[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là UBND xã T, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 01/10/2002. Sau khi kết hôn anh chị chung sống đến năm 2009 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã cố gắng để hàn gắn tình cảm và cũng được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, mâu thuẫn của anh chị vẫn tồn tại. Anh chị sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Nay anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đã thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa anh chị.
[2] Về con chung: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H có 01 con chung là Đỗ Hoàng A, sinh ngày 28/8/2005. Con Đỗ Hoàng A đã trưởng thành, anh chị 2 không yêu cầu Tòà án giải quyết.
[3] Về quan hệ tài sản: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về lệ phí: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí việc dân sự.
Xét thấy, sự thỏa thuận của anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoa thuận đó.
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H thuận tình ly hôn. 1.2. Về con chung: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H có 01 con chung là Đỗ Hoàng A, sinh ngày 28/8/2005. Con Đỗ Hoàng A đã trưởng thành, anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết. 1.3. Về tài sản chung: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về lệ phí Tòa án: Anh Đỗ Quang D và chị Hoàng Thị H mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, đối trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0001042 ngày 20/8/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.