Quyết định 38/2005/QĐ-BYT Của Bộ Y tế về việc ban hành kế hoạch phòng chống đại dịch cúm ở người tại Việt Nam
BỘ Y TẾ
Số: 38/2005/QĐ-BYT | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2005 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Kế hoạch hành động phòng chống đại dịch cúm ở người tại Việt Nam
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 49/2003/NĐ-CP ngày 15/5/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Căn cứ Quyết định số 297/QĐ-TTg ngày 19/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp do vi rút;
Theo đề nghị của Ông Chánh Văn phòng Bộ Y tế, Ông Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài Chính và Ông Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Việt Nam,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.Ban hành kèm theo quyết định này “Kế hoạch hành động phòng chống đại dịch cúm ở người tại Việt Nam”.
Điều 2.Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.
Điều 3.Các Ông, Bà Chánh Văn Phòng, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Việt Nam, Vụ trưởng các Vụ, Cục trưởng các Cục thuộc Bộ Y tế, các thành viên Ban chỉ đạo quốc gia viêm đường hô hấp cấp do vi rút, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
BỘ TRƯỞNG
Trần Thị Trung Chiến
KẾ HOẠCH
Hành động phòng chống đại dịch cúm ở người tại Việt Nam
(Ban hành kèm theo Quyết định số 38/2005/QĐ-BYT
ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Phần I :
BỆNH CÚM VÀ ĐẠI DỊCH CÚM
1.1. Bệnh cúm và đại dịch cúm:
Cúmlà bệnh của cơ quan hô hấp do vi rút có tính chất lây nhiễm cao gây nên, bệnh có nguy cơ đe doạ sức khoẻ cộng đồng vì lây lan nhanh, từ các vụ dịch nhỏ nhanh chóng lan tràn ra cộng đồng, làm số lượng lớn dân cư bị nhiễm bệnh cùng với các biến chứng nặng như viêm phổi bội nhiễm do vi khuẩn hoặc vi rút và có thể gây tử vong.
Vi rút cúm Abao gồm 2 loại kháng nguyên, kháng nguyên Haemagglutinin (H) và kháng nguyên Neuraminidase (N). Những kháng nguyên bề mặt này liên quan đến khả năng gây nhiễm trên vật chủ và tạo ra chủng vi rút mới. Kháng nguyên H liên quan tới quá trình bám dính của vi rút vào tế bào, còn kháng nguyên N hỗ trợ cho vi rút trong quá trình phá vỡ tế bào nhiễm vi rút để giải phóng ra hàng loạt các vi rút mới. Với vi rút cúm A, người ta đã biết đến 16 loại H (được đánh số từ H1 đến H16) và 9 loại N (được đánh số từ 1 đến 9).
Dịch cúm, vi rút cúm có tỷ lệ đột biến cao và kháng nguyên bề mặt luôn có xu hướng biến đổi. Chỉ cần những đột biến nhỏ đã dẫn tới sự biến đổi kháng nguyên, tạo ra một chủng cúm A mới. Về bản chất, đây chỉ là những biến đổi nhỏ trên các vi rút đã lưu hành trên thế giới. Hàng năm, quá trình này gây nên dịch cúm trên diện rộng, thường xảy ra vào cuối thu và đầu xuân. Trong những mùa dịch này, tỷ lệ tấn công thường phụ thuộc vào lứa tuổi và phụ thuộc vào liệu người đó đã từng tiếp xúc với chủng lưu hành này trước đây chưa?
Đại dịch cúm, Đại dịch cúm thường liên quan tới sự thay đổi cơ bản gen ở vi rút cúm A tạo nên một phân típ vi rút mới. Kháng nguyên bề mặt không bị biến đổi mà được thay thế bằng một kháng nguyên mới hoàn toàn khác biệt. Khi đột biến gen xảy ra, toàn bộ cộng đồng chưa có miễn dịch đối với phân típ vi rút cúm mới đó. Ví dụ, năm 1957, một phân típ cúm A mới là H2N2 thay thế cho phân típ H1N1 đã lưu hành trên người trong gần 4 thập kỷ. Cho đến nay, chỉ có vi rút cúm A được biết đến là nguyên nhân của các vụ đại dịch.
Các yếu tố gây nên đại dịch cúm bao gồm: sự xuất hiện của một phân típ mới, khả năng vi rút lây nhiễm một cách mạnh mẽ từ người sang người; và tính độc lực của vi rút đủ để gây bệnh ở người. Các nhà khoa học chưa dự đoán được chính xác khi nào thì đại dịch cúm tiếp theo sẽ xảy ra, nó sẽ kéo dài trong bao lâu. Tuy nhiên, cứ trong bình 30 – 32 năm thì có một đại dịch cúm xảy ra, tính đến nay đã 35 năm kể từ đại dịch cúm cuối cùng xảy ra trên thế giới, thì nguy cơ theo chu kỳ một đại dịch cúm tiếp theo sẽ xảy ra trong tương lai gần.
ổ chứa thiên nhiên của vi rút cúm gia cầm là các loài thuỷ cầm di cư, chủ yếu là vịt trời, và các loài chim này cũng là loài có sức đề kháng cao với vi rút cúm. Các gia cầm, bao gồm gà và gà tây rất nhạy cảm với vi rút cúm. Sự tiếp xúc giữa đàn gia cầm với loài thuỷ cầm hoang dại di cư là nguyên nhân của các vụ dịch cúm xảy ra và cũng đóng vai trò quan trọng làm lan truyền dịch.
Nhìn chung, vi rút cúm gia cầm chỉ gây bệnh ở loài chim và lợn. ở Hồng Kông năm 1997, trường hợp nhiễm vi rút cúm gia cầm trên người đầu tiên được ghi nhận. Nhiễm chủng vi rút cúm A(H5N1) đã gây thể bệnh nhiễm trùng hô hấp nặng ở 18 người, trong đó có 6 trường hợp tử vong. Hiện tượng này trùng lặp với dịch cúm ở gia cầm do cùng một chủng vi rút cúm gia cầm có khả năng gây bệnh cao ở Hồng Kông.
Người ta thấy rằng tiếp xúc trực tiếp với các gia cầm nhiễm vi rút còn sống là nguyên nhân dẫn đến nhiễm bệnh cúm gia cầm ở người. Các nghiên cứu về gen cho thấy vi rút đã chuyển trực tiếp từ chim sang người. Sự giảm đáng kể quần thể gia cầm ở Hông Kông được cho là nguyên nhân làm giảm khả năng lây nhiễm trực tiếp sang người và có thể đã làm thay đổi mức độ đại dịch.
1.2. Các giai đoạn đại dịch cúm:
Theo Tổ chức Y tế thế giới phân chia các giai đoạn đại dịch cúm như sau:
1.2.1. Các giai đoạn đại dịch cúm
Các giai đoạn dịch | Các hoạt động ứng phó thuộc lĩnh vực sức khoẻ cộng đồng |
Giai đoạn tiền đại dịch |
|
Giai đoạn 1:Chưa phát hiện phân típ vi rút cúm mới ở người. Phân típ vi rút cúm gây bệnh ở người có thể gây bệnh ở động vật. Ngược lại, nếu vi rút xuất hiện và gây bệnh ở động vật, nguy cơ người bị nhiễm hoặc mắc bệnh là rất nhỏ | Tăng cường kế hoạch chuẩn bị ứng phó với đại dịch ở phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia, và lãnh thổ. |
Giai đoạn 2:Chưa phát hiện phân típ vi rút cúm mới ở người. Tuy nhiên, việc lưu hành vi rút cúm ở động vật dẫn đến nguy cơ nhất định gây bệnh ở người | Giảm thiểu tối đa nguy cơ lây truyền sang người; phát hiện và báo cáo ngay các trường hợp người mắc bệnh nếu có. |
Giai đoạn cảnh báo đại dịch |
|
Giai đoạn 3:Xuất hiện phân típ mới gây bệnh ở người, nhưng không có lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc gần. | Mô tả nhanh các phân típ vi rút mới, đảm bảo xác định, thông báo và có biện pháp ứng phó với các trường hợp mắc kịp thời. |
Giai đoạn 4:Các ổ dịch nhỏ có sự lây nhiễm giới hạn từ người sang người nhưng có tính chất khu trú địa phương. Vi rút có thể chưa đáp ứng tốt với vật chủ người. | Phòng chống vi rút trong giới hạn ổ dịch hoặc trì hoãn việc lan truyền để có được thời gian và thực hiện biện pháp chuẩn bị ứng phó, bao gồm cả sản xuất vắc xin. |
Giai đoạn 5:Xuất hiện các ổ dịch lớn hơn nhưng sự lây truyền từ người sang người vẫn giới hạn khu trú. Vi rút đã trở nên thích ứng tốt hơn với vật chủ người, nhưng chưa đủ để có khả năng lây nhiễm hiệu quả (Nguy cơ trung bình xảy ra đại dịch). | Tăng cường tối đa nỗ lực kiểm soát hoặc trì hoãn sự lan truyền và xảy ra đại dịch, và có thời gian để thực hiện các biện pháp ứng phó đại dịch. |
Giai đoạn đại dịch |
|
Giai đoạn 6:Đại dịch: Lây truyền duy trì và gia tăng ở cộng đồng. | Hạn chế tối thiểu ảnh hưởng của đại dịch |
- Điểm phân biệt giữa giai đoạn 1 và giai đoạn 2 là dựa trên nguy cơ lây nhiễm ở người hoặc bệnh là do sự lưu hành các chủng vi rút ở động vật. Điểm khác biệt dựa trên các chỉ số khác nhau và tầm quan trọng của chúng theo hiểu biết của khoa học hiện nay. Các yếu tố này có thể bao gồm đặc điểm bệnh học ở động vật và ở người, xảy ra ở động vật nuôi, thú nuôi hoặc chỉ ở các động vật hoang dã, nơi vi rút và bệnh thú y hoặc dịch ở động vật, tính khu trú địa phương hay lan tràn rộng rãi, và /hoặc các chỉ số khoa học khác.
- Điểm khác biệt giữa giai đoạn 3, giai đoạn 4, và giai đoạn 5 dựa trên đánh giá nguy cơ đại dịch. Các yếu tố khác nhau và tầm quan trọng của chúng phụ thuộc vào các kiến thức khoa học hiện nay. Các yếu tố này có thể được bao gồm sự lây nhiễm, tính khu trú địa phương và lây truyền, mức độ nặng của bệnh, sự xuất hiện các gen mới từ chủng gây bệnh ở người (nếu phân lập từ các chủng động vật), và/hoặc các chỉ số khoa học khác.
1.2.1. Mô tả các giai đoạn đại dịch cúm và nguy cơ cho người
Giai đoạn | Mô tả | Nguy cơ cho người |
1 | Chim ốm và chết nhưng không có người mắc bệnh. Vi rút lưu hành trên động vật và không thể gây nhiễm ở người. | Không có nguy cơ hoặc nguy cơ cực kỳ thấp. |
2 | Vi rút động vật có một số biến đổi về gen làm cho nó có thể lây sang người nhưng không đủ để gây nên tình trạng nhiễm trùng. | Nguy cơ thấp cho người bị bệnh, người mắc bệnh do tiếp xúc chặt chẽ với động vật bị bệnh. Không có nguy cơ mắc bệnh nếu tiếp xúc với người bệnh ở các nơi công cộng. |
3 | Nhiều người mắc bệnh, chủ yếu là do tiếp xúc với gia cầm bị bệnh. Chưa xác định được lây truyền từ người sang người. Vi rút biến đổi và có khả năng gây nhiễm từ động vật sang người một cách dễ dàng hơn, nhưng sự lây nhiễm từ người sang người vẫn hạn chế. | Một số người bị mắc bệnh khi tiếp xúc chặt chẽ với động vật nhiễm bệnh và có nguy cơ mắc do tiếp xúc chặt chẽ với người bệnh (các thành viên trong gia đình). Nguy cơ mắc bệnh thấp khi tiếp xúc với người bệnh ở các nơi công cộng ngoài vùng dịch.
|
4 | Những ổ dịch nhỏ xuất hiện nhưng dịch vẫn khu trú ở địa phương và có chiều hướng giảm theo thời gian. Vi rút vẫn chưa đáp ứng tốt và chưa tồn tại được một thời gian dài ở người. | Nguy cơ mắc bệnh trung bình cho người tiếp xúc với người ốm.
Nguy cơ mắc bệnh thấp khi có người bệnh xuất hiện ở các nơi công cộng ngoài vùng dịch. |
5 | Những ổ dịch lớn hơn xuất hiện, nhưng những ổ dịch này vẫn còn khu trú ở những vùng nhất định tại nơi có trường hợp mắc đầu tiên và cuối cùng dịch thu hẹp dần. Sức đề kháng của vi rút yếu và thời gian tồn tại không lâu trên người. | Nguy cơ mắc bệnh trung bình nếu sống hoặc du lịch đến khu vực có ổ dịch.
Có nguy cơ mắc bệnh do tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh ở các nơi công cộng ngoài vùng dịch. |
6 | Bệnh lan tràn rộng rãi ra cộng đồng. Vi rút thích ứng tốt và tồn tại trên người. | Toàn bộ dân chúng có nguy cơ nhiễm bệnh. Nguy cơ cao mắc bệnh nếu tiếp xúc với người bệnh tại các nơi công cộng. |
1.3. ước tính tác động của đại dịch cúm, bài học kinh nghiệm
1.3.1. ước tính tác động đại dịch cúm
Khi đại dịch cúm xảy ra sẽ tác động mạnh đến nền kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế xã hội và sức khoẻ nhân dân. Theo dự báo với dân số của nước ta là 82 triệu người, đại dịch cúm sẽ gây bệnh cho khoảng 16 triệu bệnh nhân (20%), số người tử vong khoảng 819.000 – 1.638.000 người ( 1 – 2%).
Các chuyên gia y tế thế giới đã đưa ra một số viễn cảnh của tác động đại dịch cúm đến kinh tế xã hội: Người dân đổ xô đi mua các phương tiện phòng chống dịch; Các dịch vụ công cộng bị rối loạn; Du lịch giảm mạnh, các nước khuyến cáo công dân của họ không đến Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam về nước, du lịch trong nước giảm mạnh; Giao thông vận tải công cộng hành khách giảm mạnh; Ngân hàng dân lo rút hết tiền để chi tiêu; Giáo dục, một số trường học trong vùng dịch phải đóng cửa; Văn hoá, các hoạt động văn hoá trong vùng dịch bị ngưng trệ; Ngoại giao, các hội nghị quốc tế ở Việt Nam bị huỷ bỏ, người Việt Nam ra nước ngoài bị hạn chế; An ninh trật tự xã hội có nhiều xáo trộn. Đặc biệt công tác y tế, bệnh viện quá tải do số lượng bệnh nhân tăng quá cao, phải thành lập bệnh viện dã chiến; thuốc vật tư y tế khan hiếm không đủ để điều trị bệnh nhân; số lượng người tử vong cao trong cả bệnh viện và cộng đồng.
Việc chưa dự đoán chính xác được độc lực và cường độ lây lan các chủng vi rút cúm sẽ gây nên đại dịch cúm sắp tới làm cho kế hoạch phòng chống rất bị động. ảnh hưởng của đại dịch phụ thuộc vào các đặc tính của vi rút như tính lây nhiễm, tỷ lệ tấn công ở các lứa tuổi khác nhau (tỷ lệ tấn công lứa tuổi là tỷ lệ quần thể bị nhiễm bệnh ở lứa tuổi đó) và mức độ trầm trọng của bệnh. Căn cứ vào mô tả 3 đại dịch của thế kỷ 20 cho thấy sự thay đổi về tỷ lệ tử vong, sự trầm trọng của bệnh và phương thức lây truyền có thể xảy ra.
Một điểm chung của các đại dịch là có sự gia tăng đột ngột tỷ lệ mắc và tử vong, với sự lan truyền nhanh trên thế giới (do được gây ra bởi vi rút có tính lây nhiễm cao cho quần thể không có tính miễn dịch). Đại dịch thường xảy ra trên toàn thế giới trong vòng dưới 1 năm và ảnh hưởng tới hơn 1/4 tổng dân số trên thế giới. Khả năng của y tế và hệ thống cấp cứu đáp ứng thường bị quá tải bởi số lượng mắc bệnh quá lớn trong cộng đồng. Thường đại dịch xảy ra vào đợt 2 và đôi khi là đợt dịch thứ 3. Đại dịch thường bắt đầu một cách đồng loạt ở các nơi khác nhau trên thế giới.
Cúm Tây Ban Nha (1918-1919):Đại dịch cúm năm 1918-1919 gây ra bởi phân típ H1N1 đã gây ra tổn thất chưa từng thấy với cuộc sống con người. Chỉ sau một thời gian ngắn kể từ ngày khởi phát, người nhiễm bệnh nhanh chóng bị suy hô hấp và tử vong. Người ta ước tính khoảng 20 đến 40 triệu người đã tử vong trên toàn thế giới, số tử vong cao nhất ở người trẻ và người khoẻ mạnh trong độ tuổi từ 25 đến 35. Khoảng 25% dân số Vương quốc Anh và Mỹ đã bị mắc bệnh. Bệnh được phát hiện đầu tiên ở úc tại Victoria năm 1919 và sau đó lan tới vùng New South Wales, nơi có tỷ lệ nhập viện ở Sidney đã tăng theo cấp số nhân. Vi rút tấn công vào lứa tuổi trẻ và khoẻ mạnh ở úc, với 60% tử vong xảy ra ở độ tuổi từ 20 đến 45. Đến cuối năm 1919, khoảng 11.500 người dân úc đã tử vong trong đại dịch này.
Cúm châu á (1957-1958):Đại dịch này được gây ra bởi vi rút có tính độc lực thấp hơn đại dịch xảy ra năm 1918-1919 và thế giới đã có chuẩn bị ứng phó tốt hơn. Năm 1957, phân típ mới H2N2 tại Singapore được báo cáo với WHO. Vi rút đã lan tràn trên khắp thế giới trước tháng 5/1958. Tỷ lệ nhiễm bệnh được báo cáo vào khoảng 20-70%, bao gồm khoảng 10-20% thể bệnh tiềm tàng. Tỷ lệ tử vong thấp, từ 1/10000 đến 1/2.000. Tử vong chủ yếu ở trẻ sơ sinh và người già. Tỷ lệ tử vong cao hơn ở đợt dịch số 2. Các biện pháp kiểm dịch không được thực hiện ở úc trong đại dịch này vì vi rút đã bị lan tràn rộng rãi chỉ trong một thời gian ngắn. Chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới đã nhận thấy việc lây nhiễm bệnh chủ yếu ở những nơi tập trung đông người, như tại các hội thảo và các hội nghị.
PHẦN II - ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH DỊCH CÚM A (H5N1)
2.1. Tình hình dịch cúm trên thế giới
Hiện nay, dịch cúm A (H5N1) đã xảy ra ở gia cầm nhiều nước thuộc các châu lục. Đã phát hiện có người nhiễm và tử vong, kết quả xét nghiệm được khẳng định. Dịch cúm A(H5N1) bắt đầu từ năm 1997 ở gia cầm và sau đó gây nhiễm và tử vong ở người ở nhiều nước châu Á.
2.1.1. Dịch cúm A (H5N1) ở gia cầm:
Từ năm 1997, dịch cúm gia cầm do vi rút cúm A(H5N1) đã ghi nhận tại nhiều nước Châu á và Châu Phi. Theo thông báo của Tổ chức sức khoẻ động vật thế giới cuối năm 2003 đến nay có 14 nước có dịch cúm gia cầm:
TT | Quốc gia | Phân týp cúm A |
1 | Hàn Quốc | H5N1, H5N2 |
2 | Nhật Bản | H5N1 |
3 | Đài Loan | H5N2 |
4 | Thái Lan | H5N1 |
5 | Campuchia | H5N1 |
6 | Hồng Kông | H5N1 |
7 | Lào | H5N1 |
8 | Indonexia | H5N1 |
9 | Trung Quốc | H5N1 |
10 | Malaysia | H5N1 |
11 | Việt Nam | H5N1 |
12 | Nam Phi | H5N2 |
13 | Nga | H5N1 |
14 | Mông cổ | H5N1 |
15 | Một số quốc gia châu âu | H5N1 |
Năm | Quốc gia | Phân týp (cúm A) | Số mắc | Tử vong |
1997 | Hồng Kông | H5N1 | 18 | 6 |
1999 | Hồng Kông | H9N2 | 2 | 0 |
2003 | Hồng Kông | H5N1 | 2 | 1 |
2003 | Netherlands | H7N7 | 83 | 1 |
2003 | Hồng Kông | H9N2 | 1 | 0 |
2004 | Thái Lan | H5N1 | 17 | 12 |
2005 | Campuchia | H5N1 | 4 | 4 |
2004 - 2005 | Việt Nam | H5N1 | 91 | 41 |
2005 | Indonesia | H5N1 | 4 | 4 |
Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo trong thời gian tới có thể vi rút cúm gia cầm biến chủng, thành chủng mới có độc lực cao, lây truyền từ người sang người, ước tính khoảng 1 - 40 triệu người tử vong.
Bệnh cúm A(H5N1) chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, cũng như vắc xin dự phòng do đó một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là tăng cường giám sát, xử lý triệt để dịch gia cầm không để lây sang người.
2.2. Dịch cúm A(H5N1) tại Việt Nam
Cuối năm 2003, đầu năm 2004 cùng với dịch cúm gia cầm, đã xuất hiện cúm A với phân týp H5N1 trên người.
Kể từ trường hợp mắc cúm A(H5N1) đầu tiên ngày 26/12/2003 đến 3/109/2005), tại Việt Nam ghi nhận 3 đợt dịch:
- Dịch đợt 1 (từ 26/12/03 đến 10/3/04)
Ghi nhận 23 trường hợp mắc, trong đó 16 trường hợp tử vong tại 13 tỉnh, thành phố.
- Dịch đợt 2 (từ 19/7/04 đến 26/8/04)
Ghi nhận 4 trường hợp mắc cúm A (H5N1), tất cả đều tử vong, tại 3 tỉnh/thành phố.
- Dịch đợt 3 (từ 16/12/04 – 3/10/2005)
Tính đến ngày 3/10/2005 ghi nhận 64 trường hợp mắc tại 25 tỉnh/thành phố, trong đó 21 trường hợp tử vong.
Kể từ trường hợp mắc cúm A(H5N1) đầu tiên tại Việt Nam đến 3/10/2005 đã ghi nhận 3 đợt dịch, mỗi đợt dịch cách nhau 4 tháng với 91 trường hợp mắc, trong đó 41 trường hợp tử vong tại 32 tỉnh/thành phố.
2.3. thuận lợi
Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị về triển khai các biện pháp cấp bách ngăn chặn dịch cúm gia cầm và viêm phổi ở người do vi rút.
Chính phủ Việt Nam kịp thời chỉ đạo thành lập ngay Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống SARS do Bộ trưởng Bộ Y tế làm Trưởng Ban, có nhiệm vụ phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp và cúm ở người.
Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Trưởng Ban.
Có kinh nghiệm trong phòng chống dịch, đặc biệt bài học kinh nghiệm về phòng chống dịch SARS.
Hệ thống y tế dự phòng rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, triển khai tốt công tác giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý kịp thời.
Cập nhật thông tin về cúm gia cầm trong nước và quốc tế. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
2.4. Khó khăn
Chưa có hiểu biết đầy đủ về dịch tễ học bệnh cúm, đặc biệt cúm A (H5N1). Hiện nay, chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nên công tác phòng chống bệnh cúm gặp nhiều khó khăn.
Một số địa phương còn chủ quan, chưa thực sự có biện pháp quyết liệt ngăn chặn dịch cúm gia cầm ở địa phương mình và đôi khi còn giao khoán cho ngành chuyên môn.
Các cơ sở y tế còn thiếu phương tiện để chẩn đoán, tiếp nhận, cách ly, vận chuyển, điều trị bệnh nhân cúm A(H5N1).
Phần lớn chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam có quy mô nhỏ - hộ gia đình, nuôi tại nhà, thả rông, địa bàn rộng, khó quản lý, gây khó khăn cho công tác giám sát, phòng chống dịch.
Nhận thức của người dân về các biện pháp phòng chống dịch cúm ở gia cầm và ở người còn chưa cao, hơn nữa những vấn đề liên quan đến điều kiện kinh tế của hộ gia đình, làm cho việc tiêu huỷ gia cầm mắc bệnh gặp nhiều khó khăn.
2.5. Nhận định - dự báo nguy cơ xảy ra đại dịch
Dịch cúm gia cầm xảy ra lặp đi lặp lại. Hiện tại mầm bệnh lưu hành trong gia cầm, thuỷ cầm khá phổ biến. Việc xử lý dịch cúm gia cầm chưa triệt để ở các ổ dịch nhỏ, lẻ làm cho vi rút phát tán rộng ra môi trường.
Có biểu hiện nghi ngờ người lành mang vi rút, không có triệu chứng lâm sàng làm cho nguy cơ vi rút lây lan trong cộng đồng không được phát hiện là rất lớn.
Cộng đồng chưa có miễn dịch với vi rút cúm mới có khả năng gây đại dịch.
Dịch cúm gia cầm độc lực cao ở nước ta đã tạm thời được khống chế, nhưng nguy cơ tái dịch vẫn rất cao. Trong khi đó, tình hình dịch cúm A (H5N1) tiếp tục diễn biến phức tạp do bệnh lây nhiễm từ gia cầm bị bệnh sang người và nguy cơ vi rút biến đổi để có thể lây từ người sang người. Một khi xảy ra việc vi rút có khả năng lây từ người sang người thì theo cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới có thể trở thành đại dịch ở người gây tử vong từ 1- 40 triệu người trên thế giới.
PHẦN III - MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP THEO GIAI ĐỌAN ĐẠI DỊCH CÚM
3.1. Mục tiêu
1 - Khống chế không để đại dịch cúm xảy ra trên toàn quốc.
2 - Hạn chế tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do cúm.
3 - Chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng ứng phó hiệu quả với đại dịch cúm.
3.2. Các giải pháp theo giai đoạn của đại dịch
3.2.1. giai đoạn 1: Tiền đại dịch: Dịch cúm gia cầm đang xảy ra và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Tình huống 1 :Xuất hiện phân típ mới gây bệnh ở người, nhưng chưa có lây truyền từ người sang người.
3.2.1.1 - Mục tiêu:
- Phát hiện sớm ca mắc cúm A, xác định mối liên quan giữa ca bệnh cúm ở người và dịch bệnh trên động vật.
- Hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong do cúm.
3.2.1.2. Chỉ tiêu:
Phát hiện rải rác ca mắc bệnh trên người.
3.2.1.3. Giải pháp:
3.2.1.3.1. Tổ chức chỉ đạo:Ban chỉ đạo phòng chống đại dịch cúm từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo và duy trì hoạt động.
3.2.1.3.2. Chuyên môn kỹ thuật:
3.2.1.3.2.1. Công tác y tế dự phòng:
Chuẩn bị kế hoạch phòng chống đại dịch cúm trên người:
+ Kế hoạch phòng chống đại dịch cúm trên người ở Việt Nam.
+ Kế hoạch phòng chống đại dịch cúm của các tỉnh/thành phố.
Chuẩn bị diễn tập sẵn sàng phòng chống đại dịch:Tổ chức diễn tập tại 3 miền Bắc, Trung, Nam về phòng chống đại dịch cúm.
Tăng cường hệ thống giám sát (Phụ lục 1): Giám sát để thu thập thông tin cần thiết về dịch cúm và vi rút cúm đề ra các chính sách và biện pháp phòng chống dịch cúm kịp thời, hiệu quả.
Tăng cường chỉ đạo giám sát cúm từ Trung ương đến địa phương.
Củng cố tổ chức, tăng cường năng lực hệ thống giám sát dịch.
Xây dựng 4 phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3 tại các Viện VSDT/Pasteur. Phát hiện kịp thời chủng vi rút mới.
Tăng cường năng lực xét nghiệm cho Trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh có thể thực hiện xét nghiệm PCR để xác định sớm các trường hợp mắc. Hoàn thiện kỹ năng xét nghiệm để có khả năng phát hiện kịp thời những chủng vi rút cúm mới nguy hiểm gây dịch. Giám sát sự lưu hành của vi rút cúm. Thực hiện lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu, thông báo kết quả xét nghiệm theo quy định(Phục lục7).
Tổ chức tập huấn cho cán bộ làm công tác giám sát dịch cúm tại các tuyến.
Duy trì hoạt động của đội cơ động phòng chống dịch theo quy định của Bộ Y tế(Phụ lục 6).
Phát hiện sớm ổ dịch cúm, khoanh vùng, cách ly và xử lý triệt để:Tại một khu vực có tình huống bất thường về số lượng bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp; hoặc có các diễn biến nặng, tử vong của các ca bệnh nghi ngờ do vi rút gây đại dịch cúm gây ra phải thông báo kịp thời cho các cơ quan hữu quan. Tiến hành điều tra ca bệnh. Nhanh chóng xác định các đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm mới. Tiến hành điều tra theo mẫu chung(Phục lục 3). Khoanh vùng, cách ly và xử lý triệt để 100% ổ dịch cúm ở người khi xuất hiện trường hợp bệnh đầu tiên.
Công tác giám sát phát hiện sớm các ca bệnhđược triển khai rộng rãi tại cộng đồng, bệnh viện, và các phòng khám.
Phân công các Viện thuộc Hệ Y tế dự phòng: Trực tiếp chỉ đạo chống dịch:
+Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương:Chỉ đạo chống dịch 29 tỉnh phía Bắc
+Viện Pasteur Nha Trang:Chỉ đạo chống dịch 11 tỉnh miền Trung
+Viện Pasteur Hồ Chí Minh:Chỉ đạo chống dịch 20 tỉnh miền Nam
+Viện vệ sinh dịch tễ Tây nguyên:Chỉ đạo chống dịch 4 tỉnh Tây Nguyên
+Viện Y học Lao động và Sức khoẻ Mội trường: Chỉ đạo công tác vệ sinh môi trường khu vực phía Bắc
+Viện Vệ sinh Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh:Chỉ đạo công tác vệ sinh môi trường, khử khuẩn khu vực phía Nam.
+Viện Sốt rét - KST-CT Trung ương, Viện SR-KST-CT Quy Nhơn, Viện SR-KST-CT TP. Hồ Chí Minh: Chỉ đạo các địa phương theo khu vực được phân công phụ trách công tác khử trùng ổ dịch, hỗ trợ xử lý ổ dịch
+Viện Dinh Dưỡng: Theo chỉ đạo của Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm, hướng dẫn người dân thực hiện không ăn tiết canh, ăn các gia cầm bệnh, không ăn gia cầm vẫn còn trong giai đoạn tiêm vắc xin...
Phối hợp liên ngành:Ngành y tế và Thú y từ Trung ương đến địa phương phối hợp chặt chẽ, có trách nhiệm thông tin, báo cáo cho nhau về tình hình dịch cúm gia cầm, dịch cúm ở người. Giám sát chặt chẽ đến từng hộ gia đình, thông báo khẩn cấp các trường hợp nhiễm hoặc mắc cúm gia cầm để có biện pháp xử lý kịp thời, không để bùng phát dịch và lây sang người.
Kết hợp quân dân y và các ban ngành đoàn thể xã hội (hội phụ nữ, thanh niên, chữ thập đỏ,...) trong giám sát, phòng chống dịch, vệ sinh môi trường, chuồng trại ở từng hộ gia đình.
Chính quyền địa phương có kế hoạch huy động nhân lực chôn cất người chết khi mà tình huống có số người tử vong cao.
Dự trữ thuốc, hoá chất phòng chống dịch:Dự trữ cơ số phòng chống cúm(Phụ lục 8). Dự trữ thuốc kháng vi rút (Oseltamivir) để điều trị bệnh nhân và dự phòng theo chỉ định. Chủ động sản xuất Tamiflu trong nước.
- Nghiên cứu phát triển, sản xuất và dự trữ vắc xin cúm:Tiếp tục nghiên cứu, phát triển vắc xin cúm A(H5N1) và chủ động nghiên cứu vắc xin của chủng vi rút cúm mới có khả năng gây đại dịch (nếu có) nhằm đưa vào ứng dụng, sản xuất hàng loạt phục vụ nhu cầu tiêm phòng chống dịch cúm. Trong trường hợp thế giới đã sản xuất vắc xin phòng bệnh cúm, tiến hành mua tiêm phòng cho nhóm nguy cơ cao và dự trữ chiến lược.
3.2.1.3.2.2. Phân tuyến điều trị bệnh nhân cúm (Phụ lục 2):
Để đối phó với từng mức độ dịch cúm, kế hoạch thu dung điều trị và phân tuyến điều trị như sau:
a) Các bệnh viện tuyến cuối đóng vai trò hỗ trợ, chỉ đạo chuyên môn và nghiên cứu khoa học, xây dựng hướng dẫn điều trị.
a1. Miền Bắc:
- Bệnh viện Bạch Mai, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới
- Bệnh viện Nhi Trung ương
Chỉ đạo và hỗ trợ các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Trước mắt, các bệnh viện này chuẩn bị cơ sở vật chất cho 1 đơn nguyên cách ly điều trị 30 giường bệnh. Xây dựng phương án mở rộng khu vực cách ly khi cần thiết.
a2. Miền Trung:
- Bệnh viện Trung ương Huế chỉ đạo và hỗ trợ khu vực miền Trung và Tây Nguyên (từ Quảng Bình đến Khánh Hoà). Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Trung ương Huế bố trí 1 đơn nguyên cách ly điều trị 30 giường bệnh (15 giường người lớn và 15 giường trẻ em) sẵn sàng tiếp nhận bệnh nhân vào điều trị. Xây dựng phương án mở rộng khu vực cách ly khoảng 50 giường.
a.3. Miền Nam:
- Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới.
- Bệnh viện Nhi đồng 1.
- Bệnh viện Nhi đồng 2.
- Bệnh viện Chợ Rẫy.
Chỉ đạo chuyên môn và hỗ trợ các tỉnh từ Ninh Thuận trở vào.
Mỗi bệnh viện bố trí tối thiểu 30 giường cách ly điều trị bệnh nhân và khi cần thiết có thể mở rộng khu vực cách ly 50 giường bệnh.
Trường hợp dịch xảy ra lẻ tẻ, số lượng bệnh nhân không nhiều (tổng số bệnh nhân cúm A (H5N1) toàn quốc không vượt quá 100 bệnh nhân thì phân công tiếp nhận điều trị tại các bệnh viện tuyến cuối để giảm tỷ lệ tử vong.
b) Tuyến bệnh viện điều trị chủ yếu
b1. Miền Bắc:
b.1.1. Hệ thống bệnh viện Trung ương và Bệnh viện ngành:
Với sự phối hợp của hệ thống bệnh viện đa khoa trung ương, bệnh viện lao và bệnh phổi trung ương, một số bệnh viện quân y, bệnh viện công an và bệnh viện ngành có đủ năng lực chuyên môn tiếp nhận điều trị cúm nặng có suy hô hấp như:
- Bệnh viện Hữu Nghị.
- Bệnh viện E.
- Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên.
- Bệnh viện Việt Nam-Thuỵ Điển Uông Bí.
- Bệnh viện TW quân đội 108.
- Bệnh viện 103.
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TW.
- Bệnh viện lao và Bệnh phổi TW Phúc Yên.
- Bệnh viện 71.
- Bệnh viện 19-8 Bộ Công an.
- Bệnh viện Giao thông vận tải 1.
Các bệnh viện trên hỗ trợ tiếp nhận bệnh nhân cho các tỉnh phía Bắc khi số lượng bệnh nhân vượt quá khả năng giường bệnh của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
Các bệnh viện thuộc Hà Nội như: Bệnh viện Bắc Thăng Long, Bệnh viện Đức Giang và Bệnh viện Đống Đa sẽ tiếp nhận bệnh nhân hỗ trợ cho khu vực Hà Nội.
Mỗi bệnh viện trước mắt được trang bị đủ cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh cách ly và chuẩn bị khu vực cách ly có khả năng mở rộng thu dung 50 giường bệnh.
b.1.2. Bệnh viện đa khoa các tỉnh phía Bắc:bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
b.1.3. Các bệnh viện quân khu khu vực phía Bắc:bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
b2. Miền Trung:
- Bệnh viện C Đà Nẵng bố trí 20 giường cách ly điều trị bệnh nhân cúm hỗ trợ cho bệnh viện đa khoa đà nẵng.
- Bệnh viện đa khoa các tỉnh: bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
- Các bệnh viện quân khu khu vực miền Trung: bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
b3. Miền Nam:
- Bệnh viện trung ương và bệnh viện ngành:
+ Bệnh viện Thống nhất.
+ Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ.
+ Bệnh viện 175.
+ Bệnh viện 30-4.
+ Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch (TP. Hồ Chí Minh).
Các bệnh viện bố trí khu vực cách ly trước mắt được trang bị đầy đủ cho 20 giường cách ly và có thể mở rộng thêm 30 giường (tổng số 50 giường) khi dịch bùng phát tại khu vực.
- Bệnh viện đa khoa các tỉnh: bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
- Các bệnh viện quân khu khu vực phía Nam: bố trí khu vực cách ly điều trị cúm khoảng 30-50 giường (tuỳ theo điều kiện của từng bệnh viện). Trước mắt trang bị cơ số thiết bị, thuốc, vật tư cho 20 giường bệnh.
c) Tuyến điều trị mở rộng:
Trong trường hợp dịch bùng phát lớn tại một số địa phương, với phương châm cách ly, điều trị và dập dịch tại chỗ, cần huy động tất cả các bệnh viện có đủ năng lực vào mạng lưới điều trị để thu dung bệnh nhân, gồm:
- Bệnh viện chuyên khoa lao và bệnh phổi tuyến tỉnh.
- Bệnh viện huyện.
- Một số bệnh viện ngành trên địa bàn.
c1. Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tuyến tỉnh:
Mỗi bệnh viện chuẩn bị sẵn sàng khu vực cách ly điều trị tại Khoa hồi sức cấp cứu. Mỗi bệnh viện bố trí 10-20 giường cách ly để thu dung và điều trị bệnh nhân (tuỳ theo khả năng của từng bệnh viện).
c2. Bệnh viện huyện:
Mỗi bệnh viện chuẩn bị sẵn sàng khu vực cách ly điều trị tại Khoa hồi sức cấp cứu. Mỗi bệnh viện bố trí 10-20 giường cách ly để thu dung và điều trị bệnh nhân (tuỳ theo khả năng của từng bệnh viện).
c3. Bệnh viện ngành:
Một số bệnh viện ngành tham gia vào mạng lưới điều trị khi xảy ra đại dịch: bệnh viện các ngành: than, cao su, xây dựng, nông nghiệp, bưu điện vv... Mỗi bệnh viện bố trí 10-30 giường cách ly (tuỳ theo quy mô). Khi xảy ra đại dịch trên địa bàn sẽ tham gia phòng chống dịch và được cung cấp trang thiết bị, thuốc, vật tư, phương tiện từ cơ số dự trữ quốc gia.
d) Thiết lập bệnh viện dã chiến:
Trong trường hợp dịch bùng phát quá lớn, vượt quá khả năng thu dung và điều trị của hệ thống bệnh viện, quân và dân y phối hợp các ngành cùng tham gia thành lập các bệnh viện dã chiến tại chỗ, sử dụng các cơ sở khám chữa bệnh (kể cả trạm y tế xã/phường), các trường phổ thông, trung học, đại học, ..., công sở hoặc lập các trại điều trị dã chiến để thu dung và điều trị bệnh nhân tại chỗ.
Trang thiết bị cho bệnh viện dã chiến sử dụng từ nguồn dự trữ quốc gia.
e) Các phương án điều phối và huy động nhân lực trong thu dung, điều trị bệnh nhân cúm:
- Sử dụng lực lượng tại chỗ: Các bệnh viện xây dựng từng phương án chi tiết trong việc huy động và phân công nhân lực tham gia chống dịch trong từng tình huống cụ thể. Thành lập các đội chống dịch cơ động tham gia hỗ trợ tuyến dưới hoặc đơn vị bạn, tỉnh bạn. Phương án huy động nhân lực trong trường hợp có nhiều nhân viên y tế cũng bị mắc bệnh dịch.
- Huy động lực lượng quân đội tham gia thu dung, điều trị bệnh nhân, xây dựng bệnh viện dã chiến.
- Huy động lực lượng tình nguyện viên:
+ Sinh viên khối các trường đại học, cao đẳng và trung học y dược.
+ Lực lượng thanh niên tình nguyện.
+ Các lực lượng tình nguyện khác: phụ nữ, cựu chiến binh, giáo viên ...
Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng và kinh nghiệm chuyên môn:
+ Sinh viên y dược: tham gia công tác chuyên môn và chăm sóc bệnh nhân.
+ Thanh niên tình nguyện: thu dung, vận chuyển, hậu cần v.v...
+ Hội phụ nữ: hậu cần, chăm sóc.
+ Cựu chiến binh: bảo vệ, thu dung, vận chuyển, hậu cần.
3.2.1.3.2.3. Nội dung chuẩn bị phòng chống dịch của cơ sở điều trị cúm:
a) Về tổ chức và chỉ đạo:
- Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm trong bệnh viện với các tiểu ban chỉ đạo theo từng lĩnh vực: chuyên môn (truyền nhiễm, hồi sức cấp cứu, nhi), chống nhiễm khuẩn, hậu cần, thông tin.
- Xây dựng phương án đối phó theo từng tình huống cụ thể.
- Thành lập đội chống dịch cơ động để hỗ trợ tuyến dưới.
b) Về chuyên môn:
- Có chuyên khoa truyền nhiễm, nhi và hồi sức cấp cứu, đặc biệt là hồi sức hô hấp và điều trị tích cực.
- Có các thiết bị chẩn đoán, điều trị và theo dõi như: Máy Xquang tại giường, xét nghiệm huyết học, khí máu, điện giải đồ, siêu âm tại giường, monitor, máy thở, các phương tiện hỗ trợ hô hấp (mặt nạ oxy, dây oxy, ambu), bơm tiêm điện, máy truyền dịch tự động, hệ thống oxy trung tâm hoặc giàn bình oxy. Máy thở có cả chức năng thở xâm nhập và không xâm nhập, cho cả người lớn và trẻ em, có chức năng PSV, PCV, VCV, PEEP, có hệ thống khử khuẩn, lọc khí thở ra v.v...
- Thuốc: Kháng sinh chống bội nhiễm, thuốc kháng vi rút (Tamiflu), dịch truyền, corticoid, các thuốc vận mạch, v.v...
- Chẩn đoán xác định và nghiên cứu khoa học: Đối với các bệnh viện tuyến cuối đóng vai trò chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học được trang bị thêm các thiết bị chẩn đoán cúm: PCR, Real time PCR, phân tích gen (sequencing).
- Chẩn đoán nhanh: kít chẩn đoán nhanh cho các bệnh viện trong hệ thống điều trị cúm.
c) Về chống nhiễm khuẩn và phòng lây nhiễm:
- Có khu vực cách ly riêng dành cho điều trị bệnh nhân cúm được chia thành các bộ phận cách ly cho người bệnh khẳng định (đã chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm), người bệnh nghi ngờ và người bệnh có thể mắc. Tiêu chuẩn buồng bệnh cách ly:
+ Lý tưởng: mỗi buồng bệnh có 1 giường cách ly, áp lực âm theo tiêu chuẩn của WHO.
+ Buồng nhiều giường: các giường bệnh cách nhau tối thiểu 1 m, có tấm chắn lý học (tấm ngăn, rèm) giữa các giường bệnh.
- Có đủ các phương tiện bảo hộ đạt tiêu chuẩn: Khẩu trang N95, quần áo bảo hộ, găng tay, ủng, mặt nạ che mặt.
- Các dung dịch rửa tay và khử khuẩn với nồng độ cao hơn nồng độ khử khuẩn thông thường (Cloramin B, Presept).
- Các dung dịch sát trùng bệnh viện (formaldehyd).
- Thiết bị khử khuẩn máy thở và các phương tiện máy móc trong buồng bệnh.
- Các phương tiện thu gom và xử lý chất thải y tế đúng tiêu chuẩn.
- Phương tiện xử lý người bệnh tử vong.
d) Về hậu cần:
- Giặt là, hấp sấy và khử khuẩn theo quy trình đặc biệt.
- Phục vụ dinh dưỡng cho người bệnh, không nên để gia đình người bệnh tự lo.Cung cấp dinh dưỡng cho cán bộ y tế tham gia chống dịch.
- Xe ô tô cứu thương vận chuyển cấp cứu người bệnh.
(xem Phụ lục 9: Cơ số trang thiết bị, thuốc cho các cơ sở cách ly điều trị dịch cúm).
3.2.1.3.3.4. Giải pháp về nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học, phát hiện sớm tác nhân gây bệnh cúm: tác nhân gây bệnh, sự lưu hành, đường lây truyền, lâm sàng, điều trị, vắc xin, các yếu tố nguy cơ lây nhiễm vi rút cúm.
Nghiên cứu về vi rút để kịp thời phát hiện chủng vi rút mới có khả năng gây đại dịch ở quy mô kháng nguyên và phân tử.
Nghiên cứu sự liên quan giữa dịch cúm gia cầm và dịch cúm ở người, lây truyền từ người cho người.
Xác định sự tồn tại của kháng thể kháng vi rút cúm trong quần thể dân cư. Xác định sự lưu hành của virut cúm.
Xác định đường lây truyền, các yếu tố nguy cơ lây nhiễm virút cúm.
Nghiên cứu theo dõi, kiểm tra, đánh giá mức độ kháng thuốc ở các thuốc kháng vi rút (Oseltamivir).
Tác động kinh tế, xã hội của đại dịch.
3.2.1.3.5. Giải pháp về giáo dục, thông tin, tuyên tuyền
Bộ Y tế là cơ quan phát ngôn chính thức về tình hình dịch cúm ở người.
Sử dụng trang web của Bộ Y tế (www.moh.gov.vn) để cập nhập thông tin hàng ngày về tình hình dịch cúm và các biện pháp phòng chống.
Trao đổi, cung cấp thông tin về tình hình diễn biến của dịch cúm, sự xuất hiện của chủng vi rút cúm mới có khả năng gây đại dịch cho các đơn vị chức năng.
Tổ chức nhiều đợt thông tin, tuyên truyền về tình hình dịch cúm và các biện pháp phòng chống cho nhân dân. Tăng cường giáo dục nhân dân về các biện pháp vệ sinh cá nhân, giữ gìn sức khoẻ và những hiểu biết về bệnh, phòng bệnh đường hô hấp.
Tuyên truyền rộng rãi dưới nhiều hình thức (phương tiện thông tin đại chúng, các loại tài liệu tuyên truyền, tuyên truyền thông qua các tổ chức, cá nhân, tập thể xã hội, cơ sở y tế). Đảm bảo nội dung tuyên truyền đơn giản, phong phú, dễ hiểu, phù hợp với đặc thù từng địa phương. Tuyên truyền thường xuyên, liên tục, đặc biệt là 4 biện pháp phòng chống dịch gia cầm lây sang người của Bộ Y tế.
Thông tin, báo cáo kịp thời đến các cơ quan chức năng, báo chí và các tổ chức quốc tế khi có nguy cơ và/hoặc đại dịch xảy ra.
Đảm bảo cung ứng đủ kinh phí, phương tiện và nhân lực cho hoạt động giáo dục, thông tin, tuyên tuyền.
3.2.1.3.3.6. Giải pháp về hợp tác quốc tế:
Tăng cường mở rộng hợp tác nghiên cứu với nước ngoài nhằm tận dụng nguồn đầu tư kinh phí, kinh nghiệm chuyên môn từ các nghiên cứu hợp tác trong và ngoài nước về giám sát và phòng chống dịch cúm để hỗ trợ hoạt động của kế hoạch đại dịch.
Tham gia vào mạng lưới giám sát Cúm Toàn cầu của TCYTTG.
3.2.2. Giai đoạn 2: Giai đoạn cảnh báo đại dịch: Giả định dịch cúm gia cầm gây bệnh ở người và xác định được lây truyền từ người sang người.
3.2.2.1. Tình huống 2:Các ổ dịch nhỏ có sự lây nhiễm giới hạn từ người sang người nhưng có tính chất khu trú địa phương. Vi rút có thể chưa đáp ứng tốt với vật chủ người.
3.2.2.1.1. Định nghĩa:
Vi rút cúm A(H5N1) biến đổi gây thành dịch ở nước khác, bệnh lây lan nhanh làm nhiều gia cầm mắc bệnh, đã ghi nhận lây nhiễm từ người sang người. Trong khi đó Việt Nam chưa có hiện tượng biến đổi vi rút, không có dịch xảy ra trên gia cầm và chưa có hiện tượng người bị lây bệnh và lây từ người sang người.
3.2.2.1.2. Mục tiêu
Chủ động triển khai các biện pháp chống dịch, ngăn chặn các ca bệnh xâm nhập vào Việt Nam.
3.2.2.1.3. Chỉ số đánh giá:
Tại nước ta tiếp tục ghi nhận các trường hợp mắc lây lan từ gia cầm sang người, chưa xác định có sự lây lan từ người sang người.
3.2.2.1.4. Biện pháp ứng phó
3.2.2.1.4.1.Tổ chức, chỉ đạo
Sẵn sàng các hoạt động như tình huống 1, các lĩnh vực điều trị và y tế dự phòng tăng cường các hoạt động ứng phó.
Thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống khẩn cấp đại dịch cúm theo pháp lệnh tình trạng khẩn cấp.
Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm Trung ương và địa phương họp hàng tuần vào 16 giờ thứ tư để chỉ đạo phòng chống dịch.
Bộ Y tế thông báo diễn biến tình hình dịch bệnh của các nước đang có dịch.
Các địa phương sẵn sàng ứng phó với đại dịch, thực hiện 3 tại chỗ: Lực lượng tại chỗ, vật tư tại chỗ, và xử lý tại chỗ. Tổ chức diễn tập cho các mức độ tình huống dịch.
3.2.2.1.4.2.Công tác Y tế dự phòng
Tổ trực dịch làm việc 24/24 giờ tại tất cả các tuyến y tế.
Giám sát chặt chẽ tất cả cửa khẩu biên giới, ngăn chặn không cho dịch xâm nhập vào nước ta. Đảm bảo tất cả khách xuất nhập cảnh phải hoàn chỉnh tờ khai báo sức khoẻ, đo thân nhiệt. Cách ly, xử lý những đối tượng nghi ngờ bị bệnh dịch. Những người từ vùng có dịch nhập cảnh Việt Nam phải được theo dõi sức khoẻ trong vòng 10 ngày tại nơi cư trú.
Phát hiện sớm, điều tra kịp thời trường hợp bệnh đầu tiên. Khoanh vùng, cách ly và xử lý triệt để ổ dịch cúm.
Sẵn sàng hoá chất khử trùng, trang bị bảo hộ, máy phun và thuốc kháng vi rút (Oseltamivir) để dự phòng. Việc sử dụng theo hướng dẫn sử dụng thuốc chống vi rút(Phụ lục 10).
Sử dụng vắc xin cúm cho đối tượng nguy cơ cao(Phụ lục 11).
Duy trì hoạt động của đội cơ động phòng chống dịch tuyến tỉnh có ít nhất 5 thành viên theo quy định của Bộ Y tế.
3.2.2.1.4.3. Công tác điều trị
Thành lập Ban chỉ đạo chống dịch bệnh viện.
Bệnh viện và các cơ sở y tế theo khu vực đã phân công sẵn sàng thu dung, cách ly điều trị bệnh nhân(Phụ lục 2).
Chuẩn bị sẵn sàng cơ sở cách ly, có kế hoạch điều chuyển bệnh nhân, chuẩn bị đủ thuốc, trang thiết bị, phương tiện phòng hộ, dinh dưỡng cho bệnh nhân, cụ thể là bệnh viện tuyến Trung ương tại 3 miền(Phụ lục 2)đảm bảo điều trị cho bệnh nhân.
3.2.2.1.4.4.Thông tin, tuyên truyền
Tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân các biện phòng chống dịch cúm, để biết cách tự phòng chống nhưng tránh hoang mang. Tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường hàng tháng, vệ sinh chuồng trại hàng ngày.
Cập nhật tình hình dịch trong nước và quốc tế hàng ngày. Báo cáo hàng ngày diễn biến tình hình lên Chính phủ. Thông báo tình hình dịch và các biện pháp phòng chống trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3.2.2.2.1. Định nghĩa:
Khi ghi nhận trường hợp mắc (kết quả xét nghiệm dương tính) ở một hoặc vài địa phương nhưng ở mức độ vừa, vẫn dưới dạng ổ dịch nhỏ và vừa tập trung thành cụm, dịch có tính chất khu trú chứng tỏ vi rút đã thích ứng tốt hơn ở vật chủ người và nguy cơ lây nhiễm từ người sang người là rất lớn.
Hoặc dịch xảy ra mức độ nhỏ hoặc vừa ở một tỉnh hoặc một thành phố lớn nơi có mật độ dân cư cao, là đầu mối giao thông quan trọng như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
3.2.2.2.2. Mục tiêu
Hạn chế số mắc và tử vong do dịch cúm gây ra.
Hạn chế dịch lây lan sang các tỉnh, thành phố khác.
Giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng của dịch cúm tới kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân tại nơi xảy ra dịch.
3.2.2.2.3. Chỉ số đánh giá:
- Xét nghiệm dương tính khẳng định dịch xảy ra ở Việt Nam.
- Ghi nhận < 25 trường hợp mắc trong khoảng thời gian 14 ngày (tốt nhất được chẩn đoán xác định) tại một tỉnh/thành phố.
- Dịch vẫn tập trung thành cụm nhưng nguy cơ lây nhiễm từ người sang người là rất lớn.
3.2.2.2.4. Biện pháp ứng phó
Thực hiện như tình huống 2a, đồng thời
Bộ Y tế tham mưu cho Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống khẩn cấp đại dịch cúm ban bố tình trạng khẩn cấp (thực hiện theo pháp lệnh tình trạng khẩn cấp ngày 23/3/2000 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).
Triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch cúm theo quy định về mức độ dịch(Phụ lục 4).
Giám sát ca bệnh theo mô hình phát hiện và quản lý các ca bệnh nghi ngờ nhiễm cúm(Phụ lục 5).
Tại các vùng dịch và các vùng có nguy cơ cao, hạn chế tối đa tập trung đông người để tránh lây nhiễm dịch bệnh như: đóng cửa trường học, không tổ chức hội họp, không họp chợ, đóng cửa dịch vụ ăn uống thương mại, tạm thời đóng cửa sân bay quốc tế, cầu cảng, trì hoãn các hội nghị quốc tế, hạn chế tham gia giao thông công cộng.
Huy động tối đa các bệnh viện trên địa bàn thành phố tham gia điều trị bệnh nhân. Trường hợp số lượng bệnh nhân quá lớn và các bệnh viện không đáp ứng đủ khả năng thu dung, điều trị bệnh nhân thì thành lập khẩn cấp bệnh viện dã chiến, sử dụng trường học, doanh trại quân đội, nơi công cộng, ưu tiên bệnh nhân nặng.
Huy động lực lượng y tế, quân đội, công an và tổ chức đoàn thể xã hội tại thành phố và các tỉnh lân cận tham gia các hoạt động chống dịch như điều trị, vận chuyển thuốc, trang thiết bị, vận chuyển bệnh nhân, chôn cất bệnh nhân tử vong, cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhân dân, bệnh nhân tại vùng dịch,...
Kêu gọi sự trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế cho các hoạt động dập dịch và khắc phục hậu quả.
3.2.2.3 Tình huống 3: Dịch xảy ra ban đầu ở một số tỉnh và lây lan nhanh
3.2.2.3.1. Định nghĩa:
Khi ghi nhận trường hợp mắc (kết quả xét nghiệm dương tính) ở một hoặc vài địa phương nhưng ở mức nhỏ dưới dạng ổ dịch nhỏ tập trung thành cụm, chưa có bằng chứng về sự lây truyền từ người sang người chứng tỏ vi rút thích ứng tốt với vật chủ người. Dịch xảy ra ở những nơi không có mật độ dân cư cao, các địa phương miền núi, biên giới, không phải là các thành phố lớn. Các nước khác ghi nhận hoặc không ghi nhận dịch.
3.2.2.3.2.Mục tiêu
Khoanh vùng và xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch cúm lan rộng.
Hạn chế số mắc và tử vong do dịch cúm gây ra.
3.2.2.3.3. Chỉ số đánh giá
- Xét nghiệm dương tính khẳng định dịch xảy ra ở Việt Nam.
- Ghi nhận từ 25 đến 50 trường hợp mắc trong khoảng thời gian 14 ngày (tốt nhất được chẩn đoán xác định) tại không quá 3 tỉnh/thành phố không phải là thành phố lớn hoặc là đầu mối giao thông quan trọng.
3.2.2.3.4. Biện pháp ứng phó
Thực hiện như tình huống 2b, đồng thời
Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm trung ương và địa phương họp hàng ngày vào 16 giờ để chỉ đạo phòng chống dịch khẩn cấp.
Tổ trực dịch làm việc 24/24 giờ tại tất cả các tuyến y tế.
Thiết lập đường dây nóng quốc gia giữa Bộ Y tế, các Viện, Sở Y tế và Bệnh viện của tỉnh, thành phố tại địa bàn xảy ra dịch. Đồng thời, thiết lập đường dây nóng tuyến tỉnh về thông tin, tư vấn và giải đáp cho nhân dân về tình hình dịch và các biện pháp phòng chống tại Sở Y tế các tỉnh, thành phố.
Bộ Y tế thường xuyên, liên tục cập nhật thông tin, số liệu và thông báo diễn biến tình hình dịch bệnh cho Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống khẩn cấp đại dịch cúm và các cơ quan thông tin đại chúng.
Bộ Y tế tham mưu cho Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống khẩn cấp đại dịch cúm chuẩn bị ban bố tình trạng khẩn cấp (thực hiện theo pháp lệnh tình trạng khẩn cấp ngày 23/3/2000 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) như cấm và hạn chế người, phương tiện ra vào vùng dịch. Trường hợp cần thiết phải ra vào vùng dịch thì phải thực hiện biện pháp kiểm dịch y tế bắt buộc.
Các địa phương đang có dịch xảy ra, Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm địa phương triển khai khẩn cấp các hoạt động dập dịch. Trường hợp, số lượng bệnh nhân và số ổ dịch vượt quá khả năng của địa phương thì các tỉnh, thành phố lân cận có trách nhiệm hỗ trợ địa phương đó theo sự điều động của Ban chỉ đạo quốc gia.
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, thành phố và các cơ sở khám chữa bệnh chịu trách nhiệm giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ, cách ly, xử lý những đối tượng bị bệnh và báo cáo khẩn cấp theo quy định.
Xử lý triệt để ổ dịch bằng các hoá chất khử trùng như Cloramin B, Formaline,...
Sử dụng thuốc kháng vi rút (Oseltamivir) dự phòng theo chỉ định.
Mở rộng diện sử dụng vắc xin cúm cho đối tượng nguy cơ cao (nếu có).
Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng hộ cá nhân như đeo khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ,... cho nhân viên y tế, lực lượng tham gia dập dịch, người bệnh và đối tượng nguy cơ khác.
Khuyến cáo người tiếp xúc cách ly tại nhà trong vòng 10 ngày và hàng ngày đo nhiệt độ cơ thể. Nếu có biểu hiện mắc bệnh thì đến ngay cơ sở y tế để được điều trị và cách ly kịp thời.
Các cơ sở khám chữa bệnh theo kế hoạch được giao thực hiện thu dung, cách ly, điều trị, vận chuyển bệnh nhân theo Quyết định số 3422/2004/QĐ-BYT ngày 30/9/2004 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm viêm phổi do vi rút. Theo nguyên tắc là điều trị tại chỗ (khoa truyền nhiễm bệnh viện tuyến tỉnh), hạn chế di chuyển. Trường hợp bệnh nhân quá nặng, vượt quá khả năng điều trị của tuyến tỉnh mới được phép chuyển bệnh nhân lên tuyến trên.
Thành lập đội cơ động cấp cứu và vận chuyển bệnh nhân của bệnh viện tuyến tỉnh để hỗ trợ và điều trị tại chỗ ở nơi xảy ra dịch.
Cơ sở cách ly, điều trị đảm bảo tiếp nhận tối thiểu 50 bệnh nhân/bệnh viện tỉnh. Khu vực cách ly được chia thành ba đơn nguyên: bệnh nhân nghi ngờ, bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định và khu lưu giữ bệnh nhân trước khi xuất viện.
Vận chuyển bệnh nhân phải sử dụng xe cứu thương chuyên dụng, đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế và tránh lây lan ra cộng đồng.
Xử lý người bệnh tử vong phải đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế, người nhà và cộng đồng theo quy định của Quyết định số 3422/2004/ QĐ-BYT ngày 30/9/2004 của Bộ Y tế.
3.2.3 Giai đoạn 3: Đại dịch xảy ra trên diện rộng
3.2.3.1.1. Định nghĩa:
Dịch cúm xảy ra trên người mức độ lớn trên 1 tỉnh/thành phố hoặc mức độ vừa ở nhiều tỉnh/thành phố lớn, nguy cơ bùng phát trên diện rộng ra phạm vi quốc gia và quốc tế. Có lây nhiễm mạnh từ người sang người.
3.2.3.1.2. Mục tiêu
- Hạn chế tối đa tỷ lệ tử vong do dịch bệnh gây ra
- Hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của dịch cúm tới kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân tại thành phố xảy ra dịch.
3.2.3.1.3. Chỉ số đánh giá
- Xét nghiệm dương tính.
- Có bằng chứng về sự lây nhiễm từ người sang người.
- Dịch ở mức độ lớn (trên 100 người mắc trong vòng 14 ngày) trên 3 tỉnh hoặc mức độ vừa trên 10 tỉnh. Dịch không còn tính chất khu trú, chiều hướng lan nhanh trên diện rộng, nguy cơ lan toàn quốc và quốc tế.
3.2.3.1.4. Biện pháp ứng phó
Thực hiện như tình huống 2b, đồng thời
Bộ Y tế tham mưu cho Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống khẩn cấp đại dịch cúm ban bố tình trạng khẩn cấp (thực hiện theo pháp lệnh tình trạng khẩn cấp ngày 23/3/2000 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam)
Nhân dân phải đeo khẩu trang phòng bệnh
Cấm người không có nhiệm vụ tiếp xúc với bệnh nhân. Trong trường hợp tiếp xúc thì phải thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng hộ.
Huy động và sử dụng tối đa nguồn thuốc điều trị kháng vi rút, vắc xin dự trữ quốc gia.
Huy động tối đa các cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước tham gia điều trị bệnh nhân. Trường hợp số lượng bệnh nhân quá lớn, không đáp ứng đủ khả năng thu dung, điều trị bệnh nhân ở quy mô nhiều tỉnh, thành phố thì mở rộng số lượng bệnh viện dã chiến, sử dụng trường học, doanh trại quân đội, cơ sở công cộng.
Huy động toàn thể lực lượng xã hội tham gia các hoạt động chống dịch
Tiếp tục kêu gọi sự trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế cho các hoạt động dập dịch và khắc phục hậu quả.
Các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cho người nước ngoài đang công tác tại Việt Nam.
Tất cả người nước ngoài công tác tại Việt Nam được bảo vệ sức khoẻ: giám sát và phòng chống bệnh dịch, đặc biệt khám và điều trị bệnh như công dân Việt Nam.
Các chính sách khác như: di chuyển, vận chuyển bệnh nhân, thi hài…theo thông lệ quốc tế và các quy định hiện hành.
PHẦN IV - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Tổ chức thực hiện phòng chống đại dịch cúm ở người theo tuyến từ trung ương, tỉnh, huyện xã.
4.1. Tuyến Trung ương
4.1.1. Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch SARS, cúm ở người
4.1.1.1. Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch SARS, cúm ở người
- Duy trì hoạt động của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch SARS và cúm ở người.
- Nhiệm vụ cụ thể Ban chỉ đạo quốc gia:
+ Xây dựng kế hoạch giám sát chống dịch, ngân sách, biện pháp phòng chống dịch khẩn cấp của các bộ, ngành.
+ Tổ chức thực hiện và đôn đốc kiểm tra các đơn vị, địa phương thực hiện kế hoạch phòng, chống dịch cúm.
+ Chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch khẩn cấp.
+ Được phép sử dụng ngân sách phòng chống dịch khẩn cấp và kinh phí hoạt động thường xuyên của Bộ Y tế.
Thường trực Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm là Cục Y tế dự phòng Việt Nam.
Số điện thoại thường trực của Ban chỉ đạo quốc gia là: (84)(4) 8456255, số Fax (84)(4) 7366241.
4.1.1.2. Hoạt động của các Tiểu ban
a/ Tiểu ban Tuyên truyền
Thực hiện kế hoạch tuyên truyền phòng chống dịch khẩn cấp.
Phối hợp với các Tiểu ban và các cơ quan thông tin đại chúng thông tin tình hình dịch thường xuyên. Phối hợp với Bộ Ngoại giao, Hãng thông tấn quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thông báo tình hình dịch.
Chuẩn bị các thông tin để tuyên truyền cho nhân dân biết cách phòng bệnh, không gây hoang mang trong nhân dân.
Theo dõi các thông tin về tình hình dịch trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo cáo kịp thời Ban chỉ đạo.
b/ Tiểu ban Giám sát, chống dịch
Thực hiện kế hoạch giám sát và chống dịch khẩn cấp.
Chỉ đạo tăng cường các hoạt động kiểm dịch y tế quốc tế.
Tổng hợp diễn biến tình hình dịch hàng ngày, lập bản đồ - biểu đồ dịch tễ người bệnh.
Chỉ đạo các viện VSDT/Pasteur, Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống bệnh xã hội chuẩn bị sẵn sàng các cơ sở vật chất và nhân lực để đối phó với dịch.
Chỉ đạo các tỉnh/thành phố giám sát chặt chẽ tình hình các trường hợp bệnh, triển khai các biện pháp dập dịch kịp thời.
Chuẩn bị sẵn sàng các cơ số thuốc, hoá chất, vật tư chuyên dụng để hỗ trợ các địa phương khi cần.
Phối hợp với các Vụ liên quan trong các hoạt động chỉ đạo phòng chống dịch và báo cáo các cơ quan Chính phủ.
Tham mưu cho Trưởng ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch về các quyết định liên quan đến việc ban hành tình trạng khẩn cấp (phong toả vùng có dịch, đóng cửa biên giới, hạn chế hội họp trường học) khi cần thiết.
c/ Tiểu ban Điều trị
Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, bệnh viện các tuyến có kế hoạch phân tuyến điều trị, thu dung, điều trị bệnh nhân hạn chế tối đa các ca tử vong do cúm.
Hướng dẫn các cơ sở điều trị thực hiện đúng các quy định về chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm viêm phổi do vi rút (Ban hành kèm theo Quyết định số 3422/2004/QĐ-BYT ngày 30/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế); kịp thời tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ban hành các hướng dẫn điều trị phù hợp.
Chỉ đạo việc chuẩn bị các cơ sở tiếp nhận, cách ly và điều trị bệnh nhân theo mức độ dịch xảy ra.
Chỉ đạo các biện pháp phòng tránh cho nhân viên Y tế, người tiếp xúc tại cơ sở điều trị.
Chỉ đạo và hướng dẫn cho các cơ sở y tế thực hiện. Tổ chức tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ về chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm bệnh cúm.
d/ Tiểu ban Hậu cần
Chủ động chuẩn bị kịp thời vật tư, kinh phí, nhân lực, phương tiện đi lại để phục vụ công tác chống dịch.
Đôn đốc, kiểm tra các đơn vị, địa phương thực hiện kế hoạch hậu cần kịp thời, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống dịch.
4.1.1.3. Cơ chế phối hợp
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của Tiểu ban đã được Bộ trưởng Bộ Y tế quy định, chủ động lập kế hoạch và triển khai các hoạt động phòng chống dịch khẩn cấp cho từng Tiểu ban, từng lĩnh vực cụ thể.
Phối hợp với các Bộ/ngành, các Tiểu ban triển khai các hoạt động không để dịch lây sang người.
Trên cơ sở ý kiến kết luận chung của Ban chỉ đạo quốc gia qua các cuộc giao ban, các Tiểu ban chủ động triển khai ngay các hoạt động theo lĩnh vực của mình, và có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động cũng như các ý kiến đề xuất cho các hoạt động tiếp theo.
4.1.1.4. Lịch hoạt động
Tuỳ theo diễn biến tình hình mà Ban chỉ đạo quốc gia có các cuộc họp thường kỳ và bất thường theo quyết định của Trưởng ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch khẩn cấp.
4.1.2. Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế
4.1.2.1. Cục Y tế dự phòng Việt Nam
Tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Y tế trong việc chỉ đạo công tác phòng chống dịch cúm A(H5N1) trên phạm vi toàn quốc.
Trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các địa phương, đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng triển khai các biện pháp phòng chống dịch.
4.1.2.2. Vụ Điều trị - Bộ Y tế
Tiếp tục chỉ đạo tập huấn cho cán bộ hệ điều trị, kiểm tra công tác điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút trong phạm vi cả nước.
Chỉ đạo các Viện/Bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện tỉnh/thành phố chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
Xây dựng phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở điều trị trong cả nước thực hiện.
4.1.2.3. Vụ Kế hoạch Tài chính - Bộ Y tế
Tổng hợp và điều phối các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước tài trợ cho công tác phòng chống dịch.
4.1.2.4. Vụ Pháp chế
Xây dựng kế hoạch, chương trình và triển khai thực hiện chương trình tuyên truyền phù hợp thực tiễn đặt ra về công tác phòng chống dịch SARS, cúm A(H5N1).
Chỉ đạo Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ-Bộ Y tế ban hành tài liệu, chỉ đạo hệ thống truyền thông giáo dục sức khoẻ của ngành trong cả nước thực hiện tốt công tác truyền thông phòng chống dịch một cách tích cực, sâu rộng trong nhân dân và có trọng điểm ở những vùng đang có dịch hoặc có nguy cơ xảy ra dịch lớn.
Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền và cung cấp thông tin kịp thời, đúng quy định về thông tin phòng chống dịch.
4.1.2.5.Các Viện thuộc hệ y tế dự phòng: Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Pasteur TP. Hồ Chí Minh, Pasteur Nha Trang, Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên các Viện sốt rét- KST- CT, các Viện Vệ sinh môi trường, Viện Dinh dưỡng.
Chỉ đạo, hỗ trợ các Trung tâm Y tế dự phòng thuộc khu vực được phân công phụ trách trong việc triển khai các hoạt động phòng chống dịch. Tổ chức các lớp tập huấn phòng chống dịch cho các địa phương trong khu vực phụ trách.
Dự trữ hóa chất khử khuẩn, thiết bị, vật tư chuyên dụng, triển khai các hoạt động chống dịch, sẵn sàng hỗ trợ địa phương khi có dịch.
Khẩn trương nghiên cứu, xác định cơ chế lây truyền vi rút cúm A(H5N1) sang người để có các biện pháp phòng chống bệnh thích hợp.
4.1.2.6. Các bệnh viện được phân công điều trị bệnh nhân: Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới- Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Nhiệt đới TP.Hồ chí Minh; Bệnh viện Nhi trung ương; Bệnh viện Nhi đồng 1; Bệnh viện Nhi đồng 2 ; Bệnh viện Chợ Rẫy và các bệnh viện ngành.
Phối hợp với Tiểu ban Điều trị, Vụ Điều trị trong việc tổ chức tập huấn cho cán bộ hệ điều trị về tiếp nhận, cách ly, điều trị cấp cứu bệnh cúm.
Chủ động chuẩn bị giường bệnh và bệnh viện dã chiến khi cần thiết.
Chỉ đạo các Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa lao và bệnh phổi tuyến tỉnh, huyện và một số bệnh viện ngành chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
Có kế hoạch duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có đại dịch.
Có kế hoạch tập huấn, đào tạo lại về một số lĩnh vực cụ thể nhằm tăng cường năng lực cho bệnh viện tuyến dưới: Hồi sức cấp cứu, truyền nhiễm, chống nhiễm khuẩn.
Tăng cường năng lực xét nghiệm chẩn đoán cúm bằng PCR, tiếp nhận và chuyển giao kỹ thuật xét nghiệm cúm để giảm tải cho các viện Vệ sinh dịch tễ/pasteur khi xảy ra đại dịch.
4.1.2.7. Các đơn vị khác trực thuộc Bộ Y tế
Phối hợp với các đơn vị có liên quan trong việc tổ chức phòng chống dịch khi có yêu cầu trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
4.2. Tuyến tỉnh
4.2.1.Ban chỉ đạo chống dịch SARS, cúm ở người tỉnh/thành phố chỉ đạo:
Ban chỉ đạo chống dịch SARS, Cúm A(H5N1) của các tỉnh/thành phố có trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các hoạt động phòng chống tại địa phương. Thường xuyên liên hệ với Ban chỉ đạo quốc gia để phối hợp triển khai kịp thời các hoạt động.
Sở Y tế các tỉnh/thành phố chỉ đạo các hoạt động, bổ sung nhân lực, trang thiết bị, phương tiện phòng hộ, v.v...
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/thành phố tăng cường giám sát phát hiện ca bệnh, chủ động phòng chống.Tổ chức điều tra, giám sát, phát hiện cách ly, xử lý kịp thời không để dịch lây lan.
Các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế chủ động chuẩn bị cơ sở để thu dung, cách ly, điều trị bệnh nhân. Chú ý các cơ sở cách ly, khoa lây đủ giường bệnh để tiếp đón và điều trị bệnh nhân khi có dịch lớn. Tăng cường cơ sở vật chất và năng lực cho bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện khu vực tỉnh, bệnh viện chuyên khoa lao và bệnh phổi tuyến tỉnh, bệnh viện huyện để có thể tiếp nhận, cách ly và điều trị bệnh nhân.
Phối hợp với các đơn vị Viện Vệ Sinh Dịch Tễ/Pasteur, lực lượng quân Y trên địa bàn để triển khai các hoạt động như: Giám sát, khử trùng triệt để tại các ổ dịch.
Thành lập đội chống dịch gồm các cán bộ dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm.... để triển khai các biện pháp phòng chống, đặc biệt tại hộ gia đình có bệnh nhân.
Chuẩn bị xe chuyên dụng để vận chuyển bệnh nhân kịp thời.
Thường trực chống dịch để nắm tình hình, báo cáo về Ban chỉ đạo Quốc gia và Ban chỉ đạo tỉnh theo quy định, thông tin kịp thời cho Lãnh đạo chính quyền địa phương biết diễn biến tình hình hàng ngày.
4.2.2. Giám đốc Sở Y tế các tỉnh/thành phố
Tham mưu cho ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố tăng cường các hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm gia cầm trên người tại các cấp ở địa phương.
Phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan thú y trong công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch cúm gia cầm đến tận xã, phường, thôn, ấp, hộ gia đình. Sử dụng rộng rãi Cloramin B để khử trùng, tẩy uế, xử lý triệt để ổ dịch. Có biện pháp phòng hộ cho cán bộ y tế và những người trực tiếp tham gia xử lý ổ dịch tại địa phương, cơ sở.
Đối với các địa phương có cửa khẩu quốc tế, cần kiểm tra chặt chẽ khách nhập cảnh từ các vùng đang có dịch, vùng có ổ dịch cũ, không để dịch bệnh xâm nhập.
Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc (bao gồm cả các bệnh viện trung ương và bệnh viện ngành trên địa bàn) giám sát chặt chẽ các trường hợp viêm đường hô hấp cấp do vi rút tại khu vực có dịch cúm gia cầm, phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo đúng "Hướng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm viêm phổi do vi rút" ban hành theo Quyết định số 3422/2004/QĐ-BYT ngày 30/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện 4 biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm lây sang người ban hành kèm theo Công văn số 1156/DP/AIDS-DT ngày 02/8/2004 của Bộ Y tế.
Cân đối kinh phí, đảm bảo đủ thuốc, hóa chất, vật tư chuyên dụng dự trữ để phục vụ cho công tác phòng chống dịch cũng như trang bị phòng hộ cá nhân cho cán bộ trực tiếp tham gia điều tra và xử lý ổ dịch, điều trị bệnh nhân.
Thường xuyên báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố về tình hình dịch bệnh và các hoạt động phòng chống dịch triển khai tại địa phương, thực hiện nghiêm túc Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch, ban hành kèm theo Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
4.2.3. Bệnh viện đa khoa tỉnh/thành phố và bệnh viện khu vực tỉnh/thành phố:
Chủ động chuẩn bị giường bệnh và bệnh viện dã chiến khi cần thiết.
Chỉ đạo các Bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
Tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở điều trị thực hiện.
Có kế hoạch duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có đại dịch.
4.2.4. Bệnh viện chuyên khoa lao và bệnh phổi tuyến tỉnh:
Chủ động chuẩn bị tối thiểu 10 giường cách ly, điều trị cấp cứu cho người bệnh cúm.
Được trang bị đầy đủ phương tiện cho 10 – 20 giường cấp cứu từ nguồn dự trữ quốc gia khi có đại dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Tập huấn phác đồ chẩn đoán, cấp cứu, điều trị bệnh nhân.
Có kế hoạch duy trì hoạt động thường xuyên khi có đại dịch.
4.2.5. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/thành phố
Tham mưu cho Sở Y tế tỉnh/thành phố tăng cường các hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống dịch SARS và cúm gia cầm trên người tại các cấp ở địa phương.
Phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan thú y trong công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch cúm gia cầm đến tận thôn, ấp, xã, phường, hộ gia đình. Sử dụng rộng rãi Cloramin B để khử trùng, tẩy uế, xử lý triệt để ổ dịch. Có biện pháp phòng hộ cho cán bộ y tế và những người trực tiếp tham gia xử lý ổ dịch tại địa phương, cơ sở.
Đối với các địa phương có cửa khẩu quốc tế, cần kiểm tra chặt chẽ khách nhập cảnh từ các vùng đang có dịch, vùng có ổ dịch cũ, không để dịch bệnh xâm nhập.
Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc giám sát chặt chẽ các trường hợp viêm đường hô hấp cấp do vi rút tại khu vực có dịch cúm gia cầm, phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo đúng "Hướng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm viêm phổi do vi rút" ban hành theo Quyết định số 3422/2004/QĐ-BYT ngày 30/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện 4 biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm lây sang người ban hành kèm theo Công văn số 1156/DP/AIDS-DT ngày 02/8/2004 của Bộ Y tế.
Cân đối kinh phí, đảm bảo đủ thuốc, hóa chất, vật tư chuyên dụng dự trữ để phục vụ cho công tác phòng chống dịch cũng như trang bị phòng hộ cá nhân cho cán bộ trực tiếp tham gia điều tra và xử lý ổ dịch, điều trị bệnh nhân.
Thường xuyên báo cáo Bộ Y tế, ủy ban nhân dân, Sở Y tế tỉnh/thành phố về tình hình dịch bệnh và các hoạt động phòng chống dịch triển khai tại địa phương, thực hiện nghiêm túc Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch ban hành kèm theo Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
4.2.6. Trung tâm phòng chống bệnh xã hội
Dưới sự chỉ đạo của Sở Y tế, phối kết hợp chặt chẽ với các đơn vị triển khai công tác giám sát, tuyên truyền, và phòng chống dịch cúm.
4.2.7. Trung tâm kiểm dịch y tế biên giới
Tham mưu cho Sở Y tế tỉnh/thành phố tăng cường các hoạt động giám sát cúm gia cầm trên người tại các cửa khẩu y tế biên giới.
Phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm dịch động vật trong công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch cúm gia cầm tại các cửa khẩu. Sử dụng rộng rãi Cloramin B để khử trùng, tẩy uế, xử lý triệt để hành lý hàng hoá có nghi ngờ mang mần bệnh cúm A. Có biện pháp phòng hộ cho cán bộ y tế và những người trực tiếp tham gia xử lý ổ dịch tại địa phương, cơ sở.
Kiểm tra chặt chẽ khách nhập cảnh từ các vùng đang có dịch, vùng có ổ dịch cũ, không để dịch bệnh xâm nhập.
Thường xuyên báo cáo Bộ Y tế, ủy ban nhân dân, Sở Y tế tỉnh/thành phố về tình hình dịch bệnh và các hoạt động phòng chống dịch triển khai tại địa phương.
4.3. Tuyến huyện
4.3.1.Ban chỉ đạo chống dịch SARS, Cúm ở người tuyến huyện:
Ban chỉ đạo chống dịch SARS, Cúm ở người của huyện có trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các hoạt động phòng chống tại địa phương.
Chỉ đạo Trung tâm Y tế dự phòng huyện tăng cường giám sát phát hiện ca bệnh, chủ động phòng chống.Tổ chức điều tra, giám sát, phát hiện cách ly, xử lý kịp thời không để dịch lây lan.
Chỉ đạo Bệnh viện huyện chủ động chuẩn bị cơ sở để thu dung, cách ly, điều trị bệnh nhân. Chú ý các cơ sở cách ly, khoa lây đủ giường bệnh để tiếp đón và điều trị bệnh nhân khi có dịch lớn.
Thành lập đội chống dịch gồm các cán bộ dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm.... để triển khai các biện pháp phòng chống, đặc biệt tại hộ gia đình có bệnh nhân.
Chuẩn bị xe chuyên dụng để vận chuyển bệnh nhân kịp thời.
Thường trực chống dịch để nắm tình hình, báo cáo về Ban chỉ đạo quốc gia và địa phương theo quy định, thông tin kịp thời cho Lãnh đạo chính quyền địa phương biết diễn biến tình hình hàng ngày.
4.3.2. Trung tâm Y tế dự phòng huyện
Tham mưu cho Ban chỉ đạo huyện tăng cường các hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm trên người tại địa phương.
Tập trung giám sát phát hiện ca mắc bệnh đầu tiên trên địa bàn huyện, khoanh vùng và xử lý kịp thời.
Sử dụng rộng rãi Cloramin B để khử trùng, tẩy uế, xử lý triệt để ổ dịch. Có biện pháp phòng hộ cho cán bộ y tế và những người trực tiếp tham gia xử lý ổ dịch tại địa phương, cơ sở.
Đối với các địa phương có cửa khẩu quốc tế, cần kiểm tra chặt chẽ khách nhập cảnh từ các vùng đang có dịch, vùng có ổ dịch cũ, không để dịch bệnh xâm nhập.
Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện 4 biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm lây sang người.
Cân đối kinh phí, đảm bảo đủ thuốc, hóa chất, vật tư chuyên dụng dự trữ để phục vụ cho công tác phòng chống dịch cũng như trang bị phòng hộ cá nhân cho cán bộ trực tiếp tham gia điều tra và xử lý ổ dịch, điều trị bệnh nhân.
Thường xuyên báo cáo Sở Y tế, ủy ban nhân dân huyện, về tình hình dịch bệnh và các hoạt động phòng chống dịch triển khai tại địa phương, thực hiện nghiêm túc Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch.
4.3.3. Bệnh viện huyện
Chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
Chủ động chuẩn bị 10 - 20 giường bệnh và bệnh viện dã chiến khi cần thiết.
Tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các trạm y tế xã và phòng khám tư nhân trên địa bàn.
Có kế hoạch duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có đại dịch.
4.4. Tuyến xã
Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân xã có trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các hoạt động phòng chống tại địa phương.
Trạm y tế xã tăng cường giám sát phát hiện ca bệnh, chủ động phòng chống.Tổ chức điều tra, giám sát, phát hiện cách ly, xử lý kịp thời không để dịch lây lan. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tuyến trên để triển khai các hoạt động phòng chống. Theo dõi, giám sát các trường hợp điều trị tại nhà.
Thành lập đội chống dịch xã gồm các cán bộ y tế, đoàn thanh niên, phụ nữ,.... để triển khai các biện pháp phòng chống, đặc biệt tại hộ gia đình có bệnh nhân.
Thường trực chống dịch để nắm tình hình, báo cáo về huyện, tỉnh theo quy định, thông tin kịp thời cho Lãnh đạo chính quyền địa phương biết diễn biến tình hình hàng ngày.
PHẦN V : NHU CẦU KINH PHÍ
5.1. Cơ chế đầu tư tài chính:
Hàng năm, Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính cân đối, bố trí đủ ngân sách và cấp kịp thời cho các hoạt động đạt mục tiêu phòng và chống đại dịch cúm ở người.
Có cơ chế tài chính ưu tiên, phù hợp để đáp ứng nhiệm vụ phòng và chống đại dịch cúm ở người.
Chủ động kinh phí cho các hoạt động y tế dự phòng, điều trị, giáo dục tuyên truyền, nghiên cứu, đánh giá và các phương tiện, vật tư, trang thiết bị, hoá chất, cơ số thuốc, vắc xin phục vụ các hoạt động phòng và chống đại dịch.
Định mức chi tiêu cho các hoạt động phòng chống đại dịch được điều chỉnh phù hợp và kịp thời khi có đại dịch xảy ra.
Do tính chất khẩn cấp của công tác phòng chống dịch, Bộ Y tế đề nghị được thực hiện theo các hình thức: Chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế.
5.2. Nguồn tài chính:
Nguồn ngân sách đầu tư: Trung ương, địa phương và các nguồn hợp tác quốc tế khác.
Trung ương đầu tư cho dự trữ quốc gia: Thuốc kháng vi rút, vắc xin, vật tư thiết bị chống dịch, và trang thiết bị cấp cứu điều trị bệnh nhân cho bệnh viện tuyến trung ương.
Địa phương: Chủ động đầu tư kinh phí địa phương, mua thuốc kháng vi rút, vắc xin, vật tư thiết bị chống dịch, và trang thiết bị cấp cứu điều trị bệnh nhân cho bệnh viện tuyến tỉnh, huyện. Theo cơ số dự trữ tỉnh, huyện (Phụ lục 6).
5.3. Nhu cầu kinh phí:
Nhu cầu chi cho y tế trong trường hợp đại dịch xảy ra do lây từ người sang người khoảng 17.000 tỷ đồng.
Nhu cầu trước mắt để phòng chống đại dịch xảy ra trong những tháng cuối năm 2005 và năm 2006 là 4.915,8 tỷ đồng.
Trong đó nhu cầu kinh phí từ nay đến tháng 6 năm 2006 là 2.271,8 tỷ đồng.
PHỤ LỤC 1
HỆ THỐNG GIÁM SÁT CÚM TẠI VIỆT NAM
NHU CẦU KINH PHÍ KHẨN CẤP ĐỂ PHÒNG CHỐNG ĐẠI DỊCH CÚM Đơn vị: 1.00 đồng
💬 Hỏi AI về văn bản này | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
