh đó, ô nhiễm nước biển làm biến đổi đáng kể các đặc trưng thị giác của môi trường. Sự gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), chất hữu cơ và hiện tượng phú dưỡng làm nước biển chuyển sang màu đục, giảm độ trong và làm mất đi màu xanh đặc trưng của vùng biển nhiệt đới. Tại khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, sự kết hợp giữa lượng phù sa lớn từ hệ thống sông Mê Kông và chất thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ càng làm gia tăng tình trạng này. Theo Food and Agriculture Organization (2020), sự gia tăng tải lượng dinh dưỡng và chất hữu cơ trong môi trường nước ven biển có thể làm suy giảm chất lượng nước, gây hiện tượng tảo nở hoa và làm mất giá trị cảnh quan tự nhiên. Ngoài ra, ô nhiễm hữu cơ từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và nước thải sinh hoạt ven biển còn gây phát sinh mùi hôi khó chịu do quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ. Các khí như H₂S, NH₃ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng không gian cảnh quan, đặc biệt tại các khu vực có mật độ nuôi trồng thủy sản cao. Một yếu tố quan trọng khác là sự suy thoái của hệ sinh thái rừng ngập mặn
– thành phần cấu trúc quan trọng của cảnh quan ven biển. Việc suy giảm diện tích và chất lượng rừng ngập mặn do ô nhiễm và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã làm mất đi lớp “đệm sinh thái” tự nhiên, làm gia tăng xói lở bờ biển và giảm tính ổn định của cảnh quan. Theo International Union for Conservation of Nature (2020), rừng ngập mặn không chỉ có giá trị sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ đường bờ và duy trì cảnh quan tự nhiên ven biển.
Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển phát triển thiếu quy hoạch cũng góp phần làm phân mảnh không gian cảnh quan. Hệ thống ao nuôi, bờ đê, kênh dẫn nước và các công trình phụ trợ được xây dựng dày đặc, thiếu đồng bộ đã làm biến đổi mạnh mẽ cấu trúc không gian ven biển, làm giảm tính liên tục và giá trị thẩm mỹ của cảnh quan. Theo các nghiên cứu về quy hoạch ven biển, sự phát triển không kiểm soát của nuôi trồng thủy sản là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng cảnh quan và hệ sinh thái ven bờ (FAO, 2020). Ngoài ra, ô nhiễm rác thải nhựa trên các bãi biển còn gây ra những thay đổi về tính chất vật lý của môi trường nền như độ dẫn nhiệt, khả năng giữ ẩm và cấu trúc hạt cát. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến các loài sinh vật sống trong cát mà còn làm biến đổi đặc điểm tự nhiên của bãi biển, từ đó ảnh hưởng đến giá trị cảnh quan và chức năng sinh thái của khu vực ven bờ (GESAMP, 2016).
144
Nhìn chung, ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm toàn diện giá trị cảnh quan ven biển thông qua nhiều cơ chế khác nhau, từ ô nhiễm trực quan (rác thải), biến đổi chất lượng nước, phát sinh mùi hôi đến suy thoái hệ sinh thái và phân mảnh không gian. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh môi trường mà còn làm giảm tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ và chất lượng sống của cộng đồng ven biển.
6.4.3. Đối với hệ sinh thái
Suy thoái hệ sinh thái ven biển không chỉ là hệ quả của ô nhiễm môi trường mà còn là nguyên nhân gốc rễ làm gia tăng các tác động tiêu cực đến kinh tế – xã hội đã được trình bày ở các mục trước. a. Suy thoái rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn ven biển có vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng sinh thái, nhưng đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng do tác động tổng hợp của ô nhiễm, biến đổi khí hậu và hoạt động kinh tế. Mất rừng ngập mặn đồng nghĩa với mất đi hệ thống lọc sinh học tự nhiên. Trung bình, 2 – 5 ha rừng ngập mặn có thể xử lý nước thải cho 1 ha ao nuôi, do đó sự suy giảm diện tích rừng đã làm giảm đáng kể khả năng tự làm sạch của môi trường ven biển. Ngoài ra, rừng ngập mặn là nơi sinh sản và ươm giống của khoảng 70 – 90% loài thủy sản biển trong ít nhất một giai đoạn vòng đời. Việc suy giảm diện tích rừng làm giảm nguồn giống tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng và khai thác thủy sản. Bên cạnh đó, rừng ngập mặn còn là bể chứa “carbon xanh” quan trọng với khả năng lưu trữ khoảng 1.000 tấn carbon/ha. Sự suy giảm diện tích rừng không chỉ làm mất chức năng này mà còn góp phần gia tăng phát thải khí nhà kính. b. Suy giảm đa dạng sinh học biển: Ô nhiễm môi trường biển, kết hợp với suy thoái sinh cảnh và khai thác quá mức, đang gây ra sự suy giảm đa dạng sinh học biển theo nhiều cơ chế khác nhau tại khu vực ven biển. Các tác động này không chỉ làm giảm số lượng loài mà còn làm biến đổi cấu trúc và chức năng của toàn bộ hệ sinh thái. Trước hết, sự suy giảm chất lượng nước biển và ô nhiễm hữu cơ đã dẫn đến suy giảm quần thể nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế và sinh thái. Nhiều loài cá, tôm, cua có xu hướng giảm cả về số lượng lẫn phạm vi phân bố, làm mất cân bằng cấu trúc quần xã sinh vật biển. Bên cạnh đó, ô nhiễm và suy thoái hệ sinh thái ven bờ, đặc biệt là rừng ngập mặn, bãi triều và vùng cửa sông, đã làm mất nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài thủy sản. Đây là các khu vực đóng vai trò “vườn ươm tự nhiên” cho nhiều loài trong giai đoạn đầu vòng đời. Sự thu hẹp các sinh cảnh này đã làm gián đoạn vòng đời sinh học, từ đó làm suy giảm nguồn lợi thủy sản trong dài hạn.
145
Một cơ chế tác động quan trọng khác là hiện tượng tích lũy sinh học (bioaccumulation) và khuếch đại sinh học (biomagnification) của các chất ô nhiễm như kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ bền vững (POPs) trong chuỗi thức ăn. Các chất độc này tích tụ dần qua các bậc dinh dưỡng và đạt nồng độ cao ở các loài sinh vật bậc cao như cá lớn, chim biển và động vật biển có vú, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, khả năng sinh sản và tỷ lệ sống của chúng. Ngoài ra, ô nhiễm vi nhựa và sự gia tăng bất thường của các chất dinh dưỡng trong nước biển đã làm thay đổi cấu trúc quần xã sinh vật phù du (phytoplankton và zooplankton) – nền tảng của chuỗi thức ăn biển. Những biến đổi này có thể gây ra hiệu ứng lan truyền trong toàn bộ hệ sinh thái, ảnh hưởng đến các bậc dinh dưỡng cao hơn (GESAMP, 2016). Theo International Union for Conservation of Nature (2020), Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ loài sinh vật biển bị đe dọa cao tại khu vực Đông Nam Á, với hơn 100 loài cá biển và 37 loài san hô đang ở tình trạng nguy cấp hoặc dễ bị tổn thương. Trong khoảng 20 năm qua, Việt Nam đã mất khoảng 12% diện tích rạn san hô, và khoảng 48% diện tích còn lại đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Mặc dù khu vực ven biển thành phố Cần Thơ không có hệ sinh thái rạn san hô điển hình, song các hệ sinh thái đặc trưng như rừng ngập mặn, bãi triều và vùng cửa sông cũng đang chịu áp lực suy thoái tương tự, phản ánh xu hướng chung của suy giảm đa dạng sinh học biển tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, ô nhiễm rác thải nhựa trên các bãi biển cát còn gây ra những thay đổi về tính chất vật lý của môi trường nền như độ dẫn nhiệt và khả năng giữ ẩm, từ đó ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái phụ thuộc vào nền cát và các loài sinh vật cư trú tại đây. Điều này cho thấy ô nhiễm nhựa không chỉ là vấn đề môi trường bề mặt mà còn là mối đe dọa sâu rộng đối với cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái ven bờ.
6.5. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, THIÊN TAI, NƯỚC BIỂN DÂNG, SỰ CỐ MÔI
TRƯỜNG
6.5.1. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng lên môi trường
biển Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tạo ra những tác động ngày càng rõ nét đối với môi trường biển, hệ sinh thái ven biển, tài nguyên nước và sinh kế của cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Một trong những tác động nổi bật là tình trạng sạt lở bờ biển, bờ sông và đê biển diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực ven biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, toàn khu vực ghi nhận nhiều vụ sạt lở với quy mô lớn. Năm 2021 xảy ra 143 đoạn sạt lở với tổng chiều dài 52.345 m; năm 2022 ghi nhận 60 đoạn sạt lở và sụt lún
146
dài 3.345 m; năm 2023 xảy ra nhiều vụ sạt lở bờ sông và 88 vụ sạt lở đê cồn, đê biển với tổng chiều dài khoảng 1.875 m; năm 2024 ghi nhận 79 đoạn sạt lở dài 2.874 m; và năm 2025 tiếp tục xảy ra 121 đợt sạt lở với tổng chiều dài khoảng 3.007 m. Tình trạng sạt lở kéo dài làm gia tăng nguy cơ mất đất ven biển, ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, khu dân cư và các hoạt động sản xuất ven bờ (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
Triều cường và ngập lụt gia tăng cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và các hoạt động kinh tế ven biển. Đặc biệt, đợt triều cường lịch sử năm 2025 kết hợp mưa lớn đã gây ngập khoảng 9.500 ha diện tích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, gây thiệt hại khoảng 70 tỷ đồng. Tại khu vực Vĩnh Hải, sóng lớn kết hợp triều cường đã làm hư hỏng một số công trình bảo vệ ven biển và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của người dân địa phương (Nguồn: Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025). Xâm nhập mặn gia tăng đang tác động trực tiếp đến tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp. Trong mùa khô 2023 – 2024, khoảng 19.355 hộ dân bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu nước sinh hoạt; khoảng 573,79 ha lúa Đông Xuân muộn bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn, trong đó 32,69 ha bị thiệt hại hoàn toàn. Tình trạng thiếu nước ngọt kéo dài làm gia tăng nhu cầu khai thác nước dưới đất, qua đó tạo thêm áp lực đối với nguồn tài nguyên nước ngầm ven biển (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024). Biến đổi khí hậu còn làm thay đổi chế độ thủy văn, độ mặn và điều kiện môi trường tại các vùng cửa sông, ven biển. Những biến động này có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn, làm thay đổi môi trường sống, nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Tác động của biến đổi khí hậu cũng được phản ánh qua các thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra. Năm 2021, thiên tai gây thiệt hại khoảng 342,087 tỷ đồng; năm 2022 khoảng 78,369 tỷ đồng; năm 2023 khoảng 40,204 tỷ đồng; năm 2024 khoảng 31,32 tỷ đồng; và năm 2025 khoảng 109,19 tỷ đồng. Các số liệu này cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của khu vực ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025). Nhìn chung, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai đang làm gia tăng nguy cơ suy thoái môi trường ven biển, ảnh hưởng đến tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh kế của cộng đồng dân cư. Các tác động này có xu hướng kéo dài và tích lũy theo thời gian, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tăng cường năng lực thích ứng và quản lý bền vững tài nguyên, môi trường biển.
147
6.5.2. Sự cố môi trường biển
Hoạt động phát triển kinh tế biển, công nghiệp ven biển, cảng biển, giao thông hàng hải và nuôi trồng thủy sản không chỉ tạo ra các nguồn ô nhiễm thường xuyên mà còn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường với phạm vi ảnh hưởng rộng và hậu quả kéo dài. Mặc dù trong giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn thành phố chưa ghi nhận các sự cố môi trường biển đặc biệt nghiêm trọng, song cùng với định hướng phát triển Khu công nghiệp Trần Đề, Khu công nghiệp Mỹ Thanh, Cảng biển Trần Đề và các dự án điện gió ven biển, nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường trong tương lai có xu hướng gia tăng nếu không được quản lý và kiểm soát hiệu quả. Sự cố tràn dầu và rò rỉ nhiên liệu: Vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế và khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi. Hoạt động vận tải biển, tàu cá, tàu dịch vụ, phương tiện nạo vét luồng hàng hải, kho chứa nhiên liệu và các cơ sở hậu cần nghề cá đều tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu, rò rỉ nhiên liệu hoặc dầu mỡ bôi trơn. Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm (Bộ TN&MT, 2018), vùng biển Nam Bộ đã từng ghi nhận nhiều vệt dầu loang trôi dạt vào bờ từ nguồn không xác định, gây ô nhiễm cục bộ vùng ven biển và ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn. Dầu tràn tạo lớp màng trên bề mặt nước, làm giảm khả năng khuếch tán ôxy, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật phù du và gây độc đối với nhiều loài sinh vật biển, đặc biệt là trứng, ấu trùng và cá con. Khi dầu bám vào bãi triều, rừng ngập mặn hoặc bãi nuôi nghêu, sò, quá trình phục hồi hệ sinh thái thường diễn ra chậm và có thể kéo dài nhiều năm. Ngoài thiệt hại về môi trường, sự cố tràn dầu còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, giao thông hàng hải, cảng cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và phát triển du lịch ven biển. Sự cố hóa chất và chất thải nguy hại: Hoạt động của các khu công nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản, kho lạnh, cảng biển và trung tâm logistics có sử dụng, lưu giữ nhiều loại hóa chất, nhiên liệu, dầu mỡ, chất tẩy rửa và chất thải nguy hại. Trong trường hợp xảy ra cháy nổ, rò rỉ hóa chất, vỡ bồn chứa hoặc sự cố trong quá trình thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải nguy hại, các chất ô nhiễm có thể theo hệ thống thoát nước hoặc dòng chảy mặt lan truyền ra sông, cửa sông và vùng biển ven bờ, gây ô nhiễm nước, trầm tích và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái thủy sinh. Một số chất ô nhiễm có khả năng tích lũy trong trầm tích và sinh vật biển, làm gia tăng nguy cơ tích lũy sinh học và ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Sự cố từ hoạt động giao thông thủy, cảng biển và dịch vụ hậu cần nghề cá: Quá trình bốc xếp hàng hóa, neo đậu tàu thuyền, tiếp nhận nhiên liệu, sửa chữa phương tiện, nạo vét luồng hàng hải và hoạt động của các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra va chạm tàu, chìm tàu, cháy nổ hoặc phát tán dầu mỡ và chất thải từ tàu xuống môi trường biển. Khi quy mô hoạt động vận tải và logistics gắn với Cảng biển Trần Đề ngày càng mở rộng, nếu công tác
148
quản lý chất thải, ứng phó sự cố và kiểm soát môi trường không được thực hiện đồng bộ sẽ làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm cục bộ đối với vùng cửa sông và vùng biển ven bờ.
Sự cố ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản: Tại các vùng nuôi tôm thâm canh, hiện tượng tôm chết hàng loạt do dịch bệnh, ô nhiễm môi trường ao nuôi hoặc biến động bất thường của các yếu tố thủy văn, chất lượng nước vẫn xảy ra ở một số thời điểm. Việc xả nước ao nuôi chưa qua xử lý hoặc xả nước từ các ao nuôi bị dịch bệnh ra kênh rạch và vùng ven biển có thể làm phát tán mầm bệnh, gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh, gây ô nhiễm cục bộ nguồn nước tiếp nhận và làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh sang các khu vực nuôi lân cận. Sự cố trong quá trình phát triển điện gió ven biển và ngoài khơi: Các dự án điện gió ven biển và ngoài khơi có nguy cơ phát sinh sự cố trong quá trình thi công và vận hành như rò rỉ dầu thủy lực, sự cố thiết bị hoặc tai nạn hàng hải trong quá trình vận chuyển, lắp đặt tua bin. Mặc dù xác suất xảy ra không lớn và quy mô tác động thường mang tính cục bộ, các sự cố này vẫn cần được kiểm soát thông qua kế hoạch ứng phó sự cố môi trường, giám sát thường xuyên và tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường trong suốt vòng đời dự án. Nhìn chung, nguy cơ sự cố môi trường biển trên địa bàn thành phố chủ yếu liên quan đến hoạt động hàng hải, cảng biển, công nghiệp ven biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, nuôi trồng thủy sản và phát triển năng lượng tái tạo. Trong bối cảnh quy mô các hoạt động kinh tế biển tiếp tục mở rộng, việc xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nâng cao năng lực ứng phó sự cố, tăng cường quan trắc, cảnh báo sớm và phối hợp giữa các cơ quan quản lý là những giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu thiệt hại đối với môi trường biển, hệ sinh thái và cộng đồng ven biển.
6.6. XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG
Xung đột môi trường tại vùng ven biển Cần Thơ phản ánh sự mâu thuẫn lợi ích ngày càng gay gắt giữa các bên liên quan trong việc sử dụng và bảo vệ không gian và tài nguyên biển - ven biển. Đây là biểu hiện của việc thiếu một khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng bờ đủ mạnh và được thực thi hiệu quả.
6.6.1. Xung đột giữa các hoạt động kinh tế
- Xung đột giữa nuôi trồng thủy sản thâm canh và bảo tồn sinh thái: Đây là dạng xung đột nổi bật nhất tại Cần Thơ. Nhu cầu mở rộng diện tích ao nuôi tôm để tăng sản lượng và thu nhập trực tiếp xung đột với mục tiêu bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn vừa là vùng đệm bảo vệ bờ biển vừa là nơi sinh sản của tôm giống tự nhiên - nguồn lợi mà chính nghề nuôi tôm phụ thuộc vào. Việc phá RNM để lấy đất nuôi tôm tạo ra một mâu thuẫn 'tự triệt tiêu': người nuôi tôm phá hủy chính nguồn giống tự nhiên và bộ đệm sinh thái mà họ cần dựa vào. Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, việc phá hủy RNM cần được kiểm soát nghiêm ngặt.
149
- Xung đột giữa khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản: Nước thải từ ao nuôi tôm thâm canh (giàu chất dinh dưỡng, kháng sinh, mầm bệnh) ảnh hưởng đến chất lượng nước biển ven bờ, gây hại cho ngư dân khai thác tự nhiên và nghề nuôi khác. Ngược lại, hoạt động lưới kéo ven bờ của ngư dân làm hỏng ống dẫn nước, thiết bị lấy nước biển của các trại tôm. Hai bên thường xuyên có tranh chấp về vùng hoạt động và thiệt hại do nhau gây ra.
- Xung đột giữa phát triển công nghiệp/đô thị và bảo vệ môi trường biển: Xu hướng phát triển khu công nghiệp, cảng biển và đô thị ven biển (trong đó có định hướng phát triển cảng Trần Đề thành cảng nước sâu lớn của vùng ĐBSCL) mang theo nguy cơ ô nhiễm công nghiệp, thay đổi chế độ dòng chảy ven bờ và lấn lấp bãi triều.
6.6.2. Xung đột lợi ích giữa các nhóm
Người dân – Doanh nghiệp: Các hộ ngư dân nhỏ lẻ ven biển chịu thiệt thòi kép từ việc doanh nghiệp nuôi tôm lớn xả thải làm ô nhiễm ngư trường truyền thống của họ. Trong nhiều trường hợp, người dân thiếu điều kiện đo đạc, lưu trữ bằng chứng và tiếp cận pháp lý để bảo vệ quyền lợi, trong khi doanh nghiệp có lợi thế thương lượng và pháp lý lớn hơn. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích và rủi ro môi trường. Người dân – Cơ quan quản lý: Người dân ven biển không được tham gia đầy đủ vào quá trình lập quy hoạch và quản lý tài nguyên biển. Các quyết định về cấp phép nuôi trồng thủy sản, xả thải và bảo tồn thường được đưa ra từ trên xuống mà thiếu cơ chế tham vấn cộng đồng thực chất. Điều này dẫn đến thiếu đồng thuận xã hội và khó khăn trong thực thi các quy định về bảo vệ môi trường biển. Ngư dân ven bờ – Ngư dân xa bờ: Xung đột giữa ngư dân sử dụng tàu nhỏ khai thác ven bờ và tàu lớn hoạt động ở vùng lộng và khơi về ranh giới vùng khai thác, nguồn lợi và an toàn hàng hải diễn ra thường xuyên. Ngư dân ven bờ phàn nàn rằng tàu lớn xâm phạm vùng khai thác ven bờ và khai thác cạn kiệt nguồn lợi mà họ phụ thuộc vào. Theo Luật Thủy sản 2017 và các quy định liên quan, phân vùng khai thác và quản lý tàu thuyền là trách nhiệm của Sở NN&PTNT, tuy nhiên năng lực giám sát và cưỡng chế trên biển còn hạn chế, dẫn đến nhiều quy định không được tuân thủ trên thực tế. Tình trạng này đòi hỏi một hệ thống quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM) và quản lý không gian biển (Marine Spatial Planning - MSP) được xây dựng và triển khai bài bản.
150
CHƯƠNG 7. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
7.1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU VỀ MÔI TRƯỜNG
TRONG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
7.1.1. Tổng quan tnh hnh kinh tế - xã hội, môi trường thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 - 2025 Thành phố Cần Thơ đã trải qua giai đoạn 2021 – 2025 với nhiều chuyển biến quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý đô thị và môi trường. Đặc biệt là trong hai năm cuối giai đoạn đã thực hiện sáp nhập từ 03 địa phương gồm thành phố Cần Thơ (cũ), tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng. Giai đoạn đầu sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Cần Thơ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Xuất phát từ áp lực đô thị hóa, công nghiệp hóa, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp, nước thải, bụi khí thải ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học bị suy giảm. Ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, sạt lở, tình hình thiên tai diễn biến phức tạp cũng là một trong những yếu tố làm chậm quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trong giai đoạn này, mục tiêu đặt ra cho nhóm chỉ tiêu về môi trường là duy trì bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường sống và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Bảng 7.1. Tổng hợp chỉ tiêu môi trường giai đoạn trước sáp nhập (Nguồn: Nghị quyết 16/2021/QH15, Kế hoạch KT-XH TP. Cần Thơ, Kế hoạch 22/KH-
| Nhóm chỉ tiêu | Chỉ tiêu | Quốc gia (%) | Cần Thơ (%) | Hậu Giang (%) | Sóc Trăng (%) |
| Tỷ lệ hộ dân thành thị dùng nước sạch | 95 - 100 | 100 | 98 | 98-100 | |
| Chất lượng môi trường | Tỷ lệ hộ dân nông thôn dùng nước sạch | 93 – 95 | 96 | 95 | 92 - 95 |
| Tỷ lệ thu gom, xử lý CTR đô thị đạt chuẩn | 90 | 100 | >90 | 90 - 95 | |
| Quản lý chất thải | Tỷ lệ xử lý cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng | 100 | 100 | 100 | 100 |
| Tỷ lệ KCN có HTXLNT tập trung đạt chuẩn | 92 | 100 | 100 | 100 | |
| Bảo tồn & Đa dạng sinh học | Tỷ lệ che phủ rừng | ≥ 42 | Duy trì | Duy trì | 2 – 3 (đặc thù ven biển) |
UBND tỉnh Hậu Giang và Chiến lược BVMT tỉnh Sóc Trăng)
151
7.1.2. Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu về môi trường trong Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021
- 2025 Theo báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ dựa trên kết quả triển khai Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ. Đến năm 2025 đã đạt được các kết quả như sau: Các kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố đạt kết quả cao. Tính đến đầu năm 2025, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95% (năm 2021 đạt 91,3%); tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải nguy hại đạt 98% (năm 2021 đạt 97%). Duy trì cấp nước liên tục, đủ áp lực, chất lượng nước; mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch, hoàn thành các chỉ tiêu về nước sạch với tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch khu vực đô thị đạt 95% (năm 2021 đạt 91,4%); tỷ lệ hộ dân nông thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74% (năm 2021 đạt 70,2%). Đồng thời đảm bảo rà soát, xử lý các bất cập của hệ thống thoát nước trên địa bàn thường xuyên và trong mùa mưa bão, ngập nước. Việc thực hiện các chỉ tiêu thống kê môi trường cũng đạt được một số kết quả như sau:
- Thành phố Cần Thơ đã thực hiện đầy đủ báo cáo bộ chỉ tiêu thống kê môi trường theo quy định.
- Triển khai tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu trong bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Thực hiện báo cáo các chỉ tiêu thống kê môi trường trong danh mục các chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom; xử lý; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý.
- Đối với các chỉ tiêu môi trường liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường biển – ven biển:
+ Hoàn thành dự án liên quan đến quan trắc chất lượng nước biển ven bờ và bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái biển.
+ Xử lý rác thải nhựa ven biển đạt yêu cầu theo kế hoạch đề ra và thực hiện báo cáo chuyên đề rác thải nhựa năm 2023.
+ Tích hợp bảo vệ môi trường biển vào quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm ứng phó biến đổi khí hậu và giảm ô nhiễm nguồn nước.
152
Tổng thể cho thấy, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và môi trường của thành phố đang đi đúng hướng. Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu môi trường đều ổn định và tăng dần qua các năm. Những con số cải thiện rõ rệt so với năm 2021 chứng tỏ hiệu quả của các kế hoạch hành động, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và tác động của biến đổi khí hậu. Trong giai đoạn sắp tới, để duy trì đà tăng trưởng và vượt qua thách thức, cần lưu ý một số vấn đề then chốt: Đầu tư đồng bộ hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải để giảm ngập úng mùa mưa bão; Nâng cao tỷ lệ sử dụng nước sạch, ưu tiên vùng nông thôn và các khu vực khó khăn; Tăng cường giám sát, ứng dụng công nghệ quan trắc tự động cho chất thải nhựa và nước biển ven bờ; Nâng cao nhận thức cộng đồng qua các chiến dịch truyền thông, khuyến khích phân loại rác tại nguồn và giảm thiểu nhựa dùng một lần. Đồng thời việc tích hợp bảo vệ môi trường vào quy hoạch dài hạn cần được cụ thể hóa bằng các dự án ưu tiên, nguồn vốn đa dạng (ngân sách nhà nước, ODA, ...) và cơ chế đánh giá định kỳ.
7.2. HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
7.2.1. Hệ thống văn bản triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ môi trường, môi trường biển – ven biển của Trung ương Tình hình xây dựng hệ thống văn bản pháp luật của Trung ương về triển khai thực hiện các chính sách pháp luật bảo vệ môi trường, môi trường biển và hải đảo ở Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng đồng bộ, toàn diện và có thứ bậc rõ ràng. Dựa trên khung pháp lý nền tảng là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 làm cơ sở cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành đã được ban hành kịp thời cùng với các chiến lược, chương trình quốc gia về phát triển bền vững kinh tế biển, quản lý tổng hợp vùng bờ biển và kiểm soát ô nhiễm góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, thúc đẩy cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và nâng cao hiệu quả thực thi quản lý tài nguyên môi trường biển và hải đảo. (i) Khung nền tảng pháp lý (cấp luật):
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: Quy định về Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quan trắc môi trường, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, ứng phó sự cố và quản lý chất thải. Đây là nền tảng chung cho công tác bảo vệ môi trường bao gồm cả môi trường biển.
- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015: Quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đặc biệt là cơ chế quản lý vùng bờ và kiểm soát ô nhiễm biển. (ii) Văn bản hướng dẫn thi hành (cấp Nghị định, Thông tư):
153
- Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 05/2025/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 48/2026/NĐ-CP của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025.
- Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
- Nghị định số 41/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam.
- Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10 tháng 2 năm 2021 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
- Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ dung một số điều của Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10/2/2021 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
- Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới, trong đó có nội dung về cơ chế hỗ trợ phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời trên biển.
- Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT - Quy định kỹ thuật về quan trắc môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường.
- Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 07/2025/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT; Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT.
154
- Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT - Quy định kỹ thuật thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, giúp ngăn chặn các hoạt động xâm hại đến hệ sinh thái ven biển và bảo vệ quỹ đất cho phát triển bền vững.
- Thông tư số 01/2025/TT-BKHĐT ngày 02/1/2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định bộ chỉ tiêu thống kê quốc gia về biển và hải đảo và bộ chỉ tiêu đánh giá quốc gia biển mạnh. (iii) Chiến lược phát triển (Nghị quyết, Quyết định): Cùng với việc áp dụng các chính sách pháp luật theo khuôn khổ pháp lý của Luật và các Nghị định, Thông tư trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản liên quan với mục tiêu đến năm 2030, tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả để phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển và dung lịch ven biển. (iv) Các văn bản quy phạm pháp luật khác đã triển khai:
- Nghị quyết số 139/2020/QH15 của Quốc hội phê duyệt Quy hoạch không gian biển quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ ngày 05/3/2020 Ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ- TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ Phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 07/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 25/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 27/0/2025 của Chính phủ Ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030. Việc cụ thể hóa luật định bằng hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết với sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền đã góp phần hiệu quả trong việc duy trì công tác quản lý rác thải nhựa và kiểm soát ô nhiễm. Hoạt động hợp tác quốc tế được mở rộng, giúp nâng cao năng lực quản lý và hội nhập với các chuẩn mực toàn cầu trong các lĩnh vực về biển.
155
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn vướng mắc như thiếu hụt nguồn lực, tài chính, hạ tầng công nghệ chưa đủ hiện đại để đáp ứng trong việc giám sát. Sự chồng chéo trong quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại và kiểm soát nguồn thải từ đất liền vẫn còn là nút thắt cần tháo gỡ. Do đó cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực thực thi và đẩy mạnh quản lý tổng hợp nhằm bảo vệ môi trường biển và hải đảo một cách hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn tiếp theo.
7.2.2. Các văn bản pháp lý và chương trnh, kế hoạch của thành phố Cần
Thơ liên quan đến quản lý môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021
– 2025 a. Một số chính sách pháp luật về tài nguyên môi trường biển đảo đã ban hành như sau:
- Quyết định số 890/QĐ-TTg ngày 25/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án "Thu gom tự động rác nổi trên sông" do tổ chức Làm sạch biển (TOC) của Hà Lan tài trợ tại thành phố Cần Thơ.
- Quyết định số 1519/QĐ-TTg ngày 02/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm số 70/KH-UBND ngày 10/6/2020 thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Cần Thơ (đề ra 21 đề án, dự án, nhiệm vụ thuộc 06 lĩnh vực trọng tâm cho giai đoạn đột phá 2021 - 2025) .
- Quyết định số 791/QĐ-UBND ngày 14/4/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt dự án “Xây dựng bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu và tăng cường mạng lưới quan trắc xâm nhập mặn tại thành phố Cần Thơ” do Bộ Ngoại giao Hàn Quốc tài trợ thông qua Quỹ Hợp tác Mekong - Hàn Quốc (MKCF).
- Quyết định số 508/QĐ-UBND ngày 21/02/2022 phê duyệt Chương trình quan trắc chất lượng môi trường giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Sóc Trăng.
- Quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 01/4/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về việc ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1883/QĐ-UBND ngày 21/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật “Xây dựng kế hoạch hành động lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2023 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ.
156
- Quyết định số 10/2024/QĐ-UBND ngày 05/2/2024 Quy định Khu vực, địa điểm đổ thải, nhận chìm đối với vật chất nạo vét từ hệ thống giao thông đường thủy nội địa, đường biển trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Quyết định số 11/2024/QĐ-UBND ngày 05/2/2024 Quy định về quản lý, bảo vệ hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Quyết định số 224/QĐ-UBND ngày 23/01/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho cộng đồng tại thành phố Cần Thơ” do Quỹ Z Zurich tài trợ thông qua Tổ chức ISET (Hoa Kỳ) .
- Quyết định số 1091/QĐ-UBND ngày 09/5/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực biển và hải đảo thuộc phạm vi quản lý của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sóc Trăng.
- Quyết định số 1995/QĐ-UBND ngày 22/10/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về phê duyệt nội dung quy hoạch cần điều chỉnh để triển khai lập điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 28/10/2025 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (định hướng phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu).
- Quyết định số 3696/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ đến năm 2030 được thành phố xây dựng, thực thi nhằm phục vụ công tác quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên vùng ven biển, đảo. b. Các nhiệm vụ, dự án đã triển khai thực hiện:
- Dự án Thu gom tự động rác nổi trên sông do tổ chức Làm sạch biển (TOC) của Hà Lan tài trợ (được phê duyệt năm 2020).
- Dự án “Xây dựng bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu và tăng cường mạng lưới quan trắc xâm nhập mặn tại thành phố Cần Thơ” do Bộ Ngoại giao Hàn Quốc tài trợ thông qua Quỹ Hợp tác Mekong - Hàn Quốc (MKCF) (được phê duyệt năm 2021).
- Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo tỉnh Sóc Trăng năm 2023 – Chuyên đề “Rác thải nhựa vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” (năm 2023).
- Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Xây dựng kế hoạch hành động lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2023 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ (được phê duyệt năm 2023).
157
- Tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Đại dương thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam 2024 (năm 2024).
- Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho cộng đồng tại thành phố Cần Thơ” do Quỹ Z Zurich tài trợ thông qua Tổ chức ISET (Hoa Kỳ) (được phê duyệt năm 2025) .
- Dự án “Đầu tư trang thiết bị Phòng Thí nghiệm Công nghệ sinh học, Phân tích hóa lý và Vi sinh tỉnh Sóc Trăng” với tổng mức đầu tư là 9,74 tỷ đồng .
- Dự án xây dựng Phòng Thí nghiệm thuộc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường (nay thuộc thành phố Cần Thơ) đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005.
- Dự án xây dựng Trại thực nghiệm công nghệ sinh học và Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ với tổng dự toán 40,43 tỷ đồng.
- Dự án Xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm trứng bào xác Artemia Vĩnh Châu của tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Xây dựng mô hình nuôi tôm sú (Penaeus monodon) kết hợp với các đối tượng có giá trị kinh tế cao (cá đối mục, cá măng) theo hướng bền vững tại khu vực ven biển tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Đề tài Nghiên cứu quy trình nuôi Artemia ở độ mặn thấp theo chế độ dinh dưỡng cải tiến tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) .
- Dự án Xây dựng mô hình tự động quản lý môi trường nước trong ao nuôi tôm tại Hợp tác xã nuôi trồng thủy sản ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Cải tiến mô hình nuôi tôm thẻ trong ao đất tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá chốt nghệ (Mystus gulio) trong điều kiện nhân tạo tại tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Đề tài Nghiên cứu đánh giá hiện trạng bãi nghêu và đề xuất quy hoạch vùng nuôi nghêu phù hợp tại vùng biển ven bờ huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Hoàn thiện và nhân rộng mô hình nuôi Artemia theo quy trình nuôi ở độ mặn thấp thích ứng với biến đổi khí hậu cho vùng ruộng muối Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Tuyến đường trục phát triển kinh tế Đông Tây tỉnh Sóc Trăng.
- Đường giao thông đến Trung tâm xã Hòa Đông (đường Huyện 41).
- Đường giao thông đến trung tâm xã Đại Ân 1.
- Tuyến đường trục giao thông từ kênh Tư đến cống Bãi Giá.
158
- Các dự án nâng cấp, mở rộng, cải tạo các tuyến đường Tỉnh: 932, 932B, 933, 933B, 934, 935, 936, 938, 939, 940.
- Xây dựng tuyến đê bao ngăn mặn và đường phục vụ an ninh quốc phòng, ứng cứu tàu thuyền vùng biển huyện Trần Đề.
- Dự án Nâng cấp đê biển kết hợp xây dựng hệ thống ngăn mặn từ cầu Mỹ Thanh 2 đến ranh Bạc Liêu (đoạn từ Trà Sết đến ranh Bạc Liêu).
- Dự án Đê biển từ cầu Mỹ Thanh 2 đến ranh Bạc Liêu (đoạn cầu Mỹ Thanh 2 đến Trà Sết), thị xã Vĩnh Châu ở giai đoạn 1.
- Công trình nâng cấp đê cửa sông Tả Hữu Cù Lao Dung.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình Gia cố sạt lở bờ biển từ đoạn K39 đến K45, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình Gia cố chống sạt lở bờ biển đặc biệt nguy hiểm đoạn từ cống số 2 đến cống số 4, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Tái cơ cấu sản xuất và phòng chống giảm nhẹ thiên tai vùng sản xuất hành tím của đồng bào Khmer, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi thủy sản tại thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Nâng cấp, mở rộng cảng cá Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Trần Đề
3
(giai đoạn 1) với công suất đạt 4.500 m
- Phối hợp trong công tác thẩm định 02 hồ sơ đề nghị giao khu vực biển của hai Tiểu khu B1.1 và B1.2 để khai thác, cung cấp cát biển san lấp phục vụ cho Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025.
- Dự án thành phần 4 thuộc dự án xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Đại Ngãi trên Quốc lộ 60 (dự kiến hoàn thành trước năm 2030).
- Dự án “Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ tỉnh Sóc Trăng đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045” (hoặc tiêu đề tương tự trong văn bản là "Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ đến năm 2030").
- Thỏa thuận toàn cầu của các thị trưởng về Khí hậu và Năng lượng (GCom)
- Dự án “Điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường vùng bờ tỉnh Sóc Trăng”.
- Phối hợp với Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) trong khuôn Dự án “Tiết giảm, tái sử dụng, tái chế rác thải nhựa bảo vệ môi trường biển và các rạn san hô khu vực Đông Nam Á (3RproMar) triển khai trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
159
7.3. HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
7.3.1. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường từ cấp thành phố đến cấp
xã, phường Theo Quyết định 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, mô hình chính quyền địa phương được tinh gọn thành 2 cấp:
- Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương): Giữ nguyên cơ cấu tổ chức hiện tại, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Trung ương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn.
- Cấp xã (xã, phường trong đất liền và đặc khu ở hải đảo): bỏ cấp huyện và thị trấn; cấp xã đảm nhận toàn bộ nhiệm vụ của cả cấp huyện và xã cũ với tối đa 4 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã (do UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể dựa trên điều kiện địa phương để đảm bảo tinh gọn hiệu quả). Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vận hành Chính quyền địa phương hai cấp, UBND thành phố Cần thơ đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và UBND các xã, phường nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cũng như chủ động rà soát, đánh giá khả năng thực hiện tại các cơ quan đơn vị ở địa phương để kịp thời đưa ra các đề xuất, điều chỉnh, hướng dẫn và sửa đổi hoặc kiến nghị để có phương hướng thực hiện phù hợp theo lộ trình và tình hình thực tiễn. Tính đến thời điểm hiện tại, đã thực hiện rà soát và xử lý 399 văn bản (135
Nghị quyết, 264 Quyết định) trên tổng số 1.310 văn bản quy phạm pháp luật của 03 địa phương trước sáp nhập (thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang). Hiện tại thành phố Cần Thơ đang tiếp tục rà soát, lập danh mục và đề xuất hình thức xử lý cụ thể đối với từng văn bản. Đồng thời đã ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của 14/14 cơ quan chuyên môn cấp thành phố và 100% UBND xã, phường đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Đến cuối năm 2025, thành phố đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND thành phố và các cơ quan chuyên môn theo đúng chủ trương, quy định và hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương. Thành lập các phòng chuyên môn và tổ chức hành chính trực thuộc UBND cấp xã theo định hướng và quy định của cấp có thẩm quyền, đồng thời sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập tiếp nhận từ cấp huyện. Tổng số xã, phường sau sắp xếp là 103 đơn vị (31 phường 72 xã) với 299 phòng chuyên môn cấp xã không bao gồm Trung tâm Phục vụ hành chính công.
160
Việc cơ cấu tổ chức và đội ngũ chuyên môn làm công tác quản lý môi trường được phân công rõ ràng và cụ thể ở các cấp. Đối với cấp thành phố, công tác quản lý môi trường được giao tập trung về Sở Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục Môi trường có 30 biên chế công chức, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường có 67 biên chế viên chức và người lao động và Phòng TNN, KS và Biển: ....) . Một số nhiệm vụ khác liên quan được giao Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ; Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ; Công an thành phố phụ trách và phối hợp thực hiện. Công tác quản lý môi trường tại cấp xã hầu hết được giao về Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (gồm 01 lãnh đạo phòng và 01 chuyên viên phụ trách).
7.3.2. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo theo mô
hnh hai cấp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo tại Việt Nam
căn cứ Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH ngày 26/2/2025, tập trung vào phân cấp giữa Trung ương và địa phương với sự phân công rõ ràng để đảm bảo quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Cấp trung ương chủ trì lập chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể và chương trình điều tra cơ bản trong khi cấp địa phương thực hiện hóa các nhiệm vụ này.
Theo Quyết định số 08/2025/QĐ-UBND ngày 07/7/2025 của UBND thành phố Cần Thơ, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ là cơ quan tham mưu, trình UBND thành phố xây dựng và ban hành các kế hoạch, phương án và các nội dung có liên quan trong công tác quản lý nhà nước và về tài nguyên và môi trường trên địa bàn thành phố bao gồm các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực biển và hải đảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nông nghiệp và Môi trường. Ở cấp phường xã, theo Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ, lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường, trong đó có biển và hải đảo (đối với đơn vị hành chính có biển, đảo do Phòng Kinh tế, Hạ tầng và đô thị tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Sau giai đoạn sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, hình thành thành phố Cần Thơ (gồm thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang), thành phố Cần Thơ mới đã ban hành Quyết định số 1708/QĐ-UBND ngày 27/6/2025 thành phố Cần Thơ về việc công bố Danh mục các thủ tục hành chính lĩnh vực biển và hải đảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nông nghiệp và Môi trường; Ủy ban nhân dân xã, phường trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Trong đó, các thủ tục liên quan đến giao, trả, gia hạn khu vực biển; giấy phép nhận chìm; hoạt động liên quan đến cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển quản lý hành chính trên biển của cấp tỉnh; khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường biển và hải đảo thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh thành phố. Các thủ tục liên quan đến việc giao khu vực biển cho cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.
161
Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý môi trường, môi trường biển và hải đảo theo mô hình hai cấp đã ở mức khá đầy đủ và đang từng bước hoàn thiện. Luật Bảo vệ môi trường 2020 được đánh giá là một trong những luật môi trường tiến bộ nhất trong khu vực ASEAN về tính tích hợp và tiếp cận rủi ro (UNDP Việt Nam, 2021). Việc chuyển từ hệ thống nhiều loại giấy phép/xác nhận sang Giấy phép môi trường về lý thuyết đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn triển khai còn nhiều hạn chế cần nhìn nhận. Khoảng cách giữa quy định pháp luật và năng lực thực thi địa phương vẫn còn lớn. Thiếu nguồn nhân lực cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực môi trường, cũng như chưa được tập huấn, đào tạo bài bản chuyên sâu về các quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường 2020 vá các VB hướng dẫn thi hành, dẫn đến lúng túng trong áp dụng và khó khăn trong công tác thẩm định hồ sơ tại một số địa phương.
7.4. VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG BIỂN
7.4.1. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ môi trường biển
Nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường từ ngân sách Nhà nước được quản lý và sử dụng trên cơ sở bám sát nội dung Thông tư 02/2017/TT-BTC ngày 06/1/2017 của Bộ Tài chính và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phân định các nhiệm vụ chi về bảo vệ môi trường của ngân sách địa phương. Trên cơ sở nhu cầu thực tế, bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách và kinh phí được phân bổ cho các hoạt động trọng tâm như: thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; quan trắc, giám sát chất lượng môi trường; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng; hỗ trợ triển khai các mô hình phân loại rác tại nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương. Thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, UBND thành phố đã giao dự toán ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường cho các Sở, ngành và địa phương. Cụ thể, theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025, thành phố đã phân bổ nguồn tài chính để chi cho hoạt động bảo vệ môi trường với tổng số tiền là 600.327 triệu đồng. Trong đó, tổng số, tỷ lệ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển chi cho bảo vệ môi trường là 53.844 triệu đồng, chiếm 0,18% trong tổng chi đầu tư phát triển. Tổng số, tỷ lệ ngân sách nhà nước chi hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường là 454.787 triệu đồng, chiếm 0,018% trong tổng chi thường xuyên. Tổng số, tỷ lệ vốn ODA chi cho hoạt động bảo vệ môi trường: 91.696 triệu đồng, chiếm 34,07%. Trong công tác bảo vệ môi trường biển trên địa bàn thành phố, các phương án, chủ trương đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án quan trắc, phục hồi rừng phòng hộ ven biển và quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.
162
Về kinh phí và ngân sách dành cho công tác bảo vệ môi trường biển giai đoạn 2021 – 2025 được ghi nhận như sau: Bảng 7.2. Kinh phí và ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường biển thành
phố giai đoạn 2021 - 2025
| STT | Năm | Kinh phí (triệu đồng) |
| 1 | 2021 | 3,083 |
| 2 | 2022 | 699,6 |
| 3 | 2023 | 355,590 |
| 4 | 2024 | 936,232 |
| 5 | 2025 | 1.875 |
| Tổng | 3.869,505 | |
(Nguồn: Sở Tài chính thành phố Cần Thơ, 2025) Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện gồm: (i) Nguồn kinh phí bố trí cho các dự án, nhiệm vụ còn hạn hẹp, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ công tác quản lý theo quy định; (ii) Công tác giải ngân tại một số địa phương còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và hiệu quả thực hiện các dự án, nhiệm vụ.
7.4.2. Đầu tư từ việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và
các nguồn lực xã hội hóa Huy động và xã hội hóa nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường bằng sự tham gia tích cực của các ngành, địa phương, đoàn thể chính trị - xã hội và cộng đồng người dân. Điều này giúp mở rộng nguồn lực, tăng tính đồng thuận và nâng cao hiệu quả trong triển khai các mục tiêu phát triển chung. Việc huy động các nguồn lực xã hội góp phần bổ sung nguồn lực cho Nhà nước, giảm áp lực phụ thuộc vào ngân sách, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn như văn hóa, khoa học, công nghệ và an sinh xã hội. Đồng thời sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động do bám sát nhu cầu thực tiễn và có khả năng duy trì lâu dài. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phát huy vai trò trách nhiệm xã hội thông qua việc tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi giá trị và hỗ trợ phát triển địa phương. Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng còn góp phần khơi dậy sức dân và trí tuệ xã hội, tăng cường giám sát, phản biện, nâng cao tính minh bạch và tạo sự lan tỏa tích cực trong toàn xã hội. Trong giai đoạn vừa qua, thành phố Cần Thơ đã tích cực triển khai nhiều chủ trương, chính sách, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội hóa vào phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được một số kết quả nhất định. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống thu gom và xử lý chất thải
163
theo chủ trương bảo vệ môi trường, tham gia vào hỗ trợ các chương trình có mục đích bảo vệ môi trường. Đặc biệt, lĩnh vực cung ứng và dịch vụ môi trường đã trở thành lĩnh vực thu hút các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư phát triển từ nhiều nguồn vốn, bước đầu hình thành dịch vụ môi trường ngoài công ích. Trong đó có Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB Cần Thơ là chủ đầu tư Nhà máy xử lý rác sinh hoạt (đốt rác phát điện) tại ấp Trường Thọ, xã Trường Xuân với tổng vốn đầu tư 47 triệu USD cho nhà máy công suất xử lý 400 tấn rác/ngày, dự kiến sản xuất 60 triệu kWh điện sạch/năm và xử lý được khoảng 70% rác sinh hoạt của thành phố Cần Thơ (trung bình 453 tấn/ngày).
Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư vào dự án “Nhà máy Xử lý rác sinh hoạt số 2 Cần Thơ” tại xã Trường Xuân, Thới Lai với công suất 400 tấn chất thải rắn sinh hoạt/ngày.đêm. Việc xã hội hóa đầu tư từng bước góp phần bổ sung nguồn lực quan trọng cho ngân sách nhà nước trong bối cảnh nguồn lực công còn hạn chế, phù hợp với xu hướng chung khi ngân sách chưa kịp thời đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc huy động nguồn lực xã hội hóa trên địa bàn thành phố vẫn còn một số hạn chế như: cơ chế, chính sách chưa thực sự đồng bộ; việc thu hút các nhà đầu tư lớn, có tiềm lực còn gặp khó khăn. Ngoài ra quy mô và hiệu quả của một số dự án xã hội hóa chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế của địa phương. Trong giai đoạn tiếp theo, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường công khai, minh bạch; đồng thời tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút mạnh mẽ hơn sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội, vốn đầu tư nước ngoài, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
7.5. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG
7.5.1. Công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi
trường Kể từ ngày Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực, công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã được triển khai đồng bộ, bám sát các quy định hiện hành và có hiệu quả hơn trong việc quản lý môi trường. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tăng cường công tác thẩm định, giám sát và tổ chức thanh tra kiểm tra đối với các dự án, các cơ sở đã đi vào hoạt động trong giai đoạn trước đó. Kết hợp với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý hồ sơ, thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường trên các cổng thông tin điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, đánh giá và công khai thông tin đến người dân.
164
Công tác thẩm định hồ sơ môi cấp phép thủ tục môi trường ngày càng có hiệu quả; Đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra và phòng chống tội phạm về môi trường, kiểm soát tốt các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; Chú trọng giám sát và xử lý kịp thời các vấn đề môi trường, đặc biệt là thu gom, xử lý chất thải rắn; tích cực lồng ghép hiệu quả công tác bảo vệ môi trường torng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong năm 2025, Sở Nông nghiệp và Môi trường theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố theo luật Bảo vệ Môi trường đã tiếp nhận và xử lý 315 hồ sơ thủ tục hành chính (tiếp nhận mới và hồ sơ chuyển tiếp), gồm các thủ tục như ĐTM, Cấp giấy phép môi trường và Thẩm định phí BVMT đối với nước thải công nghiệp; khí thải; 100% hồ sơ tiếp nhận trực tuyến. Đến cuối năm 2025 thành phố đã phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của 12 dự án, cấp 126 Giấy phép môi trường. Hiệu quả trong hoạt động truyền thông, giáo dục, phát động người dân tham gia bảo vệ môi trường được nâng cao, số lượng đối tượng tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ môi trường tăng lên. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu môi trường ngày càng cao đồng thời trên địa bàn thành phố không xảy ra các sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Bên cạnh đó, để giải quyết các bất cập trong việc thực hiện đánh giá tác động môi trường, thành phố Cần Thơ đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và tăng cường phối hợp giữa các ngành, địa phương nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ, doanh nghiệp và cộng đồng về ý thức bảo vệ môi trường ở các cấp.
7.5.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật
về môi trường Trên toàn địa bàn thành phố: Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các cơ quan chức năng, Công an thành phố, Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ cùng UBND cấp cơ sở tích cực thanh tra kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm môi trường, giám sát các nguồn thải. Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường thành phố Cần Thơ năm 2025, đã có 45 cơ sở bị xử lý vi phạm hành chính về môi trường với tổng số tiền phạt là 8.284.750.000 đồng (theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường, 2025), trong đó:
- Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) xử phạt hành vi không có quyết dịnh phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND cấp tỉnh đối với 04 cơ sở thuộc Công ty Cổ phần Cấp nước Sóc Trăng (1.200.000.000 đồng).
165
- Công an phường, thành phố: xử phạt vi phạm hành chính 29 cơ sở với tổng số tiền 6.782.750.000 đồng.
- Thanh tra Sở Nông nghiệp và Môi trường trước sáp nhập xử phạt 12 cơ sở, tổng số tiền 302.000.000 đồng. Thanh tra kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường biển: Các lực lượng Biên phòng tăng cường công tác kiểm soát chặt chẽ đối với các phương tiện nghề cá (nhất là các phương tiện đăng ký hành nghệ khai thác xa bờ). Thường xuyên kiểm tra kiểm tra, tuần tra, giám sát bảo vệ nguồn lợi trên biển và kiểm tra các tàu cá. Cập nhật đầy đủ các trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính vào cơ sở dữ liệu xử phạt vi phạm hành chính của Tổng cục Thủy sản. Tổ kiểm soát nghề cá tại cảng (tổ IUU) thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các tàu cá ra, vào cảng (24/24h).
7.5.3. Công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường
a. Kiểm soát ô nhiễm đối với Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất và Cụm công nghiệp tập trung (CNTT) và làng nghề: Thành phố Cần Thơ hiện tại có tổng cộng 13 KCN và 02 Cụm CNTT, 01 Trung tâm Điện lực Sông Hậu và 01 Trung tâm Điều hành KCN Sông Hậu. Trong đó có 09 KCN đang hoạt động trên tổng số 13 KCN và có 8/9 KCN đang hoạt động đã có Hệ thống xử lý nước thải tập trung vận hành ổn định. CTNH và CTRTT được phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định. Các doanh nghiệp có phát sinh lượng khí thải lớn trong KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý và quan trắc khí thải tự động, liên tục (Nhiệt điện Sông Hậu 1, Giấy Lee & Man). Đối với Cụm CNTT: có 04/09 cụm CNTT (thuộc địa bàn tỉnh Hậu Giang (trước sáp nhập)) đang hoạt động và có hệ thống xử lý nước thải tập trung và chưa lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục theo quy định. Đối với chất thải từ hoạt động của các làng nghề: được quản lý theo hướng dẫn của địa phương về thực hiện tiêu chí 17 về môi trường torng xây dựng xã nông thôn mới. Bên cạnh đó, còn có hoạt động của hầm thanh truyền thống tại xã Kế Sách (trước đây là xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng). Công tác kiểm soát bụi, khí thải từ lò gây ảnh hưởng đến vườn cây ăn trái, điều kiện sinh hoạt của các hộ dân khu vực lân cận còn hạn chế, cần thử nghiệm các mô hình xử lý khí thải khác hoặc có giải pháp hiệu quả hơn. b. Kiểm soát ô nhiễm khu vực ven biển: Một trong những giải pháp then chốt trong bảo vệ môi trường biển và hải đảo là kiểm soát nguồn ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động trên biển. Qua kết quả điều tra khảo sát, các nguồn gây ô nhiễm biển chính chủ yếu là: ô nhiễm từ rác thải nhựa, ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản và các hoạt động xả thải khác từ đất liền trực tiếp ra biển.
166
Theo thống kê, rác thải nhựa vùng ven biển thành phố Cần Thơ chủ yếu phát sinh từ các hoạt động như: sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, hoạt động sản xuất công nghiệp của các chủ cơ sở kinh doanh, sản xuất, từ hoạt động của các tàu đánh bắt cá trên biển (ngư cụ hư hỏng, kết nhựa, bọc nhựa đựng cá,...), hoạt động sản xuất nông nghiệp (nuôi tôm) và hoạt động thương mại dịch vụ (rác thải nhựa từ hoạt động du lịch). Đặc biệt ở khu vực cửa sông, rác thải nhựa dễ tích tụ trong hệ thống rễ cây dày đặc của rừng ngập mặn gây ảnh hưởng đến khả năng phát triển của cây và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Vấn đề tồn đọng của rác thải nhựa không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đời sống của con người mà trong quá trình phân rã dưới tác động của các yếu tố tự nhiên như ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, nước, ... tạo thành các hạt vi nhựa (microplastics). Vi nhựa có kích thước rất nhỏ mắt thường không thể nhìn thấy và có khả năng tồn tại lâu dài trong môi trường nước và các môi trường khác, từ đó tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ lụy lâu dài đến hệ sinh thái. Hiện tại công tác thu gom phân loại tại chỗ và xử lý rác thải nhựa có hiệu suất chưa cao. Đặc biệt khó kiểm soát đối với rác thải nhựa từ hoạt động đánh bắt cá của các tàu cá cũng như việc thu gom, xử lý và vận chuyển tại khu vực các xã, phường ven biển cũng gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp người dân phải tự xử lý rác thải bằng hình thức đốt, chôn lấp do hạ tầng giao thông không đảm bảo cho các phương tiện thu gom có thể đến lấy rác, chỉ thu gom ở khu vực trung tâm. Tại các địa phương ven biển chỉ có 06 bãi rác, rác thải nhựa được thu gom và xử lý chung với chất thải rắn sinh hoạt. Các công nghệ áp dụng tại các bãi rác hiện nay chưa đảm bảo xử lý triệt để rác thải nhựa. Vấn đề ngừng tiếp nhận ở các bãi rác do quá tải và vị trí không phù hợp cũng gây khó khăn trong công tác quản lý rác thải nhựa trên địa bàn thành phố. Ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản: Nước thải phát sinh từ công đoạn thay nước định kỳ, quá trình xử lý ao nuôi và sao thu hoạch nếu không có biện pháp kiểm soát sẽ là nguồn ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường. Thành phần các chất ô nhiễm tồn tại trong nước thải từ các ao nuôi tôm chủ yếu là thức ăn thừa khi tôm không tiêu thụ hết và chất thải trong quá trình trao đổi chất của tôm lẫn các loại vi sinh vật khác sống trong ao. Ngoài các thành chất thải hữu cơ hiện diện trong nước thải nuôi tôm, các hợp chất hóa học khác được sử dụng trong quá trình nuôi như chất khử trùng, xử lý nước, vitamin, ... các chất này không có khả năng tự phân hủy và làm tăng hàm lượng kim loại trong nước. Do đó, nước thải ra từ ao tôm thường có mùi gây khó chịu ảnh hưởng đến môi trường không khí xung quanh. Hoạt động kiểm soát các nguồn ô nhiễm và rác thải nhựa trên biển, cần có sự triển khai đồng bộ giữa các cấp và cụ thể đối với từng nguồn phát sinh. Cần có quy định cụ thể cho các loại rác thải từ các hoạt động khác nhau. Trong giai đoạn 2021 – 2023, thành phố đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể, góp phần nâng cao ý thức cộng đồng, giảm rác thải nhựa ra biển và tăng tỷ lệ thu gom, xử lý rác đạt quy chuẩn môi trường tại các cảng cá và khu du lịch ven biển.
167
Giai đoạn cuối 2024 – 2025, tiếp tục đẩy mạnh kiểm soát ngư cụ, rác thải từ các tàu cá trên biển, cải thiện thu gom – xử lý rác thải nhựa, mở rộng mô hình với sự tham gia của cộng đồng và gắn kết các chương trình quốc gia, khu vực về giảm ô nhiễm nhựa đại dương. Nhìn chung, công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường được triển khai thực hiện tốt trong giai đoạn 2021 – 2025. Thành phố Cần Thơ luôn chú trọng trong việc phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm. Dưới sự chỉ đạo, đôn đốc của UBND thành phố, các cơ quan chuyên môn và địa phương bố trí lực lượng tiếp nhận để xử lý kịp thời các phản ánh; chủ động trong phòng ngừa và huy động nguồn lực kiểm soát ô nhiễm từ các nguồn thải, đặc biệt đối với những nguồn có nguy cơ cao. Phối hợp kiểm soát và giám sát chặt chẽ với các cơ sở phải thực hiện quan trắc tự động nước thải, khí thải. Sở Nông nghiệp và Môi trường hiện đang theo dõi 18 cơ sở có nguồn thải lớn đã kết nối và truyền dữ liệu quan trắc tự động liên tục.
7.5.4. Công tác quan trắc và cung cấp thông tin môi trường
Việc quan trắc và phân tích chất lượng môi trường nước mặt, chất môi trường không khí xung quanh thành phố kèm theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường thành phố được thực hiện đầy đủ hàng năm. Giám sát quản lý dữ liệu 17 trạm quan trắc xâm nhập mặn; quản lý dữ liệu quan trắc tự động. Các tuyến kênh, đê bao, cống được kiểm tra thường xuyên, duy tu, sửa chữa và nạo vét kịp thời, gia cố các hạng mục xung yếu nhằm đảm bảo công trình vận hành ổn định, an toàn, phục vụ hiệu quả công tác điều tiết nước, phòng chống hạn và xâm nhập mặn, đáp ứng yêu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân. Thành phố đã đầu tư, triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc tự động, liên tục cùng với nâng cấp và đầu tư thêm cơ sở vật chất phòng thí nghiệm, hạ tầng kỹ thuật tiếp nhận dữ liệu quan trắc tự động, thực hiện truyền dữ liệu về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hiện nay, theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025, số trạm quan trắc tự động nước mặt, không khí xung quanh được thành phố quản lý có tổng cộng 20 trạm (gồm 06 trạm không khí xung quanh và 14 trạm nước mặt). Ngoài ra, thành phố cũng theo dõi việc lắp đặt, vận hành các trạm quan trắc tự động của 21 doanh nghiệp trên địa bàn, trong đó có 17 trạm nước thải và 08 trạm khí thải. Đối với hoạt động giám sát các trạm, điểm quan trắc ven biển: Thành phố đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn tiến hành lấy mẫu phân tích nước biển ven bờ tại 05 điểm (gồm 05 xã cũ là xã Vĩnh Hải, An Thạnh Nam, Trung Bình, Vĩnh Tân và An Thạnh 3) với tần suất 02 tháng/lần. Qua kết quả quan trắc năm 2025, chất lượng nước biển ven bờ tại các điểm quan trắc ở mức ổn định và có xu hướng cải
+
3- thiện rõ rệt so với các năm trước. Các thông số pH, DO, N-NH , P-PO , dầu mỡ 4 4 khoáng và Coliform đều đạt quy chuẩn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT (Thành ủy Cần Thơ, 2026).
168
7.5.5. Hiện trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại thành phố Cần Thơ đang dần từng bước bám sát với tình hình hoạt động cụ thể của các đối tượng, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Cụ thể thông quan việc quản lý và thu các loại thuế, phí liên quan đến bảo vệ môi trường (thu phí bảo vệ môi trường đối với nước và khí thải, thu phí thẩm định báo cáo ĐTM và GPMT theo phân cấp quy mô và quy định của thành phố); Ký quỹ môi trường (cải tạo, phục hồi môi trường đối với cá dự án khai thác khoáng sản (chủ yếu là khai thác cát) nhằm đảm bảo các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm phục hồi môi trường, xử lý các rủi ro, nguy cơ ô nhiễm phát sinh; Trợ cấp môi trường (Chính sách giảm mức thuế bảo vệ môi trường hỗ trợ doanh nghiệp); Nhãn sinh thái và Phát triển thị trường carbon. Từ đó tại sự chuyển biến tích cực trong hành vi của các tổ chức, cá nhân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả trong quản lý môi trường tại địa phương. Quản lý môi trường biển được áp dụng các chính sách như: Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tham gia khai thác, xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp có trách nhiệm bảo vệ môi trường biển. Kết hợp ban hành chính sách không đầu tư nhà máy công nghiệp gây ô nhiễm ngoài khu công nghiệp, hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất để giảm nguy cơ ô nhiễm. Huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, ODA và các chương trình mục tiêu quốc gia, kết hợp với cải thiện môi trường đầu tư để thu hút doanh nghiệp. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bao gồm quản lý chất thải rắn, xử lý nước thải công nghiệp và tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên biển nhằm duy trì hệ sinh thái không ô nhiễm. Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của biển, thành phố đã quán triệt và triển khai hiệu quả các chủ trương, định hướng lớn qua việc cụ thể hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về Kế hoạch 5 năm triển khai Nghị quyết 36 cùng chương trình số 35-CTr/TU của Thành ủy thành phố Cần thơ. Theo đó chú trọng vào phát huy lợi thế, khai thác giá trị kinh tế biển và hình thành nền kinh tế biển, xác định mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kèm theo các chủ trương lớn và giải pháp chủ yếu gắn với nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá. Các ưu tiên bao gồm: phát triển kinh tế hạ tầng đồng bộ, hiện đại; cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, thành phố đã xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông ven biển cơ bản đồng bộ; thu gút đầu tư từ 02 doang nghiệp
169
khai thác du lịch biển đảo với tuyến tàu cao tốc Trần Đề - Côn Đảo hoạt động 3 – 4 chuyến/ngày, phục vụ 1.200 – 1.500 lượt khách; phát triển các khu du lịch sinh thái như Hồ Bể, Mỏ Ó, rừng ngập mặn ven biển Cù Lao Dung, tạo lợi thế du lịch biển lớn. Đồng thời thành phố đầu tư công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản biển hiệu quả, bền vững; tăng cường nguồn năng lượng sạch, tái tạo như điện gió và điện mặt trời. Nhờ đó, kinh tế biển góp phần thúc đẩy tăng trưởng GRDP cao, trở thành động lực cho phát triển vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đồng thời đảm bảo tính bền vững, quốc phòng, an ninh và trật tự.
7.5.6. Tnh hnh cấp phép, quản lý hoạt động nhận chm ở biển theo quy định
tại Nghị định số 40/2016/NĐ-CP Thực trạng nhận chìm tại vùng biển Việt Nam: Hoạt động nhận chìm ở biển tại Việt Nam cũng đã được tiến hành từ trước khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được ban hành theo hình thức nạo vét để tạo đường cho tàu biển ra vào xây dựng cảng Cái Lân gần khu vực Bãi Cháy; vật chất từ hoạt động nạo vét cảng trung chuyển Lạch Huyện, Hải Phòng với tổng khối lượng vật, chất nhận chìm gần
3 40 triệu m và thực hiện theo cơ chế xin – cho. Hiện nay, nhu cầu nhận chìm chất nạo vét từ lường hàng hải, cảng xuống biển tại Việt Nam đang tăng nhanh. Từ thời điểm Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015 cùng với Nghị định số 40/2016/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cấp 45 Giấy phép nhận chìm với khối lượng
3 khoảng 107 triệu m chất nạo vét cảng, lường; địa phương có biển cấp phép khoản 15 Giấy phép nhận chìm ở biển. Hiện nay, theo Quyết định số 1708/QĐ-UBND ngày 27/6/2025, của UBND thành phố Cần Thơ việc tiếp nhận hồ sơ và cấp Giấy phép nhận chìm trên địa bàn thành phố Cần Thơ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nhận chìm ở biển: (i) Sở Nông nghiệp và Môi trường:
- Phối hợp với Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân các xã, phường có liên quan trình Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận, công bố mới hoặc bổ sung, điều chỉnh danh mục các khu vực, địa điểm tiếp nhận chất nạo vét trên bờ trên địa bàn thành phố hàng năm.
- Xây dựng kế hoạch tổ chức và kiểm tra công tác quan trắc và giám sát môi trường hàng năm đối với các khu vực, địa điểm đổ thải, nhận chìm theo quy định.
- Chủ động hướng dẫn chủ đầu tư các dự án nạo vét công trình thủy lợi có nhu cầu đổ chất nạo vét thực hiện theo quy định tại Nghị định số 57/2024/NĐ-CP và phù hợp với quy định pháp luật về chuyên ngành.
- Chủ trì thẩm định phương án đổ thải, nhận chìm đối với các dự án nạo vét các công trình thủy lợi cần đổ thải do UBND thành phố quyết định đầu tư.
170
- Phối hợp với các địa phương tổ chức khảo sát, rà soát khu vực địa điểm tiếp nhận chất nạo vét trên địa bàn có công trình, dự án đang chuẩn bị triển khai cần đổ chất nạo vét, đề xuất Sở Xây dựng tổng hợp theo quy định.
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động đổ thải, nhận chìm theo quy định. (ii) Ủy ban nhân dân các xã, phường:
- Chủ trì phối hợp với chủ đầu tư dự án và các đơn vị có liên quan đề xuất vị trí để làm khu vực, địa điểm đổ thải đối với vật chất nạo vét từ hệ thống giao thông đường thủy nội địa và vùng biển gửi Sở Xây dựng tổng hợp xem xét, tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố công bố theo quy định.
- Tổ chức quản lý và bố trí sử dụng vật chất nạo vét tại các địa điểm đổ thải trên địa bàn theo quy định của pháp luật (từ dự án nạo vét có tận thu sản phẩm).
7.6. HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ VẤN
ĐỀ ÁP DỤNG CÁC CÔNG NGHỆ MỚI
7.6.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực môi trường
Các chủ trương, chính sách phát triển liên quan đến môi trường hiện nay ưu tiên cho các hoạt động nghiên cứu môi trường gắn liền với xây dựng đô thị thông minh và chuyển đổi số toàn diện. Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 04/8/2021 của Thành ủy Cần Thơ xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, tạo nền tảng triển khai các nghiên cứu về hạ tầng dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên. Các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm tập trung hiện đại hóa hệ thống quan trắc, xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai dùng chung và mô hình kinh tế xanh thích ứng biến đổi khí hậu. Nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp thông minh được lồng ghép chặt chẽ với bảo vệ môi trường qua các phần mềm quản lý vùng trồng trọt và giám sát dịch hại. Tại các khu vực nông nghiệp then chốt (thành phố Cần Thơ trước sáp nhập và tỉnh Hậu Giang trước sáp nhập) đã chuyển giao công nghệ thiết bị sơ chế, bảo quản nông sản để giảm tổn thất sau thu hoạch, đồng thời xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng công nghệ cao nhằm giảm ô nhiễm hữu cơ. Trong công tác quản lý tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu, thành phố đã thực hiện nghiên cứu KHCN về lắp đặt hệ thống ngăn lục bình, thu gom rác thải tại đầu nguồn sông rạch để bảo vệ chất lượng nước mặt (khu vực Hậu Giang trước sáp nhập). Đã hoàn thiện hệ thống bản đồ số chuyên đề phục vụ quản lý môi trường ven biển, bao gồm bản đồ tài nguyên nước, phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và nhạy cảm đường bờ biển. Việc ứng dụng công nghệ mới trong quản lý môi trường tại thành phố Cần Thơ thể hiện sự tập trung vào ba mảng cốt lõi: Hệ thống quan trắc tự động kết nối IoT, hạ tầng dữ liệu số hóa và các tổ hợp xử công nghệ xử lý chất thải hiện đại.
171
Hệ thống quan trắc môi trường đã chuyển đổi căn bản từ quan trắc định kỳ sang giám sát liên tục, tự động bằng cảm biến IoT. Bằng cách sử dụng phần mềm EnviSoft quản lý tập trung dữ liệu từ các khu công nghiệp, trạm quan trắc không khí và nước mặt, hệ thống thu nhận, xử lý và truyền dữ liệu thời gian thực về Trung tâm điều hành, hỗ trợ phản ứng kịp thời trước sự cố ô nhiễm. Trong quản lý tài nguyên khoáng sản (khai thác cát), hệ thống giám sát cát tự động sử dụng GPS và cảm biến hành trình để kiểm soát vị trí, khối lượng khai thác trên sông Hậu, hạn chế khai thác trái phép gây sạt sở. Hạ tầng dữ liệu môi trường của thành phố hiện nay được xây dựng theo hướng “mở” và “dùng chung”. Các thủ tục hành chính hiện nay có tỷ lệ số hóa và kết quả giải quyết cao. Đối với khu vực ven biển: Các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ tập trung vào bảo vệ môi trường ven viển chủ yếu liên quan đến nuôi trồng thủy sản, chống xói lở bờ biển và kiểm soát chất lượng nước. Một số nghiên cứu trong phạm vi bao quát các vùng ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung và Lai Hòa được thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2025 như sau:
+ Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng năm 2024 do nhóm nghiên cứu trường Đại học Cần Thơ thực hiện.
+ Nghiên cứu đánh giá nguy cơ xói lở vùng ven biển Sóc Trăng và đề xuất giải pháp công trình giảm thiểu bằng mô hình toán (Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2024).
7.6.2. Hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ
Thành phố Cần Thơ đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch nhằm đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vực trọng điểm, trong đó có môi trường, nông nghiệp xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. Các cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ, vận hành sàn giao dịch công ghệ và trung tâm chuyển giao công nghệ đã được triển khai, tạo cầu nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp và cơ quan quản lý đô thị. Năm 2022, thành phố đã tiếp nhận Hệ thống thu gom rác thải tự động “Interceptor 003” trên sông Cần Thơ hoạt động bằng năng lượng mặt trời do The Ocean Cleanup chuyển giao trong dự án hợp tác với Hà Lan và Nhật Bản về quản lý nước thông minh và năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó cũng thực hiện một số công nghệ thu gom, xử lý rác thải, nước mặt, nước thải dưới dạng mô hình thí điểm, sau đó nhân rộng trong các khu dân cư, khu công nghiệp và khu du lịch ven sông.
172
Các sự kiện lớn như Tuần lễ Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số (CASTID) năm 2025, diễn đàn đổi mới sáng tạo, hội thảo chuyên đề về môi trường, công nghệ sạch và chuyển đổi xanh đã tạo nền tảng kết nối từ đó chuyển giao ký kết hợp tác nhiều công nghệ môi trường, giải pháp giảm phát thải, xử lý chất thải và quản lý tài nguyên giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học trong giai đoạn 2021 - 2025.
7.6.3. Vấn đề áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi
trường Thời gian qua, thành phố đã triển khai chương trình sản xuất sạch hơn trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp theo Chỉ thị 04/CT-UBND ngày 17/3/2020, kết hợp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu công nghiệp và nhà máy xử lý rác thải. Bên cạnh đó áp dụng mô hình nông nghiệp tuần hoàn tại các hợp tác xã như New Green Farm (40 ha) và Tiến Thuận, sử dụng máy cơ giới hóa xử lý rơm rạ, sản xuất phân bón hữu cơ, drone phun hóa chất và hướng tới sản xuất hữu cơ tuần hoàn. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sang công nghệ RAS, biofloc, giám sát ao nuôi thông minh, giảm hóa chất và hướng tới sản xuất hữu cơ, tuần hoàn. Mặc dù đã có đạt được nhiều kết quả đáng kể, thành phố Cần Thơ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi trường do tình hình hạ tầng xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa đồng bộ. Một số cơ sở sản xuất vẫn còn sử dụng công nghệ cũ, chi phí đầu tư cho thiết bị xử lý môi trường cao làm chậm quá trình cải tiến và đổi mới. Nhận thức của một số bộ phận doanh nghiệp và người dân về sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn chưa cao. Nguồn lực tài chính và kỹ thuật chuyên sâu phục vụ cho việc tư vấn, đánh giá sản xuất sạch hơn còn hạn chế, chưa tiếp cận được đến tất cả các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
7.7. NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA
CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO Giai đoạn 2021 – 2025, công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường biển, hải đảo tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần Thơ hiện nay được triển khai trong bối cảnh địa bàn này còn thuộc tỉnh Sóc Trăng trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Do đó, các nội dung đánh giá trong mục này được kế thừa và tổng hợp từ kết quả thực hiện tại tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập), nơi tập trung các hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường biển và hệ sinh thái ven biển của khu vực. Trong giai đoạn này, bên cạnh các hoạt động quản lý nhà nước, địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển, bảo tồn hệ sinh thái ven biển và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nhiều mô hình xã hội hóa đã được triển khai với sự tham gia của
173
cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và các đối tác quốc tế nhằm huy động nguồn lực cho phục hồi rừng ngập mặn, quản lý rác thải nhựa đại dương, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
7.7.1. Các chương trnh, kế hoạch hành động nhằm nâng cao nhận thức cộng
đồng Công tác tuyên truyền về biển và hải đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 được triển khai trên cơ sở Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW; Quyết định số 729/QĐ-TTg ngày 16/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030. Với đặc thù là địa phương có khoảng 72 km bờ biển, đội tàu khai thác thủy sản xa bờ lớn, công tác tuyên truyền được triển khai thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, ngư dân, học sinh, đoàn viên thanh niên và cộng đồng dân cư về bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi trường biển và chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Trong giai đoạn 2021 – 2025, các hoạt động tuyên truyền được triển khai thông qua bốn nhóm hình thức chủ yếu gồm: (i) tuyên truyền về chủ quyền biển đảo và phát triển bền vững kinh tế biển; (ii) tuyên truyền pháp luật về biên giới biển, Luật Biên phòng Việt Nam và Luật Cảnh sát biển Việt Nam; (iii) tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chống khai thác IUU; và (iv) các hoạt động giáo dục, truyền thông cộng đồng trong trường học và các tổ chức đoàn thể. a. Tuyên truyền về chủ quyền biển đảo và phát triển bền vững kinh tế biển: Trong giai đoạn 2021 – 2025, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo tại khu vực ven biển luôn được duy trì thường xuyên. Công tác này được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa địa phương với Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Bộ đội Biên phòng và các cơ quan thông tin, truyền thông trên địa bàn. Nội dung tập trung vào tình hình biển đảo, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, đồng thời lồng ghép tuyên truyền về trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. Trong năm 2022, Lữ đoàn 167 (Vùng 2 Hải quân) phối hợp tổ chức hội nghị thông tin biển, đảo cho hơn 800 cán bộ, báo cáo viên và đoàn viên thanh niên trong tỉnh. Năm 2024, Lữ đoàn 125 tiếp tục tổ chức các hoạt động tuyên truyền tại thị xã Vĩnh Châu (trước sáp nhập) kết hợp công tác dân vận và hỗ trợ học sinh vùng ven biển.
174
Song song đó, Bộ đội Biên phòng thường xuyên tổ chức các hội nghị thông tin đối ngoại và biển đảo cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân khu v ực biên giới biển. Tiêu biểu, tháng 11/2023 đã tổ chức hội nghị với hơn 700 đại biểu tham dự; tháng 6/2025 tổ chức phổ biến pháp luật cho trên 500 đại biểu, lồng ghép nội dung bảo vệ chủ quyền biển đảo với bảo đảm an ninh khu vực biên giới biển. b. Tuyên truyền pháp luật về biển và chống khai thác IUU: Đây là nhóm hoạt động được triển khai thường xuyên và có quy mô lớn nhất trong giai 2021 - 2025, hướng tới đối tượng chủ yếu là ngư dân, chủ tàu cá, thuyền trưởng và lao động nghề cá. Thông qua sự phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) cùng các địa phương ven biển, nhiều đợt tuyên truyền được tổ chức dưới hình thức hội nghị, tập huấn, đối thoại trực tiếp, tuyên truyền lưu động tại bến cá, khu neo đậu và trên tàu cá. Trong năm 2023, địa phương đã tổ chức 02 đợt tập huấn về chống khai thác IUU cho 80 ngư dân; tuyên truyền trực tiếp cho 5.172 lượt chủ tàu và thuyền trưởng; vận động 368 chủ tàu ký cam kết không vi phạm vùng biển nước ngoài. Năm 2024, Hội nghị tuyên truyền Luật Cảnh sát biển Việt Nam và chống khai thác IUU được tổ chức tại huyện Trần Đề với khoảng 200 đại biểu tham dự. Đặc biệt, Bộ đội Biên phòng đã triển khai tuyên truyền trực tiếp đến 3.900 hộ gia đình, 980 phương tiện với khoảng 10.100 lượt thuyền viên; tổ chức 97 cuộc tuyên truyền tập trung cho 5.890 lượt người tham dự; cấp phát khoảng 18.000 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền trong năm 2024. Chiến dịch tuyên truyền theo phương châm “gõ cửa từng nhà, rà từng tàu” được triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm 100% chủ tàu khai thác xa bờ tại các khu vực trọng điểm được tiếp cận thông tin và tập huấn về các quy định chống khai thác IUU. c. Tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường biển: Cùng với công tác chống khai thác IUU, các hoạt động tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường biển được triển khai thông qua hệ thống pano, bảng tuyên truyền, các lớp tập huấn và hoạt động truyền thông cộng đồng tại khu vực ven biển. Giai đoạn 2021 – 2024, địa phương đã xây dựng và lắp đặt nhiều bảng tuyên truyền về nghề cấm, ngư cụ cấm và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; riêng năm 2023 có 508 trường hợp ký cam kết không sử dụng ngư cụ cấm, năm 2024 tiếp tục tổ chức ký cam kết đối với 212 hộ dân ven biển. Năm 2023, địa phương tổ chức 07 lớp tuyên truyền về bảo vệ nguồn lợi thủy sản với 323 lượt người tham gia và 02 lớp tập huấn Luật Thủy sản cho 95 lượt ngư dân. Năm 2024, tổ chức 10 lớp tuyên truyền Luật Thủy sản với khoảng 850 ngư dân tham dự, đồng thời phối hợp tổ chức 03 đợt tập huấn cho khoảng 350 ngư dân. Mô hình “Phiên tòa giả định” về vi phạm trong khai thác thủy sản cũng được triển khai tại các địa phương ven biển, thu hút khoảng 340 lượt người tham dự, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
175
d. Truyền thông cộng đồng, giáo dục biển đảo trong trường học và hưởng ứng các sự kiện về biển: Công tác giáo dục và truyền thông về biển đảo cho thế hệ trẻ được đẩy mạnh thông qua các hoạt động trong trường học, các tổ chức đoàn thể và các sự kiện truyền thông cộng đồng. Tiêu biểu là cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” được tổ chức tại huyện Trần Đề (trước sáp nhập) năm 2023 với 7.222 học sinh của 12 trường trung học cơ sở tham gia, ghi nhận 17.624 lượt dự thi trực tuyến. Vòng chung kết được tổ chức theo hình thức sân khấu hóa “Rung chuông vàng”, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực và nâng cao nhận thức của học sinh về chủ quyền biển đảo, tài nguyên và môi trường biển. Bên cạnh đó, hằng năm địa phương đều tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương Thế giới (08/6) với các hình thức như lễ phát động, ra quân làm sạch môi trường biển, treo băng rôn, khẩu hiệu, tuyên truyền lưu động và các hoạt động truyền thông cộng đồng. Nội dung tuyên truyền tập trung vào phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và sử dụng bền vững tài nguyên biển. Bảng 7.3. Thống kê các hoạt động tuyên truyền biển và hải đảo tiêu biểu
giai đoạn 2021 – 2025 176
| STT | Thời điểm | Đơn vị chủ trì | Hình thức | Quy mô tham gia/Kết quả | Nội dung trọng tâm |
| 1 | 2022 | Lữ đoàn 167 – Vùng 2 Hải quân | Hội nghị thông tin biển đảo | Trên 800 người | Chủ quyền biển đảo; phát triển kinh tế biển; thu hút nguồn nhân lực Hải quân |
| 2 | 2024 | Lữ đoàn 125 – Vùng 2 Hải quân | Hội nghị tuyên truyền kết hợp công tác dân vận | Không công bố | Chủ quyền biển đảo; gắn kết quân dân vùng ven biển |
| 3 | 11/2023 | Bộ đội Biên phòng tỉnh Sóc Trăng | Hội nghị Thông tin đối ngoại và biển đảo | Trên 700 người | Chủ quyền biển đảo; tình hình Biển Đông |
| 4 | 10/2024 | Bộ đội Biên phòng tỉnh Sóc Trăng | Hội nghị tuyên truyền pháp luật | Không công bố | Luật Biên phòng Việt Nam; chống khai thác IUU |
| STT | Thời điểm | Đơn vị chủ trì | Hình thức | Quy mô tham gia/Kết quả | Nội dung trọng tâm |
| 5 | 6/2025 | Bộ đội Biên phòng tỉnh Sóc Trăng | Hội nghị phổ biến pháp luật | Trên 500 người | Luật Biên phòng; bảo vệ chủ quyền biển đảo; phòng chống mua bán người |
| 6 | Hằng năm | Sở TN&MT và các đơn vị liên quan | Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam | Nhiều đối tượng tham gia | Bảo vệ môi trường biển; phát triển bền vững kinh tế biển |
| 7 | 9/2023 | Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4, Ban Dân vận Tỉnh ủy, UBND huyện Trần Đề | Cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” | 7.222 học sinh; 17.624 lượt dự thi | Giáo dục chủ quyền biển đảo; tài nguyên và môi trường biển |
| 8 | 2023 | Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 và các đơn vị liên quan | Tập huấn chống khai thác IUU | 80 ngư dân | Quy định chống khai thác IUU |
| 9 | 2023 | Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 và các đơn vị liên quan | Tuyên truyền trực tiếp tại cảng cá, tàu cá | 5.172 lượt chủ tàu/thuyền trưởng | Chống khai thác IUU; không vi phạm vùng biển nước ngoài |
| 10 | 2023 | Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 và các đơn vị liên quan | Vận động ký cam kết | 368 chủ tàu ký cam kết | Chấp hành quy định khai thác thủy sản |
| 11 | 2024 | Sở NN&PTNT và Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 | Hội nghị tuyên truyền | 200 ngư dân, chủ tàu | Luật Cảnh sát biển Việt Nam; chống khai thác IUU |
| 12 | 2023– 2025 | Bộ đội Biên phòng tỉnh Sóc Trăng, lực lượng chức năng | Chiến dịch “Gõ cửa từng nhà, rà từng tàu” | 100% chủ tàu khai thác xa bờ được tiếp cận tuyên truyền | Chống khai thác IUU; quy định vùng biển khai thác |
| STT | Thời điểm | Đơn vị chủ trì | Hình thức | Quy mô tham gia/Kết quả | Nội dung trọng tâm |
| 13 | 2024 | Bộ đội Biên phòng tỉnh Sóc Trăng | Tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng ven biển | 3.900 hộ dân; 980 phương tiện; 10.100 thuyền viên; 97 cuộc/5.890 người | Chủ quyền biển đảo; chính sách biên giới biển; chống khai thác IUU |
| 14 | 2023 | Chi cục Thủy sản | 07 lớp tuyên truyền | 323 người | Bảo vệ nguồn lợi thủy sản; bảo vệ môi trường biển |
| 15 | 2023 | Chi cục Thủy sản | 02 lớp tập huấn Luật Thủy sản | 95 ngư dân | Quy định pháp luật về khai thác thủy sản |
| 16 | 2024 | Chi cục Thủy sản | 10 lớp tuyên truyền Luật Thủy sản | Khoảng 850 ngư dân | Khai thác bền vững; chống khai thác bất hợp pháp |
| 17 | 2024 | Chi cục Thủy sản phối hợp các địa phương | 03 đợt tập huấn | Khoảng 350 ngư dân | Bảo vệ nguồn lợi thủy sản; chống khai thác IUU |
| 18 | 2024 | Chi cục Thủy sản và địa phương ven biển | Phiên tòa giả định | Khoảng 340 người | Nâng cao nhận thức pháp luật trong khai thác thủy sản |
Nguồn: Tổng hợp từ Báo Hải quân Việt Nam (2022); Cổng thông tin Báo cáo viên (2023); TTXVN (2023); Báo Sóc Trăng (2024); Báo Dân t ộc và Phát triển (2024); Tạp chí Thủy sản Việt Nam (2024); Báo Nhân Dân (2025); UBND tỉnh Sóc Trăng (2025). Đánh giá hiệu quả nâng cao nhận thức cộng đồng về biển và hải đảo: Giai đoạn 2021 – 2025, công tác tuyên truyền về biển và hải đảo trên địa thành phố Cần Thơ được triển khai tương đối đồng bộ, bao phủ nhiều nhóm đối tượng khác nhau như cán bộ, công chức, ngư dân, chủ tàu cá, học sinh, đoàn viên thanh niên và cộng đồng dân cư ven biển. Các hình thức tuyên truyền ngày càng đa dạng, kết hợp giữa hội nghị, tập huấn, truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, hoạt động trải nghiệm trong trường học và các sự kiện truyền thông đại chúng.
178
Kết quả thực hiện cho thấy hàng chục nghìn lượt người dân, ngư dân và học sinh đã được tiếp cận thông tin về chủ quyền biển đảo, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chống khai thác IUU. Đặc biệt, tỷ lệ chủ tàu khai thác xa bờ được tuyên truyền, tập huấn về các quy định chống khai thác IUU đạt mức cao, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản. Tuy nhiên, việc đánh giá định lượng hiệu quả thay đổi nhận thức của cộng đồng sau tuyên truyền còn gặp khó khăn do chưa có hệ thống theo dõi và đánh giá chuyên biệt. Một số hoạt động vẫn mang tính thời điểm hoặc theo đợt cao điểm; nội dung truyền thông về bảo tồn hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa tuy đã được lồng ghép nhưng chưa được triển khai thường xuyên như các nội dung về chủ quyền biển đảo và chống khai thác IUU.
7.7.2. Hoạt động xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, tổ chức,
doanh nghiệp Giai đoạn 2021 – 2025, công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo được triển khai không chỉ bằng nguồn lực ngân sách nhà nước mà còn huy động hiệu quả sự tham gia của cộng đồng dân cư, doanh nghi ệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức quốc tế. Các hoạt động xã hội hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Trung ương và địa phương về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên vùng bờ và phát triển bền vững kinh tế biển. Ở cấp quốc gia, Quyết định số 1662/QĐ-TTg ngày 04/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 đã tạo cơ sở để huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho phục hồi hệ sinh thái ven biển (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Ở địa phương, Kế hoạch số 102/KH-UBND năm 2021 của UBND tỉnh Sóc Trăng về triển khai Kế hoạch hành động quốc gia quản lý rác thải nhựa đại dương và các chương trình, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp phần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường biển (UBND tỉnh Sóc Trăng, 2021). Một trong những đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là việc huy động đa dạng nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ (NGO), doanh nghiệp và cộng đồng địa phương, hình thành nhiều mô hình hợp tác công – tư và quản lý dựa vào cộng đồng trong phục hồi rừng ngập mặn, quản lý rác thải nhựa đại dương, phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường biển.
179
a. Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển: (i) Dự án: “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long thông qua phục hồi rừng ngập mặn và các giải pháp kết hợp dựa vào thiên nhiên”: Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long thông qua phục hồi rừng ngập mặn và các giải pháp kết hợp dựa vào thiên nhiên” được triển khai giai đoạn 2024 – 2026 do Quỹ Coca-Cola (TCCF) tài trợ, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai tại khu vực ven biển thị xã Vĩnh Châu (cũ) (Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2024; Báo Lao Động, 2024). Đây là mô hình tiêu biểu cho việc huy động nguồn lực xã hội hóa trong bảo vệ môi trường biển, kết hợp nguồn tài trợ của doanh nghiệp với sự hỗ trợ kỹ thuật từ tổ chức quốc tế và sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương. Dự án tập trung phục hồi, mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, đồng thời hỗ trợ người dân chuyển đổi sang các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm giảm áp lực lên hệ sinh thái vùng bờ. Thông qua việc kết hợp giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và cải thiện sinh kế, dự án góp phần nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng ven biển trước các tác động của nước biển dâng, xói lở bờ biển và thời tiết cực đoan (Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2024; Báo Lao Động, 2024). (ii) Dự án B4 – Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long: Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long” (Dự án B4) là một trong những mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường biển tiêu biểu được triển khai tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2022 – 2024. Dự án được đồng tài trợ bởi Bộ Khí hậu, Môi trường, Năng lượng, Cơ sở hạ tầng và Đô thị Cộng hòa Áo, Tổ chức Bánh mì Thế giới (BfdW), Tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam (AFV), phối hợp thực hiện cùng chính quyền địa phương tại thị xã Vĩnh Châu (cũ) (Nguồn: Báo Nhân Dân, 2024). Sau hơn 2 năm triển khai tại các xã Lạc Hòa, Vĩnh Hải và Lai Hòa, dự án đã trồng mới và phục hồi thành công khoảng 105 ha rừng ngập mặn với tỷ lệ cây sống đạt khoảng 95%, góp phần nâng cao khả năng phòng hộ ven biển và tăng cường hấp thụ các-bon của hệ sinh thái rừng ngập mặn (Nguồn: Báo Đại biểu Nhân dân, 2024; Báo Nhân Dân, 2024). Bên cạnh các kết quả về môi trường, dự án còn tạo điều kiện cho khoảng 1.400 hộ dân tham gia các hoạt động quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên dưới tán rừng, góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập. Theo báo cáo của dự án, thu nhập bình quân của các hộ tham gia tăng khoảng 40% so với trước khi thực hiện mô hình (Nguồn: Báo Đại biểu Nhân dân, 2024).
180
Đáng chú ý, các kết quả nghiên cứu và thực tiễn triển khai của dự án còn được sử dụng làm cơ sở xây dựng “Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn”, được Cục Lâm nghiệp ban hành theo Quyết định số 316/QĐ-LN-SXLN ngày 29/10/2024 để áp dụng trên phạm vi toàn quốc (Cục Lâm nghiệp, 2024; Báo Nhân Dân, 2025). Đây là minh chứng cho hiệu quả của mô hình xã hội hóa trong việc kết nối nguồn lực quốc tế với nhu cầu bảo tồn hệ sinh thái ven biển tại địa phương. (iii) Chương trình “Sống khỏe góp xanh cùng Panasonic”: Chương trình “Sống khỏe góp xanh cùng Panasonic” do Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Công ty TNHH Panasonic Việt Nam triển khai là một điển hình về huy động nguồn lực trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu (Nguồn: Báo VnExpress, 2025; Panasonic Việt Nam, 2025). Thông qua cơ chế gắn kết hoạt động kinh doanh với các chương trình trồng cây xanh và phục hồi hệ sinh thái, chương trình đã hỗ trợ triển khai hoạt động trồng rừng ngập mặn tại xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu (cũ), góp phần tăng cường khả năng phòng hộ của đai rừng ven biển và nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò của rừng ngập mặn trong bảo vệ môi trường biển (Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Việc doanh nghiệp chủ động tham gia đầu tư cho các hoạt động bảo tồn thiên nhiên thông qua các chương trình CSR cho thấy xu hướng ngày càng rõ nét của khu vực tư nhân trong việc đồng hành cùng chính quyền địa phương và cộng đồng trong bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững (Nguồn: Báo VnExpress, 2025; Panasonic Việt Nam, 2025). (iv) Mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn: Song song với các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn tiếp tục được khuyến khích phát triển tại khu vực ven biển nhằm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái và phát triển sinh kế cho người dân. Nguồn lực triển khai mô hình được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức phi chính phủ, nguồn vốn vay ưu đãi và các chính sách hỗ trợ của địa phương. Việc kết hợp giữa bảo vệ rừng với sản xuất thủy sản theo hướng sinh thái đã góp phần hạn chế các tác động tiêu cực của nuôi trồng thủy sản thâm canh đối với môi trường, đồng thời tạo thêm động lực để người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025). Mô hình này được xem là hướng tiếp cận phù hợp đối với khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó người dân vừa là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ tài nguyên thiên nhiên, vừa là lực lượng nòng cốt tham gia quản lý và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
181
(v) Dự án “Chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (MERIT)”: Dự án chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (MERIT) là một trong những chương trình có quy mô đầu tư lớn được chuẩn bị triển khai tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ trong giai đoạn cuối kỳ báo cáo. Dự án sử dụng nguồn vốn vay ODA của Ngân hàng Thế giới (WB), với tổng mức đầu tư dự kiến trên 863 tỷ đồng, tập trung vào các hoạt động tăng cường khả năng chống chịu của khu vực ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025). Bên cạnh các hạng mục hạ tầng như nâng cấp đê biển, bảo vệ bờ biển và phục hồi rừng phòng hộ ven biển, dự án còn lồng ghép các chương trình hỗ trợ sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng dân cư ven biển. Đây là mô hình huy động hiệu quả nguồn vốn quốc tế kết hợp với nguồn lực địa phương nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng ven biển trong dài hạn (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025). b. Quản lý rác thải nhựa đại dương: (i) Dự án 3RproMar (GIZ/BMZ): Dự án “Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác thải nhựa để bảo vệ môi trường biển” (3RproMar) do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) thực hiện với nguồn viện trợ không hoàn lại từ Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) là một trong những dự án quốc tế tiêu biểu trong lĩnh vực quản lý rác thải nhựa đại dương tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ (GIZ Vietnam, 2023). Dự án tập trung hỗ trợ xây dựng các giải pháp thu gom rác thải tại các khu vực cửa sông đổ ra biển, nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương ven biển và thúc đẩy hoạt động phân loại rác tại nguồn trong cộng đồng dân cư. Cách tiếp cận của dự án hướng đến kiểm soát rác thải nhựa ngay từ nguồn phát sinh, qua đó giảm lượng chất thải thất thoát ra môi trường biển và hệ sinh thái ven bờ (GIZ Vietnam, 2023). Thông qua việc huy động sự tham gia của chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và các tổ chức quốc tế, dự án đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa đại dương, đồng thời tạo tiền đề cho việc nhân rộng các mô hình quản lý chất thải dựa vào cộng đồng trong thời gian tới. (ii) Chương trình "Tổ tự quản môi trường biển" tại các cảng cá: Bên cạnh các dự án hỗ trợ quốc tế, nhiều địa phương ven biển đã triển khai mô hình “Tổ tự quản môi trường biển” tại các cảng cá nhằm phát huy vai trò của cộng đồng ngư dân trong bảo vệ môi trường biển. Chương trình được triển khai bằng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của địa phương kết hợp với nguồn hỗ trợ từ các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, tổng hợp năm 2025).
182
Các tổ tự quản thực hiện tuyên truyền, vận động ngư dân thu gom chất thải phát sinh trong quá trình khai thác thủy sản, hạn chế tình trạng xả rác xuống biển, đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện các quy định bảo vệ môi trường tại khu vực cảng cá và bến cá. Đây là mô hình xã hội hóa có chi phí đầu tư không lớn nhưng mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao ý thức cộng đồng và tăng cường trách nhiệm của người dân đối với môi trường biển. Nhìn chung, giai đoạn 2021 – 2025 ghi nhận sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường biển tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần Thơ hiện nay. Các nguồn lực ngoài ngân sách đã được huy động hiệu quả cho các hoạt động phục hồi rừng ngập mặn, quản lý rác thải nhựa đại dương, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều này góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, đồng thời nâng cao tính bền vững trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng ven biển trước các tác động của biến đổi khí hậu. Bảng 7.4. Tổng hợp các dự án/chương trnh xã hội hóa bảo vệ môi trường
biển tại Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 183
| Dự án/Chương trnh | Chủ thể xã hội hóa | Nguồn lực huy động | Kết quả nổi bật |
| Dự án B4 – Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển ĐBSCL (ActionAid/BfdW/AFV) | Cộng đồng địa phương, chính quyền cơ sở, NGO quốc tế | Viện trợ quốc tế từ Chính phủ Áo, BfdW, ActionAid và AFV | Phục hồi 105 ha rừng ngập mặn; khoảng 1.400 hộ dân tham gia; thu nhập hộ hưởng lợi tăng khoảng 40% |
| Dự án phục hồi rừng ngập mặn và giải pháp dựa vào thiên nhiên (IUCN – Coca-Cola) | Doanh nghiệp, tổ chức quốc tế, cộng đồng địa phương | Quỹ Coca-Cola Foundation (TCCF) và hỗ trợ kỹ thuật của IUCN | Phục hồi rừng ngập mặn ven biển Vĩnh Châu; hỗ trợ cộng đồng thích ứng biến đổi khí hậu |
| Chương trình “Sống khỏe góp xanh cùng Panasonic” | Doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng | Nguồn kinh phí trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) của Panasonic | Hỗ trợ trồng rừng ngập mặn tại Lai Hòa; nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ hệ sinh thái ven biển |
| Mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn | Hộ nuôi trồng thủy sản, tổ chức hỗ trợ phát triển, chính quyền địa phương | Nguồn hỗ trợ kỹ thuật từ NGO, vốn vay ưu đãi và các chương trình hỗ trợ địa phương | Góp phần bảo vệ rừng ngập mặn, giảm áp lực môi trường từ hoạt động nuôi trồng thủy sản |
| Dự án/Chương trnh | Chủ thể xã hội hóa | Nguồn lực huy động | Kết quả nổi bật |
| Dự án chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (MERIT) | Chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, nhà tài trợ quốc tế | Vốn ODA của Ngân hàng Thế giới (WB) và vốn đối ứng địa phương | Tăng cường khả năng chống chịu ven biển; phục hồi rừng phòng hộ; hỗ trợ sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu |
| Dự án 3RproMar – Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác thải nhựa để bảo vệ môi trường biển (GIZ/BMZ) | Cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, GIZ | Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Đức (BMZ) | Hỗ trợ thu gom rác tại cửa sông; thúc đẩy phân loại rác tại nguồn và giảm thất thoát rác thải nhựa ra biển |
| Chương trình “Tổ tự quản môi trường biển” tại các cảng cá | Ngư dân, cộng đồng địa phương, chính quyền cơ sở | Ngân sách sự nghiệp môi trường và các chương trình hỗ trợ thích ứng biến đổi khí hậu | Nâng cao vai trò cộng đồng trong giám sát, thu gom chất thải và bảo vệ môi trường tại khu vực cảng cá |
Nguồn: Tổng hợp từ GIZ Vietnam (2023); Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024); Báo Lao Động (2024); Báo Đại biểu Nhân dân (2024); Báo Nhân Dân (2024, 2025); Panasonic Việt Nam (2025); UBND tỉnh Sóc Trăng (2021, 2025).
c. Đánh giá mức độ tham gia của các bên và hiệu quả xã hội hóa: Mức độ tham gia của các bên liên quan: Giai đoạn 2021 – 2025 ghi nhận sự tham gia tương đối đa dạng của các chủ thể ngoài ngân sách nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường biển tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần Thơ. Các chủ thể tham gia chủ yếu gồm: (i) cộng đồng dân cư ven biển và các hộ nuôi trồng thủy sản tham gia các mô hình sinh kế gắn với bảo vệ rừng ngập mặn và bảo vệ môi trường biển; (ii) doanh nghiệp thông qua các chương trình trách nhiệm xã hội (CSR), tiêu biểu như Quỹ Coca-Cola Foundation và Công ty TNHH Panasonic Việt Nam; (iii) các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ như IUCN, GIZ, ActionAid, BfdW; và (iv) các tổ chức tài chính phát triển quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững vùng ven biển. Sự tham gia của nhiều nhóm chủ thể với các hình thức hỗ trợ khác nhau như tài trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực, chuyển giao mô hình quản lý và hỗ trợ sinh kế đã góp phần bổ sung nguồn lực đáng kể cho công tác bảo vệ môi trường biển, giảm áp lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên ven biển. Hiệu quả của các hoạt động xã hội hóa:
184
Kết quả triển khai các chương trình, dự án cho thấy các mô hình xã hội hóa gắn bảo vệ môi trường với phát triển sinh kế cộng đồng có hiệu quả tương đối bền vững. Các dự án phục hồi rừng ngập mặn kết hợp hỗ trợ sinh kế, mô hình nuôi tôm sinh thái gắn với bảo vệ rừng và các hoạt động quản lý rác thải dựa vào cộng đồng đã góp phần nâng cao nhận thức, tăng trách nhiệm của người dân trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển. Một số mô hình đã mang lại kết quả tích cực cả về môi trường và kinh tế - xã hội. Điển hình, Dự án B4 không chỉ góp phần phục hồi 105 ha rừng ngập mặn mà còn hỗ trợ khoảng 1.400 hộ dân tham gia các hoạt động sinh kế gắn với bảo vệ rừng, qua đó cải thiện thu nhập và tạo động lực để cộng đồng tham gia bảo vệ tài nguyên một cách chủ động, lâu dài. Các chương trình phục hồi rừng ngập mặn do doanh nghiệp và tổ chức quốc tế hỗ trợ cũng góp phần tăng cường khả năng phòng hộ ven biển, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học khu vực ven bờ. Trong lĩnh vực quản lý chất thải, các mô hình phân loại rác tại nguồn, thu gom rác thải tại khu vực cửa sông và các tổ tự quản môi trường biển đã từng bước nâng cao nhận thức cộng đồng, góp phần hạn chế tình trạng xả rác thải ra môi trường biển và tăng cường vai trò giám sát của người dân tại địa phương. Những tồn tại, hạn chế: Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, phần lớn các hoạt động xã hội hóa bảo vệ môi trường biển trong giai đoạn 2021 – 2025 vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn viện trợ quốc tế, nguồn vốn ODA hoặc nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp. Nguồn lực huy động từ khu vực tư nhân trong nước và sự tham gia chủ động của cộng đồng vẫn còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Bên cạnh đó, một số mô hình mới được triển khai trong thời gian ngắn nên chưa đủ cơ sở để đánh giá toàn diện về hiệu quả lâu dài. Khả năng duy trì và nhân rộng kết quả sau khi các chương trình, dự án kết thúc còn phụ thuộc vào năng lực quản lý của địa phương, nguồn kinh phí duy trì và mức độ tiếp tục tham gia của cộng đồng. Do đó, trong giai đoạn 2026 – 2030 cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích xã hội hóa, tăng cường huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, đồng thời lồng ghép hiệu quả các mô hình đã được kiểm chứng vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của địa phương nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài.
7.8. HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI
ĐẢO
7.8.1. Tổng quan hoạt động hợp tác quốc tế giai đoạn 2021 – 2025
Giai đoạn 2021 – 2025, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần Thơ hiện nay được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững kinh tế biển. Các
185
chương trình hợp tác tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý tổng hợp vùng bờ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển và nâng cao năng lực quản lý tài nguyên môi trường.
Trong giai đoạn này, địa phương đã tiếp nhận sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và đối tác phát triển như Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), ActionAid, Tổ chức Bánh mì Thế giới (BfdW) và nhiều tổ chức phát triển khác. Nguồn hỗ trợ không chỉ bao gồm viện trợ tài chính và vốn ODA mà còn tập trung vào chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng các mô hình quản lý môi trường dựa vào hệ sinh thái. Nhiều chương trình hợp tác quốc tế được triển khai trong giai đoạn này cũng đồng thời là các mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường biển với sự tham gia của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp địa phương. Các kết quả cụ thể về huy động nguồn lực xã hội hóa được trình bày tại Mục 7.7.2.
7.8.2. Hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
môi trường biển Một trong những giá trị nổi bật của các chương trình hợp tác quốc tế trong giai đoạn 2021 – 2025 là hỗ trợ địa phương tiếp cận các công nghệ và phương pháp quản lý hiện đại phục vụ bảo vệ môi trường biển và vùng ven biển. Trong lĩnh vực phục hồi hệ sinh thái ven biển, các dự án do IUCN, USAID và các đối tác phát triển hỗ trợ đã giới thiệu các giải pháp thích ứng dựa vào thiên nhiên (Nature-based Solutions – NbS), kết hợp giữa phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bờ biển và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu. Một số mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS) được nghiên cứu và thử nghiệm nhằm giảm thiểu phát thải nước thải ra môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước và giảm áp lực lên hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Bên cạnh các kết quả về phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu, các chương trình hợp tác quốc tế còn góp phần nâng cao năng lực quản lý môi trường biển thông qua hoạt động đào tạo, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan quản lý địa phương. Thông qua quá trình triển khai các dự án, nhiều phương pháp tiếp cận mới trong quản lý vùng ven biển, phục hồi hệ sinh thái dựa vào thiên nhiên, đánh giá khả năng hấp thụ các-bon của rừng ngập mặn và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu đã được giới thiệu và áp dụng tại địa phương, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trong dài hạn.
186
Đặc biệt, thông qua Dự án B4, địa phương đã được hỗ trợ nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp xác định sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn. Kết quả nghiên cứu thực địa tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đã được Cục Lâm nghiệp tiếp thu, sử dụng để xây dựng “Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn”, ban hành theo Quyết định số 316/QĐ-LN-SXLN ngày 29/10/2024 áp dụng trên phạm vi toàn quốc (Cục Lâm nghiệp, 2024; Báo Nhân Dân, 2025). Đây là một trong những kết quả hợp tác quốc tế có giá trị khoa học và thực tiễn nổi bật của địa phương trong giai đoạn báo cáo. Bên cạnh đó, nhiều chương trình đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực đã được triển khai cho cán bộ quản lý, lực lượng kỹ thuật và cộng đồng địa phương về quản lý tài nguyên ven biển, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải nhựa đại dương và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn.
7.8.3. Đánh giá kết quả hợp tác quốc tế và định hướng giai đoạn tiếp theo
Nhìn chung, hoạt động hợp tác quốc tế trong giai đoạn 2021 – 2025 đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý môi trường biển và hải đảo của địa phương. Thông qua các chương trình viện trợ, hỗ trợ kỹ thuật và vốn ODA, địa phương đã tiếp cận được nhiều phương pháp quản lý tiên tiến, công nghệ mới và các mô hình phát triển bền vững phù hợp với điều kiện vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Các chương trình hợp tác quốc tế đã hỗ trợ hiệu quả cho công tác phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý chất thải nhựa đại dương, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường và quản lý tổng hợp vùng bờ. Đồng thời, các dự án cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo vệ môi trường và tạo tiền đề cho việc huy động các nguồn lực xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, quy mô hợp tác quốc tế tại địa phương vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các chương trình hỗ trợ theo dự án, thời gian triển khai thường ngắn và phạm vi can thiệp còn phân tán. Việc duy trì, cập nhật và vận hành các kết quả sau khi dự án kết thúc vẫn là thách thức đối với địa phương, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu quản lý môi trường biển ngày càng phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế biển. Trong giai đoạn sau năm 2025, thành phố Cần Thơ cần tiếp tục mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, các định chế tài chính phát triển và các cơ sở nghiên cứu khoa học nhằm tranh thủ nguồn lực cho các chương trình phục hồi hệ sinh thái ven biển, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, quản lý rác thải nhựa đại dương, xây dựng hệ thống quan trắc hiện đại và phát triển cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên địa bàn thành phố.
187
CHƯƠNG 8. CÁC THÁCH THỨC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO, PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP
TRONG 5 NĂM TỚI
8.1. CÁC THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Trên cơ sở đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường biển (Chương 3), các sức ép phát triển (Chương 2), tác động tích lũy (Chương 6) và công tác quản lý (Chương 7), có thể nhận diện bảy nhóm thách thức mang tính hệ thống mà thành phố Cần Thơ cần đối mặt trong giai đoạn 2026 – 2030 như sau: (1) Gia tăng tải lượng ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển: Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đã làm gia tăng đáng kể lượng nước thải, chất thải rắn và các chất ô nhiễm đổ vào môi trường biển. Mặc dù hệ thống thu gom và xử lý chất thải đã được cải thiện, song hạ tầng xử lý nước thải tại khu vực ven biển vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Nước thải sinh hoạt, nước thải từ nuôi tôm thâm canh, chế biến thủy sản và các hoạt động sản xuất khác tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng môi trường nước tại các cửa sông và vùng ven biển. Bên cạnh nguồn thải tại chỗ, môi trường biển còn chịu tác động từ lượng chất ô nhiễm được vận chuyển theo hệ thống sông Hậu và mạng lưới sông ngòi nội vùng ra biển, làm gia tăng nguy cơ tích tụ chất hữu cơ, dinh dưỡng và rác thải nhựa tại các khu vực cửa sông. (2) Suy giảm nguồn lợi thủy sản và áp lực khai thác tài nguyên biển: Nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng ven biển đang có xu hướng suy giảm do cường độ khai thác cao kéo dài trong nhiều năm, đặc biệt tại các khu vực ven bờ và cửa sông. Tình trạng khai thác quá mức, khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cùng với việc sử dụng một số ngư cụ có tính tận diệt đã làm suy giảm trữ lượng và chất lượng nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác cát biển, phát triển cảng biển, giao thông thủy và các dự án hạ tầng ven biển có nguy cơ làm thay đổi địa hình đáy biển, gia tăng độ đục nước và ảnh hưởng đến các bãi đẻ, bãi giống và sinh cảnh của nhiều loài thủy sinh. (3) Suy thoái hệ sinh thái ven biển và đa dạng sinh học: Mặc dù công tác bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn đã đạt được những kết quả tích cực, song các hệ sinh thái ven biển vẫn đang chịu nhiều sức ép từ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nuôi trồng thủy sản thâm canh, phát triển hạ tầng và xói lở bờ biển. Sự suy thoái của rừng ngập mặn, bãi bồi và các sinh cảnh cửa sông không chỉ làm giảm khả năng phòng hộ tự nhiên trước thiên tai mà còn ảnh hưởng đến nơi cư trú, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sinh vật, dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học biển.
188
(4) Ô nhiễm rác thải nhựa và rác thải đại dương: Rác thải nhựa đang trở thành một trong những thách thức môi trường nổi bật tại khu vực ven biển. Nguồn phát sinh đến từ sinh hoạt dân cư, hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và giao thông đường thủy. Tình trạng rác thải nhựa tích tụ tại các cửa sông, bãi bồi, rừng ngập mặn và khu vực ven biển không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan mà còn gây tác động tiêu cực đến sinh vật biển thông qua hiện tượng mắc kẹt, nuốt phải rác hoặc phơi nhiễm vi nhựa trong chuỗi thức ăn. (5) Tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng: Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính dễ tổn thương của khu vực ven biển thông qua các hiện tượng nước biển dâng, xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở bờ biển và thời tiết cực đoan. Nhiều đoạn bờ biển đang tiếp tục bị xói lở với tốc độ cao, đe dọa hệ thống đê biển, rừng phòng hộ ven biển, cơ sở hạ tầng và sinh kế của cộng đồng dân cư. Đồng thời, biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, suy giảm chất lượng môi trường nước và thu hẹp không gian sinh thái tự nhiên. (6) Hạn chế về hạ tầng kỹ thuật và năng lực quản lý môi trường biển: Mặc dù công tác quản lý nhà nước về môi trường biển đã được tăng cường, song hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường tại khu vực ven biển vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Năng lực thu gom, xử lý chất thải, ứng phó sự cố môi trường biển và quản lý rác thải đại dương chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, việc triển khai quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành và các địa phương sau sáp nhập vẫn còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý môi trường biển. (7) Thách thức trong chuyển đổi sang mô hình phát triển kinh tế biển bền vững: Trong những năm tới, thành phố phải đối mặt với yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế biển và bảo vệ môi trường. Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản thâm canh, công nghiệp ven biển, logistics, cảng biển, năng lượng tái tạo và du lịch biển nếu không được kiểm soát tốt có thể làm gia tăng áp lực lên tài nguyên và môi trường biển. Đồng thời, khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của một bộ phận người dân, doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường vẫn còn tồn tại, đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
8.2. PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO TRONG 5 NĂM TỚI Trên cơ sở các thách thức đã được nhận diện tại Mục 8.1, các nhóm giải pháp ưu tiên được xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề môi trường biển và hải đảo theo hướng đồng bộ, có trọng tâm và phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố. Do một số thách thức có tính chất, nguyên nhân và phạm vi tác động tương đồng, báo cáo thực hiện tổng hợp thành các nhóm vấn đề trọng tâm để xác định nhóm giải pháp ưu tiên tương ứng. Mối liên hệ giữa các nhóm thách thức, nhóm giải pháp và các nhiệm vụ triển khai trọng tâm được tổng hợp tại Bảng 8.1 dưới đây.
189
Bảng 8.1. Tổng hợp các nhóm thách thức và định hướng giải pháp ưu tiên
| STT | Nhóm thách thức chủ yếu | Nhóm giải pháp ưu tiên | Nhiệm vụ triển khai trọng tâm |
| 1 | Gia tăng ô nhiễm môi trường nước từ các nguồn thải đất liền (sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) | Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển | Hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý nước thải; kiểm soát nguồn thải; áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng môi trường. |
| 2 | Gia tăng ô nhiễm rác thải nhựa và chất thải rắn ven biển, hải đảo | Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển; Tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng | Hoàn thiện hệ thống thu gom, phân loại, xử lý chất thải; triển khai các mô hình thu gom rác tại cửa sông, bãi triều; thúc đẩy giảm nhựa dùng một lần và phát triển kinh tế tuần hoàn đối với chất thải nhựa. |
| 3 | Suy giảm nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học biển | Bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển, ven biển | Tăng cường quản lý nghề cá; kiểm soát khai thác IUU; phục hồi nguồn lợi thủy sản; bảo vệ bãi giống, bãi đẻ; mở rộng các mô hình đồng quản lý và bảo tồn sinh cảnh tự nhiên. |
| 4 | Suy thoái hệ sinh thái ven biển, xói lở bờ biển và tác động của biến đổi khí hậu | Bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển, ven biển; Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý tổng hợp vùng bờ | Phục hồi rừng ngập mặn; triển khai quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM); đầu tư các công trình phòng chống sạt lở kết hợp giải pháp dựa vào thiên nhiên; tăng cường giám sát diễn biến đường bờ. |
| 5 | Hạn chế về thể chế, năng lực quản lý, quan trắc và cơ sở dữ liệu môi trường biển | Hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực quản lý nhà nước; hiện đại hóa hệ thống quan trắc và cơ sở dữ liệu môi trường | Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cấp mạng lưới quan trắc; ứng dụng GIS, viễn thám và chuyển đổi số; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ; đẩy mạnh hợp tác khoa học và huy động nguồn lực. |
190
Trên cơ sở định hướng nêu tại Bảng 8.1, các nhóm giải pháp được cụ thể hóa như sau:
8.2.1. Phương hướng chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo gắn với
phát triển bền vững Đến năm 2030, phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái, văn hóa biển trên địa. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý hoạt động du lịch nhằm kiểm soát sức tải môi trường, giảm thiểu phát sinh chất thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường. Tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị, xã ven biển và các địa bàn có hoạt động du lịch, dịch vụ, bảo đảm tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt trên 95%. Đồng thời, triển khai hiệu quả phân loại chất thải rắn tại nguồn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải, từng bước giảm tỷ lệ chôn lấp, hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước và biển. Đẩy mạnh trồng, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ ven biển, góp phần bảo vệ bờ biển, giảm thiểu sạt lở, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Phấn đấu trong giai đoạn 2026 – 2030, diện tích trồng rừng phòng hộ ven biển đạt khoảng 250 ha, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng. Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và logistics ven biển theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, bảo đảm lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong quá trình quy hoạch, xây dựng và vận hành các công trình hạ tầng. Việc hoàn thành tuyến đường bộ ven biển và hình thành các khu, cụm kinh tế biển, trong đó có Trần Đề, cần gắn với kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ hệ sinh thái ven biển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, góp phần hình thành hành lang kinh tế biển phát triển theo hướng xanh và bền vững. Phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo từ biển theo hướng giảm phát thải và bảo vệ môi trường, ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi và các mô hình năng lượng xanh phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Đồng thời, tăng cường quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác tài nguyên biển, bao gồm khai thác cát biển, bảo đảm tuân thủ quy hoạch, đánh giá tác động môi trường và phục hồi môi trường sau khai thác, góp phần phát triển kinh tế biển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
8.2.2. Các cơ hội trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo
Công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương và địa phương thông qua việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và các chương trình phát triển bền vững. Đặc biệt, việc triển khai các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong Nghị quyết số 36-NQ/TW đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để địa phương chủ động xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án bảo vệ môi trường một cách đồng bộ, hiệu quả.
191
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực quan trắc môi trường tự động, công nghệ xử lý chất thải, viễn thám và chuyển đổi số, đã mở ra cơ hội lớn để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường với chi phí ngày càng hợp lý. Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như hệ thống quan trắc môi trường trực tuyến, công nghệ viễn thám từ vệ tinh Sentinel-2 và các mô hình xử lý chất thải tiên tiến sẽ giúp tăng cường năng lực giám sát, dự báo và kiểm soát ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các khu vực ven biển và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung. Xu hướng tăng cường liên kết vùng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đối với các vấn đề mang tính liên vùng như sạt lở bờ biển, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và suy thoái hệ sinh thái ven biển. Việc chia sẻ thông tin, dữ liệu môi trường và phối hợp triển khai các chương trình quản lý liên tỉnh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu rủi ro môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong toàn vùng. Sự quan tâm và hỗ trợ ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế và các đối tác phát triển trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng mở ra cơ hội lớn cho địa phương trong việc tiếp cận nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Các chương trình hợp tác quốc tế về quản lý chất thải, bảo vệ môi trường biển, phục hồi hệ sinh thái và phát triển kinh tế xanh sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lý môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Một cơ hội quan trọng khác là sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường đã được nâng cao, thể hiện qua sự sẵn sàng tham gia các hoạt động thu gom, phân loại chất thải, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời, khu vực doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc đầu tư công nghệ sạch, sản xuất thân thiện với môi trường và tham gia các mô hình kinh tế tuần hoàn, qua đó tạo thêm nguồn lực xã hội hóa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
8.2.3. Các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai
đoạn 2026 – 2030
Căn cứ hiện trạng môi trường biển và hải đảo, các nguồn gây ô nhiễm chính, các sức ép phát triển kinh tế biển và yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, thành phố Cần Thơ xác định 06 nhóm giải pháp ưu tiên trong giai đoạn 2026 – 2030 nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao năng lực quản lý môi trường biển theo hướng chủ động, hiện đại và bền vững.
192
(1) Hoàn thiện thể chế và tăng cường thực thi pháp luật: Mục tiêu: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Rà soát, hoàn thiện các quy định địa phương liên quan đến bảo vệ môi trường biển.
- Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý; từng bước chuẩn hóa quy trình cập nhật, khai thác và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giữa các đơn vị, bảo đảm thống nhất trong công tác quản lý và kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu của thành phố và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định.
- Hoàn thành việc thiết lập và cắm mốc hành lang bảo vệ bờ biển theo quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất, xây dựng công trình và các hoạt động phát triển trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ biển nhằm bảo vệ hệ sinh thái, hạn chế sạt lở và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tổ chức phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ theo chức năng và sức chịu tải môi trường; bảo đảm hài hòa giữa phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics, nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường, hạn chế chồng lấn, xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ.
- Quản lý thực hiện quy hoạch; thẩm định, kiểm tra cấp phép hoạt động và tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
- Ứng dụng công nghệ trong giám sát và xử lý vi phạm môi trường.
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường biển các cấp. Cơ quan chủ trì: UBND thành phố. Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành và địa phương ven biển. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng: Nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm, giảm thiểu vi phạm pháp luật về môi trường biển. (2) Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển: Mục tiêu: Giảm thiểu lượng chất thải phát sinh từ khu dân cư, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản và hoạt động khai thác thủy sản xả ra môi trường biển. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Nâng tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực ven biển đạt trên 95%.
193
- Hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các khu dân cư tập trung, khu nuôi trồng thủy sản và cơ sở chế biến thủy sản.
- Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải vào sông, kênh rạch và vùng cửa sông đổ ra biển.
- Xây dựng các điểm thu gom chất thải và ngư cụ hư hỏng tại cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền.
- Triển khai phân loại chất thải rắn tại nguồn theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
- Áp dụng mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, nuôi tôm ít phát thải, sử dụng hiệu quả nước và tái sử dụng phụ phẩm.
- Kiểm soát môi trường tại các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, cơ sở hậu cần nghề cá và cơ sở chế biến thủy sản.
- Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà kính và giảm phát thải trong chuỗi giá trị thủy sản. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan phối hợp: Sở Xây dựng, UBND các xã, phường ven biển, Ban Quản lý cảng cá. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng: Giảm đáng kể lượng rác thải và nước thải phát sinh ra môi trường biển; hạn chế các điểm nóng ô nhiễm ven biển. (3) Phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái ven biển: Mục tiêu: Tăng khả năng chống chịu của hệ sinh thái ven biển trước biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và giảm thiểu sạt lở bờ biển. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Trồng mới và phục hồi khoảng 250 ha rừng phòng hộ ven biển.
- Khoanh vùng và bảo vệ các khu vực rừng ngập mặn hiện có.
- Bảo vệ các bãi triều, bãi giống, bãi đẻ và vùng sinh sản của các loài thủy sản.
- Áp dụng mô hình kết hợp giữa công trình bảo vệ bờ và giải pháp sinh thái dựa vào thiên nhiên.
- Tăng cường cơ chế đồng quản lý nguồn lợi thủy sản với cộng đồng địa phương.
- Thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại các khu vực bãi giống, bãi đẻ, vùng sinh sản và vùng khai thác ven bờ theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017.
- Từng bước giảm cường lực khai thác thủy sản ven bờ; khuyến khích chuyển dịch sang khai thác xa bờ, khai thác có kiểm soát và thân thiện với hệ sinh thái.
194
- Xây dựng các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo vệ mùa sinh sản và khu vực cấm khai thác có thời hạn nhằm phục hồi quần thể thủy sinh vật.
- Tăng cường giám sát việc thực hiện chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường biển. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan phối hợp: Chính quyền địa phương, các tổ chức cộng đồng. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng:
- Nâng cao khả năng bảo vệ bờ biển, phục hồi sinh cảnh tự nhiên và duy trì nguồn lợi thủy sản;
- Nguồn lợi thủy sản ven bờ được phục hồi từng bước.
- Giảm áp lực khai thác đối với các hệ sinh thái nhạy cảm.
- Nâng cao vai trò của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. (4) Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương: Mục tiêu: Kiểm soát và giảm lượng rác thải nhựa phát sinh từ đất liền và hoạt động thủy sản ra môi trường biển. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Tổ chức thường xuyên các chiến dịch làm sạch bờ biển, cửa sông và khu vực ven biển.
- Thiết lập hệ thống thu gom ngư cụ hư hỏng tại các cảng cá.
- Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ phao xốp sang vật liệu thân thiện môi trường.
- Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với các sản phẩm nhựa.
- Xây dựng các mô hình cộng đồng giảm thiểu rác thải nhựa tại khu vực ven biển. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan phối hợp: UBND cấp xã, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng: Giảm đáng kể lượng rác thải nhựa thất thoát ra môi trường biển; nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển. (5) Hiện đại hóa hệ thống quan trắc, giám sát và chuyển đổi số: Mục tiêu: Nâng cao năng lực theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm môi trường biển.
195
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Đầu tư, nâng cấp mạng lưới quan trắc môi trường biển và ven biển.
- Ứng dụng công nghệ IoT, GIS, viễn thám và trí tuệ nhân tạo trong quản lý môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển thống nhất trên địa bàn thành phố.
- Kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường biển quốc gia.
- Tăng cường giám sát tự động đối với các nguồn thải lớn và các khu vực nhạy cảm về môi trường.
- Rà soát, xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý, khai thác, cập nhật và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giữa các sở, ngành, địa phương sau khi sáp nhập địa giới hành chính; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu, quy trình cập nhật, khai thác và chia sẻ thông tin, bảo đảm kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường của thành phố và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan phối hợp: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính và các đơn vị liên quan. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng: Hình thành hệ thống quản lý môi trường biển dựa trên dữ liệu số, hỗ trợ ra quyết định kịp thời và chính xác. (6) Nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò của các bên liên quan: Mục tiêu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và thay đổi hành vi của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường biển, hải đảo; từng bước hình thành văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường và phát huy vai trò của toàn xã hội trong quản lý, bảo vệ tài nguyên biển. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường biển, tài nguyên biển và hải đảo, bảo tồn đa dạng sinh học, chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) và giảm thiểu rác thải nhựa đại dương.
- Đổi mới nội dung, hình thức truyền thông theo hướng đa dạng, dễ tiếp cận; kết hợp giữa truyền thông trực tiếp, truyền thông số, mạng xã hội, hệ thống truyền thanh cơ sở và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tổ chức các chiến dịch truyền thông, các phong trào cộng đồng như làm sạch bờ biển, thu gom rác thải nhựa, trồng cây ngập mặn, Ngày Môi trường thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và các hoạt động bảo vệ môi trường biển khác.
196
- Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường biển và đa dạng sinh học vào các chương trình giáo dục, hoạt động ngoại khóa tại trường học và các cơ sở đào tạo.
- Nâng cao nhận thức cho ngư dân, hộ nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp chế biến thủy sản và các cơ sở dịch vụ ven biển về sử dụng tài nguyên bền vững, giảm phát sinh chất thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Khuyến khích cộng đồng tham gia giám sát môi trường, phát hiện và phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong quản lý tài nguyên và môi trường biển.
- Xây dựng, nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo tồn hệ sinh thái ven biển. Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan phối hợp: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục và Đào tạo; các tổ chức chính trị - xã hội; UBND các xã, phường ven biển và các đơn vị liên quan. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng:
- Nhận thức và ý thức trách nhiệm của cộng đồng, doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường biển được nâng cao.
- Giảm tình trạng xả rác thải nhựa, khai thác nguồn lợi thủy sản trái quy định và các hành vi gây ô nhiễm môi trường biển.
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Hình thành các mô hình cộng đồng tự quản và đồng quản lý hiệu quả tại khu vực ven biển. (7) Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác: Mục tiêu: Bảo đảm nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác đa ngành, đa cấp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững. Nhiệm vụ trọng tâm:
- Huy động và đa dạng hóa các nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, nguồn tài trợ quốc tế, các quỹ môi trường, nguồn tài chính xanh và nguồn lực xã hội hóa phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
197
- Nghiên cứu, xây dựng và triển khai các dự án tín chỉ carbon từ hệ sinh thái rừng ngập mặn (Blue Carbon), tạo nguồn lực cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời khuyến khích đầu tư xanh, sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn.
- Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các địa phương trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm chia sẻ dữ liệu, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và triển khai các chương trình, dự án về bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tăng cường liên kết vùng trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và vùng bờ; thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa các địa phương ven biển trong kiểm soát ô nhiễm, quan trắc môi trường, quản lý nguồn lợi thủy sản và ứng phó với các sự cố môi trường liên vùng.
- Thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng môi trường, các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các mô hình phục hồi hệ sinh thái ven biển.
- Thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn biển và sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển thông qua:
+ Phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản; tăng cường tái sử dụng phụ phẩm, tái chế ngư cụ và
giảm thất thoát tài nguyên trong chuỗi giá trị thủy sản.
+ Hỗ trợ phát triển các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu như nuôi trồng thủy sản sinh thái, du lịch sinh thái cộng đồng, dịch vụ hệ sinh thái rừng ngập mặn và các mô hình kinh tế xanh.
+ Đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và tạo việc làm bền vững cho các nhóm ngư dân chịu tác động bởi việc giảm cường lực khai thác ven bờ, phục hồi nguồn lợi thủy sản và bảo tồn hệ sinh thái biển.
+ Khuyến khích doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, tham gia các sáng kiến bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững vùng ven biển. Cơ quan chủ trì: UBND thành phố. Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ và các đơn vị liên quan. Thời gian thực hiện: 2026 – 2030. Kết quả kỳ vọng:
- Hình thành cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
- Tăng cường hợp tác, liên kết vùng và tiếp cận các nguồn lực quốc tế.
198
- Phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
- Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm áp lực khai thác tài nguyên tự nhiên. Bảng 8.2. Phân công thực hiện các nhóm giải pháp bảo vệ môi trường biển
và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030 199
| STT | Nhóm giải pháp ưu tiên | Nội dung trọng tâm | Cơ quan chủ tr | Cơ quan phối hợp | Giai đoạn thực hiện |
| 1 | Hoàn thiện thể chế và tăng cường thực thi pháp luật | Xây dựng và triển khai quản lý tổng hợp vùng bờ; hoàn thiện cơ chế, chính sách; quản lý thực hiện quy hoạch; thẩm định, cấp phép; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm | UBND thành phố | Sở Nông nghiệp và Môi trường, các sở, ngành liên quan, UBND các xã, phường ven biển | 2026 – 2030 |
| 2 | Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển | Thu gom, xử lý chất thải; kiểm soát nước thải; giảm nguồn thải từ nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản; kiểm soát ô nhiễm tại cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và khu dân cư ven biển | Sở Nông nghiệp và Môi trường | Sở Xây dựng, Sở Công Thương, Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp, UBND các xã, phường ven biển và các đơn vị liên quan | 2026 – 2030 |
| 3 | Phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái ven biển | Trồng mới, phục hồi rừng ngập mặn; bảo vệ bãi giống, bãi đẻ; bảo tồn đa dạng sinh học; đồng quản lý nguồn lợi thủy sản; giảm cường lực khai thác ven bờ | Sở Nông nghiệp và Môi trường | Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, UBND các xã, phường ven biển, các tổ chức cộng đồng | 2026 – 2030 |
| 4 | Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương | Thu gom rác thải nhựa; quản lý ngư cụ hư hỏng; triển khai trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); xây dựng mô hình cộng đồng giảm rác thải nhựa | Sở Nông nghiệp và Môi trường | UBND các xã, phường ven biển, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, Ban Quản lý cảng cá và các đơn vị liên quan | 2026 – 2030 |
| STT | Nhóm giải pháp ưu tiên | Nội dung trọng tâm | Cơ quan chủ tr | Cơ quan phối hợp | Giai đoạn thực hiện |
| 5 | Hiện đại hóa quan trắc, giám sát và chuyển đổi số | Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển; ứng dụng GIS, IoT, viễn thám và trí tuệ nhân tạo; mở rộng mạng lưới quan trắc tự động; kết nối dữ liệu với hệ thống quốc gia | Sở Nông nghiệp và Môi trường | Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, các đơn vị quan trắc, các cơ quan chuyên môn liên quan | 2026 – 2030 |
| 6 | Nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò của các bên liên quan | Tuyên truyền, giáo dục môi trường biển; nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên, chống khai thác IUU và giảm thiểu rác thải nhựa; xây dựng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển | Sở Nông nghiệp và Môi trường | Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội, UBND các xã, phường ven biển | 2026 – 2030 |
| 7 | Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác | Huy động vốn ODA, vốn xã hội hóa và nguồn tài chính xanh; phát triển dự án Blue Carbon; tăng cường hợp tác quốc tế, liên kết vùng; phát triển kinh tế tuần hoàn biển và sinh kế bền vững | UBND thành phố | Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường, các sở, ngành liên quan và các tổ chức quốc tế | 2026 – 2030 |
Việc triển khai các nhóm giải pháp nêu trên cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, liên ngành và gắn kết chặt chẽ giữa bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế biển bền vững. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò cơ quan đầu mối tham mưu, theo dõi và tổng hợp kết quả thực hiện; các sở, ngành, địa phương và cộng đồng dân cư ven biển có trách nhiệm phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao nhằm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu bảo vệ môi trường biển và hải đảo của thành phố đến năm 2030.
200
8.2.4. Tổ chức thực hiện, lộ trnh triển khai và các chỉ tiêu giám sát
a. Tổ chức thực hiện: Để bảo đảm thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2026 – 2030, thành phố Cần Thơ triển khai theo nguyên tắc quản lý tổng hợp, liên ngành, liên vùng, dựa vào hệ sinh thái và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường biển. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ là cơ quan chỉ đạo thống nhất, chịu trách nhiệm tổ chức triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và hải đảo trên địa bàn; chỉ đạo lồng ghép các mục tiêu bảo vệ môi trường biển vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bố trí nguồn lực thực hiện; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn phát triển. Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; chủ trì xây dựng và triển khai Kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ; tổ chức quan trắc, giám sát môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo trên địa bàn thành phố. Các sở, ngành liên quan như Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an thành phố, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp, Ban Quản lý cảng cá Trần Đề và các đơn vị có liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý; tăng cường chia sẻ dữ liệu, phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát các nguồn thải và xử lý các sự cố môi trường biển phát sinh. UBND các xã, phường ven biển chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp các nguồn thải trên địa bàn; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật; vận động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển; giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, du lịch và dịch vụ ven biển; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đối với lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Bộ đội Biên phòng, lực lượng kiểm ngư, Ban Quản lý cảng cá Trần Đề và chính quyền địa phương trong việc kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); bảo vệ các khu vực sinh sản, bãi giống, bãi đẻ và khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm.
201
Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội nghề cá, hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư tham gia các hoạt động giám sát cộng đồng, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ rừng ngập mặn, thu gom chất thải ven biển, giảm thiểu rác thải nhựa và phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn biển. Các cơ sở giáo dục, cơ quan truyền thông, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức cộng đồng có trách nhiệm phối hợp triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương, bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững tài nguyên biển; từng bước hình thành văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trong cộng đồng dân cư ven biển. b. Lộ trình triển khai thực hiện giai đoạn 2026 – 2030: Giai đoạn 2026 – 2027: Hoàn thiện thể chế và nền tảng quản lý: Trong giai đoạn đầu, tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý, tổ chức bộ máy và các công cụ quản lý phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Rà soát, cập nhật và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý môi trường biển và hải đảo phù hợp với mô hình tổ chức hành chính sau sáp nhập.
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường biển, các nguồn thải và các khu vực nhạy cảm về môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển dùng chung trên địa bàn thành phố.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát môi trường biển và cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành.
- Triển khai thí điểm các mô hình giảm thiểu rác thải nhựa, mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản và mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng và triển khai chương trình truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và bảo tồn đa dạng sinh học.
- Xây dựng danh mục các chương trình, dự án ưu tiên để huy động nguồn vốn đầu tư công, ODA, vốn tài trợ quốc tế và nguồn lực xã hội hóa.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và xây dựng danh mục các dự án ưu tiên nhằm huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, các quỹ môi trường và nguồn lực xã hội hóa. Giai đoạn 2027 – 2029: Đầu tư hạ tầng, phục hồi hệ sinh thái và mở rộng các mô hình hiệu quả: Đây là giai đoạn triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và đầu tư hạ tầng nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao năng lực quản lý môi trường biển.
202
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Đầu tư, nâng cấp hệ thống thu gom, trung chuyển và xử lý chất thải tại các xã, phường ven biển.
- Hoàn thiện các điểm thu gom chất thải, ngư cụ hư hỏng và chất thải từ hoạt động khai thác thủy sản tại các cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền.
- Mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường biển, cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung.
- Xây dựng và vận hành hệ thống thông tin không gian biển trên nền tảng GIS, kết nối với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển quốc gia.
- Triển khai các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bãi giống, bãi đẻ, khu vực sinh sản của các loài thủy sản.
- Tăng cường thực hiện các giải pháp giảm khai thác ven bờ, phát triển nghề cá có trách nhiệm và chuyển đổi sinh kế bền vững cho ngư dân.
- Mở rộng áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
- Mở rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản và giảm thiểu rác thải nhựa.
- Triển khai các chương trình hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn biển và nghiên cứu thí điểm các dự án tín chỉ carbon từ hệ sinh thái rừng ngập mặn (Blue Carbon). Năm 2030: Đánh giá kết quả và hoàn thiện hệ thống quản lý: Tập trung đánh giá toàn diện kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và hải đảo trong giai đoạn 2026 – 2030, làm cơ sở xây dựng định hướng cho giai đoạn tiếp theo. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
- Đánh giá hiệu quả các chương trình phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và giảm thiểu rác thải nhựa.
- Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và hệ thống giám sát môi trường biển.
- Tổng kết, nhân rộng các mô hình quản lý hiệu quả và sáng kiến cộng đồng.
- Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền, sự tham gia của cộng đồng và các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản.
- Đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực, hợp tác quốc tế, liên kết vùng và khả năng nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn biển, sinh kế bền vững.
203
- Đề xuất các nhiệm vụ, chương trình và dự án trọng điểm cho giai đoạn sau năm 2030. c. Cơ chế giám sát, đánh giá thực hiện: Việc theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và hải đảo được thực hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu giám sát, mạng lưới quan trắc môi trường biển, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển, các chương trình kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và báo cáo định kỳ của các cơ quan liên quan. Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổng hợp kết quả thực hiện hằng năm; tham mưu UBND thành phố tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và tổng kết giai đoạn vào năm 2030. Kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh các chương trình, dự án ưu tiên và phân bổ nguồn lực phù hợp với tình hình thực tế. Khuyến khích áp dụng các công cụ số, hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, thiết bị quan trắc tự động và các nền tảng dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm và hỗ trợ quá trình ra
quyết định trong quản lý môi trường biển.
d. Các chỉ tiêu giám sát chủ yếu đến năm 2030: Các chỉ tiêu giám sát chủ yếu được trình bày trong bảng bên dưới. Bảng 8.3. Các chỉ tiêu giám sát thực hiện công tác bảo vệ môi trường biển
và hải đảo đến năm 2030 204
| TT | Chỉ tiêu giám sát | Đơn vị | Mục tiêu đến năm 2030 |
| 1 | Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực ven biển | % | ≥ 95 |
| 2 | Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân loại tại nguồn tại khu vực ven biển | % | 60 - 70 |
| 3 | Diện tích rừng phòng hộ ven biển được trồng mới và phục hồi | ha | ≥ 250 |
| 4 | Tỷ lệ cơ sở nuôi trồng thủy sản quy mô lớn thực hiện đầy đủ yêu cầu bảo vệ môi trường | % | 100 |
| 5 | Tỷ lệ cơ sở chế biến thủy sản có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn | % | 100 |
| 6 | Tỷ lệ giảm lượng rác thải nhựa thất thoát ra môi trường biển so với năm 2025 | % | ≥ 50 |
| 7 | Tỷ lệ cảng cá, khu neo đậu tàu cá bố trí điểm thu gom chất thải và ngư cụ sau sử dụng | % | 100 |
| TT | Chỉ tiêu giám sát | Đơn vị | Mục tiêu đến năm 2030 |
| 8 | Tỷ lệ dữ liệu quan trắc môi trường biển được cập nhật trên cơ sở dữ liệu số dùng chung | % | 100 |
| 9 | Tỷ lệ cán bộ quản lý môi trường biển cấp xã được đào tạo, tập huấn định kỳ | % | 100 |
| 10 | Số mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản được duy trì hoặc thành lập mới | Mô hình | ≥ 05 |
| 11 | Tỷ lệ cơ sở nuôi trồng thủy sản áp dụng mô hình tuần hoàn hoặc giảm phát thải | % | ≥ 30 |
| 12 | Tỷ lệ ngư cụ sau sử dụng được thu gom tại các cảng cá và khu neo đậu | % | ≥ 80 |
| 13 | Tỷ lệ dữ liệu môi trường biển được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia | % | 100 |
| 14 | Tỷ lệ cộng đồng dân cư ven biển được tiếp cận các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức | % | ≥90 |
e. Nguồn lực thực hiện: Nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2026 – 2030 được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn đầu tư công trung hạn, vốn ODA, vốn viện trợ không hoàn lại, các quỹ môi trường, quỹ khí hậu, nguồn xã hội hóa từ doanh nghiệp và cộng đồng, nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon và các cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái. Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng điểm gồm: xây dựng và vận hành hệ thống quan trắc môi trường biển; phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn; kiểm soát ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin môi trường biển; phục hồi hệ sinh thái ven biển; bảo vệ nguồn lợi thủy sản; chuyển đổi số trong quản lý môi trường biển; ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Bên cạnh nguồn vốn ngân sách, thành phố ưu tiên huy động các nguồn lực xã hội hóa và hợp tác quốc tế thông qua các chương trình về thích ứng biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái ven biển, phát triển tín chỉ carbon rừng ngập mặn (Blue Carbon), giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và phát triển kinh tế biển xanh. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng các công cụ kinh tế môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, từng bước hình thành cơ chế tài chính bền vững phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo trong dài hạn. Trong quá trình triển khai, ưu tiên bố trí nguồn lực trước đối với các khu vực ven biển chịu áp lực môi trường lớn, các vùng cửa sông, khu vực nuôi trồng thủy sản tập trung và các địa bàn có nguy cơ sạt lở, suy thoái hệ sinh thái cao nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy tác động của các giải pháp bảo vệ môi trường.
205
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 được xây dựng trong bối cảnh đặc biệt: lần đầu tiên thành phố Cần Thơ chính thức sở hữu không gian biển sau khi hợp nhất với tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Với đường bờ biển dài 72 km kết nối trực tiếp Biển Đông qua ba cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, thành phố Cần Thơ đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế biển với đầy đủ cả tiềm năng lẫn thách thức. Qua tổng hợp, phân tích các số liệu quan trắc, điều tra thực địa và đánh giá hệ thống quản lý trong giai đoạn 2021 – 2025, có thể rút ra các kết luận chính như sau: Về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế – xã hội: Vùng ven biển thành phố Cần Thơ mang đặc trưng sinh thái cửa sông chuyển tiếp đặc thù, chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ bán nhật triều không đều và dòng phù sa từ hệ thống sông Mê Kông. Đây là nền tảng tự nhiên cho các ngành kinh tế biển mũi nhọn gồm nuôi trồng thủy sản (tôm, nghêu), năng lượng tái tạo (điện gió) và logistics cảng biển (cảng Trần Đề). Tuy nhiên, địa hình thấp, độ cao trung bình chỉ 0,5 – 2,5 m so với mực nước biển, khiến toàn vùng ven biển có mức độ phơi lộ rất cao trước tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn. Về sức ép phát triển kinh tế – xã hội đối với môi trường biển: Các hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản, phát triển cảng biển và giao thông đường thủy, đô thị hóa ven biển, cùng với nguồn thải từ đất liền theo hệ thống sông Hậu ra cửa biển đang tạo ra áp lực tổng hợp ngày càng gia tăng lên môi trường biển. Đặc biệt, hoạt động nuôi tôm công nghiệp quy mô lớn tại vùng ven làm phát sinh lượng nước thải giàu chất hữu cơ, thuốc kháng sinh và hóa chất nuôi trồng chưa được xử lý triệt để trước khi xả ra môi trường. Hoạt động khai thác cát biển và san lấp lấn biển cũng đang làm biến đổi đáng kể địa hình đáy biển và chế độ thủy động lực ven bờ. Về chất lượng môi trường nước: Kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy chất lượng nước biển ven bờ nhìn chung còn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT ở nhiều thông số. Tuy nhiên, đã xuất hiện dấu hiệu suy giảm cục bộ tại các khu vực cửa sông Trần Đề, Định An, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và khu vực ven biển có mật độ dân cư cao. Nồng độ amoni, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), photphat và Coliform tại một số điểm quan trắc có xu hướng tăng theo thời gian, phản ánh áp lực tải lượng ô nhiễm ngày càng tích lũy từ các nguồn trên. Đối với nước mặt lục địa, chỉ số VN-WQI tại nhiều điểm quan trắc trên hệ thống sông, kênh rạch cho thấy mức chất lượng từ trung bình đến kém, đặc biệt tại các thủy vực tiếp nhận nước thải đô thị và nông nghiệp chưa qua xử lý.
206
Về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản: Đa dạng sinh học biển và ven biển thành phố Cần Thơ có vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái, duy trì nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển. Giai đoạn 2021 – 2025, công tác bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao khả năng phòng hộ ven biển và cải thiện sinh cảnh tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản ven bờ đang có xu hướng suy giảm do khai thác kéo dài với cường độ cao, suy thoái sinh cảnh, ô nhiễm môi trường và tác động của biến đổi khí hậu. Vì vậy, cần tiếp tục tăng cường bảo tồn các hệ sinh thái ven biển, phục hồi nguồn lợi thủy sản và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới. Về quản lý rác thải đại dương: Rác thải nhựa và chất thải rắn sinh hoạt ven biển là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong giai đoạn hiện nay. Các điểm nóng ô nhiễm rác thải biển được ghi nhận tại cửa sông Trần Đề, cửa Định An, bãi triều Vĩnh Châu và khu vực Cù Lao Dung. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải tại các xã ven biển còn thấp, hạ tầng vệ sinh môi trường chưa đáp ứng nhu cầu thực tế; ý thức phân loại rác tại nguồn của người dân chưa được hình thành đồng đều. Về công tác quản lý môi trường biển và hải đảo: Trong giai đoạn 2021 – 2025, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường biển và hải đảo từng bước được hoàn thiện; mạng lưới quan trắc môi trường biển được mở rộng; hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm được tăng cường; nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển được nâng lên bước đầu thông qua các chương trình truyền thông. Tuy nhiên, hệ thống quản lý còn bộc lộ những hạn chế cần khắc phục: sự phân công trách nhiệm giữa các sở, ngành sau hợp nhất còn chưa rõ ràng, dẫn đến chồng chéo và thiếu đồng bộ; nguồn lực tài chính và nhân lực cho công tác bảo vệ môi trường biển còn hạn chế so với yêu cầu; hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu vực ven biển chưa được đầu tư đúng mức; việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý môi trường biển còn chậm. Về biến đổi khí hậu và các thách thức mới nổi: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tác động ngày càng rõ rệt đến vùng biển và ven biển thành phố Cần Thơ, biểu hiện qua tình trạng xói lở bờ biển gia tăng, xâm nhập mặn lấn sâu vào nội đồng, ngập úng cục bộ và tần suất triều cường tăng cao. Đây là thách thức mang tính hệ thống, đòi hỏi phải có chiến lược thích ứng dài hạn gắn kết với các mục tiêu bảo vệ môi trường biển. Nhìn tổng thể, môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ đang ở giai đoạn chuyển tiếp quan trọng: tiềm năng kinh tế biển rất lớn nhưng áp lực môi trường cũng đang gia tăng nhanh chóng. Nếu không có các biện pháp quản lý tổng hợp, đồng bộ và quyết liệt, các vấn đề môi trường biển hiện tại có nguy cơ trở thành những điểm tới hạn không thể đảo ngược trong giai đoạn tiếp theo.
207
KIẾN NGHỊ Để thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường bền vững, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tập trung triển khai các nhóm giải pháp trọng tâm sau:
1. Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ: Phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn ven biển thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030, ưu tiên các khu vực có nguy cơ xói lở cao. Tăng cường phân cấp, phân quyền rõ ràng và cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và chính quyền các xã, phường ven biển trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, tránh chồng chéo sau hợp nhất.
2. Kiến nghị đối với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ: Hoàn thiện và vận hành hiệu quả mạng lưới quan trắc môi trường biển ven bờ, tăng tần suất quan trắc tại các điểm nóng ô nhiễm; từng bước đầu tư lắp đặt các trạm quan trắc tự động, liên tục tại các cửa sông và khu vực nuôi trồng thủy sản tập trung. Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu môi trường biển thống nhất của thành phố, tích hợp dữ liệu từ ba địa bàn sau hợp nhất, kết nối với cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và phục vụ công tác quản lý, ra quyết định theo thời gian thực. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các vi phạm về xả thải ra môi trường biển, đặc biệt đối với các cơ sở nuôi trồng thủy sản, cảng cá, nhà máy chế biến thủy sản và các dự án san lấp, lấn biển. Triển khai đồng bộ chương trình quản lý rác thải nhựa đại dương trên địa bàn thành phố theo Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Chính Phủ; phối hợp với chính quyền địa phương thiết lập các tổ thu gom rác ven biển thường xuyên tại các điểm nóng như cửa Trần Đề, cửa Định An và khu vực bãi triều Vĩnh Châu. Rà soát, cấp phép và quản lý chặt chẽ hoạt động nhận chìm vật chất nạo vét theo quy định tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP; giám sát thường xuyên các vị trí đổ thải được cấp phép để phòng ngừa tác động môi trường.
3. Kiến nghị đối với xã, phường ven biển: Đẩy mạnh triển khai phân loại rác tại nguồn và tăng tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các xã, phường ven biển, phấn đấu đạt tỷ lệ thu gom trên 95% vào năm 2030.
208
Tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, kiên quyết xử lý các hành vi sử dụng ngư cụ hủy diệt, khai thác trái phép trong vùng cấm và mùa cấm; đồng thời hỗ trợ ngư dân chuyển đổi sinh kế bền vững. Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong việc xây dựng và triển khai các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ rừng ngập mặn, tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản và giám sát môi trường dựa vào cộng đồng. Tích hợp nội dung bảo vệ môi trường biển và thích ứng biến đổi khí hậu vào
kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp xã, phường; ưu tiên đầu tư các công trình bảo vệ bờ biển, kè chống xói lở tại các đoạn bờ biển có nguy cơ cao.
4. Kiến nghị đối với các Bộ, ngành Trung ương: Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật và tiêu chí cụ thể để triển khai Kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ cấp tỉnh, thành phố theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 25/01/2025. Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Trung ương cho các dự án phục hồi rừng ngập mặn, xử lý ô nhiễm điểm nóng và đầu tư hạ tầng quan trắc môi trường biển tại thành phố Cần Thơ. Kiến nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các tổ chức như GIZ, UNDP, World Bank, IUCN trong việc hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho các chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, bảo tồn đa dạng sinh học biển và thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
209
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT A. Văn bản pháp luật, chiến lược, quy hoạch và báo cáo chuyên ngành
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007). Sách đỏ Việt Nam – Phần động vật.
Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016). Báo cáo hiện trạng môi trường biển
và hải đảo quốc gia giai đoạn 2011 – 2015.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Kịch bản biến đổi khí hậu và nước
biển dâng cho Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Hướng dẫn kỹ thuật lập kế hoạch
quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ cấp tỉnh.
5. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2021). Báo cáo tổng kết thực hiện các chỉ
tiêu, kế hoạch năm 2021.
6. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2023). Báo cáo tình hình quản lý tàu cá và
chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) năm 2023.
7. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2023). Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2024.
8. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2024). Báo cáo công tác quản lý khai thác
thủy sản và giám sát hành trình tàu cá năm 2024.
9. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2024). Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
10. Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo tình
hình thực hiện nhiệm vụ lĩnh vực thủy sản năm 2025, giai đoạn 2021– 2025 và xây dựng kế hoạch giai đoạn 2026–2030.
11. Cục Lâm nghiệp (2024). Quyết định số 316/QĐ-LN-SXLN ngày 29 tháng
10 năm 2024 về việc ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn.
12. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2025). Niên giám Thống kê thành phố
Cần Thơ năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
13. Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Hậu Giang
năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
210
14. Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Sóc Trăng
năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
15. Cục Thủy sản (2023). Báo cáo kết quả kiểm soát tàu cá cập, rời cảng và
sản lượng thủy sản qua Cảng cá Trần Đề năm 2023.
16. Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) (2022). Phân tích dòng rác thải nhựa
trong nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng.
17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày
22 tháng 10 năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
18. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2022). Quyết định số 590/QĐ-
UBND ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc phê duyệt kết quả cập nhật diễn biến rừng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2023). Quyết định số 317/QĐ-UBND
ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
20. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2024). Quyết định số 265/QĐ-UBND
ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Quyết định số 340/QĐ-UBND
ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
22. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026). Quyết định số
806/QĐ-UBND ngày 26 tháng 02 năm 2026 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2025 trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
23. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ (2026). Kế hoạch thực
hiện các chỉ tiêu kinh tế – xã hội và nhiệm vụ ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026–2030.
24. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng (2022). Báo cáo
tổng kết sản xuất nông nghiệp – thủy sản năm 2022.
25. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng (2024). Báo cáo tổng hợp
Dự án điều tra, đánh giá diễn biến dòng chảy, bồi lắng, xói lở lòng, bờ, bãi sông trên các sông chính thuộc tỉnh Sóc Trăng.
26. Thành ủy Cần Thơ (2026). Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36-
NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
211
27. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2024). Báo cáo hiện trạng môi
trường biển và hải đảo quốc gia năm 2024.
28. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2023. Nhà
xuất bản Thống kê.
29. Tổng cục Thống kê (2025). Bản tóm tắt kết quả Điều tra dân số và nhà ở
giữa kỳ năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
30. Tổng cục Thủy sản (2017). Báo cáo hiện trạng sản xuất, môi trường và
một số giải pháp phát triển bền vững ngành tôm nước lợ Việt Nam . Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
31. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo tình hình kinh tế –
xã hội năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
32. Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã
hội năm 2024 và phương hướng, kế hoạch năm 2025.
33. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã
hội năm 2024 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2025.
34. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Báo cáo tổng hợp kết quả thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng ven biển giai đoạn 2021–2025.
35. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Tờ trình phê duyệt đề xuất chủ
trương đầu tư Dự án Chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (MERIT) – Hợp phần tỉnh Sóc Trăng.
36. Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam (2022). Báo cáo tổng kết diễn biến tài
nguyên nước đến Đồng bằng sông Cửu Long mùa lũ năm 2021 và nhận định mùa khô năm 2022.
37. Viện Hải dương học (2018). Đánh giá đa dạng sinh học biển vùng Đồng
bằng sông Cửu Long.
38. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015). Báo cáo thuyết minh tổng
hợp: Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
39. Viện Nghiên cứu Hải sản (2019). Điều tra tổng thể hiện trạng và biến
động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam. Tập 4: Vùng biển Tây Nam Bộ . Nhà xuất bản Nông nghiệp.
40. Viện Nghiên cứu Hải sản (2020). Báo cáo khoa học về nguồn lợi thủy sản
vùng biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long.
41. Viện Nghiên cứu Hải sản (2021). Điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản
vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016–2020.
212
42. Viện Nghiên cứu Hải sản (2023). Báo cáo đánh giá phát sinh chất thải
nhựa trong nuôi trồng thủy sản ven biển Việt Nam.
43. WWF Việt Nam (2020). Khảo sát quốc gia về sự đóng góp của rác thải
nhựa từ hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Dự án Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương tại Việt Nam.
44. WWF Việt Nam (2022). Báo cáo tổng kết ngân sách trầm tích vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Dự án Giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai thông qua quản lý cát bền vững. B. Công trình khoa học
45. Đỗ Thị Cẩm Vân và Vũ Đắc Duy (2019). Nghiên cứu thành phần hóa lý
và đặc tính chất thải rắn (bùn đáy) sinh ra từ hoạt động nuôi tôm thâm canh vùng ven biển. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy sản, 14(2), 85– 93.
46. Hà Phước Hùng, Nguyễn Trung Tín và Nguyễn Thanh Phương (2022).
Thành phần loài cá vùng ven biển Sóc Trăng–Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 58(3B), 214–222.
47. Huệ, V. H. (2024). Giải pháp công trình phòng chống xói lở bờ biển Vĩnh
Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 767.
48. Huỳnh Trung Tính, Võ Quốc Tuấn, Lý Trung Nguyên và Lê Quang Tâm
(2024). Hiện trạng rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng thay đổi như thế nào từ năm 2016 đến năm 2022 – Phân tích tư liệu ảnh vệ tinh. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 60(3A), 52–61.
49. Ngô Thụy Diễm Trang và cộng sự (2022). Đánh giá chất lượng nước và
thải lượng từ ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thâm canh ở tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 58(1B), 213–
225. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2022.024
50. Nguyễn Hồng Trung và cộng sự (2022). Đánh giá biến động đường bờ
biển thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2006–2020. Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 733, 85–94.
51. Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2021). Hiện trạng môi trường vùng
nuôi tôm thâm canh Đồng bằng sông Cửu Long. Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
52. Nguyễn Thị Bích Linh, Lê Văn Thắng và Nguyễn Hiếu Trung (2020).
Đánh giá hiện trạng sạt lở và diễn biến sóng biển ảnh hưởng đến đê biển thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 56 (Chuyên đề Môi trường và Biến đổi khí hậu), 136–145.
213
53. Nguyễn Thị Kim Liên, Âu Văn Hóa, Nguyễn Công Tráng, Nguyễn Thị
Khiếm, Huỳnh Trường Giang, Nguyễn Thanh Phương và Vũ Ngọc Út (2020). Biến động thành phần thực vật nổi theo mùa ở vùng cửa sông Hậu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 56 (Chuyên đề Thủy sản), 80–91. https://doi.org/10.22144/ctu.jsi.2020.010
54. Nguyễn Văn Hoàng, Lê Đình Mầu và Nguyễn Trọng Hiếu (2019). Đặc
điểm biến động đường bờ vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 19(4), 456–468.
55. Trần Ngọc Hải và cộng sự (2023). Đánh giá chất lượng nước và bùn đáy
trong hệ thống nuôi tôm thâm canh tại Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam.
56. Võ Quốc Thành, Võ Thị Phương Linh và Danh Minh Khánh (2025). Hiện
trạng và nguyên nhân xói lở bờ biển tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 89, 103–111.
II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
57. Anthony, E. J., Brunier, G., Besset, M., Goichot, M., Dussouillez, P., &
Nguyen, V. L. (2015). Mekong River delta facing increased erosion due to dams and sand mining. Nature Geoscience, 8(11), 874–879. https://doi.org/10.1038/ngeo2530.
58. Boyd, C. E., & Tucker, C. S. (2012). Pond Aquaculture Water Quality
Management. Springer.
59. Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ). (2023).
Assessment of Plastic Waste from Shrimp Farming Systems in the Mekong Delta.
60. Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC). (2021). Climate
Change 2021: The Physical Science Basis. Cambridge University Press.
61. International Union for Conservation of Nature (IUCN). (2024). Nature-
based Solutions for Coastal Resilience and Mangrove Restoration in the Mekong Delta.
62. World Bank. (2019). Vietnam: Toward a Safe, Clean and Resilient Water
System. World Bank.
III. NGUỒN THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
63. Báo Đại biểu Nhân dân (2024, ngày 23 tháng 12). Rừng ngập mặn mang
lại nguồn lợi lớn cho cộng đồng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
64. Báo Lao Động (2024, ngày 25 tháng 12). Quỹ Coca-Cola và IUCN chung
tay tăng cường sức chống chịu vùng ven biển.
214
65. Báo Nhân Dân (2024, ngày 22 tháng 11). Tăng cường khả năng chống chịu
với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
66. Báo Nhân Dân (2025, ngày 10 tháng 3). Xu thế carbon xanh dương.
67. Báo Tài nguyên và Môi trường (2024, ngày 13 tháng 8). Sóc Trăng: Phát
động trồng rừng phòng hộ ven biển tại thị xã Vĩnh Châu.
68. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024, ngày 24 tháng 12). Quỹ Coca-
Cola và IUCN chung tay bảo vệ vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
69. Panasonic Việt Nam (2024, ngày 01 tháng 7). Chiến dịch “Sống khỏe góp
xanh 2024” tái khởi động, hướng tới kỷ lục 1 triệu cây.
70. Thông tấn xã Việt Nam (2022). Giá nhiên liệu tăng cao ảnh hưởng đến
hoạt động khai thác thủy sản tại Cảng cá Trần Đề.
215
