Căn cứ vào biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành cùng ngày 29 tháng 6 năm 2026, người yêu cầu đã thống nhất các vấn đề sau đây:
[1] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Tô Văn T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/8/2017 tại Uy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay là Uy ban nhân dân xã C, tỉnh Cà Mau). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2025 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi. Nay bà T và ông T1 cùng xác định mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông bà thuận tình ly hôn.
Do đó, có căn cứ công nhận cho bà T và ông T1 thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà T và ông T1 đều có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu xem xét đến việc cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
[2] Về con chung: bà T và ông T1 xác định ông bà có 01 con chung tên Tô Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2018. Bà T và ông T1 đã thỏa thuận ông T1 sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận ông T1 không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: bà T và ông T1 cùng xác định là không có nên Tòa án không xem xét.
[4] Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà T và ông T1 phải chịu. Đã hết thời hạn 07 ngày, kế từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Tô Văn T1 tự nguyện thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Tô Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2018 cho ông Tô Văn T1 nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận ông Tô Văn T1 không yêu cầu bà Phạm Thị T cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thế quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T và ông Tô Văn T1 xác định không có nên Tòa án không xem xét.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thấm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà Phạm Thị T và ông Tô Văn T1 phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà ông bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012172 ngày 19 tháng 6 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Người yêu cầu đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm.