Việc thuận tình ly hôn và thỏả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 24 tháng 6 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kế từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoa thuận đó.
2
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị Đài T và anh Trần Ngọc P.
2. Công nhận sự thỏả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1 Về nuôi con chung: Chị Đào Thị Đài T và anh Trần Ngọc P có 02 con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 10/10/2017 và Trần Bảo H, sinh ngày 06/9/2021. Ly hôn, anh chị thống nhất thỏa thuận: Chị Đào Thị Đài T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Bảo N và Trần Bảo H. Anh Trần Ngọc P tự nguyện góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mỗi con là 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kế từ tháng 7/2026 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Chị T, anh P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết. 2.2 Về quan hệ tài sản: Chị Đào Thị Đài T và anh Trần Ngọc P không yêu cầu Toà án giải quyết. 2.3 Về án phí: Chị Đào Thị Đài T tự nguyện nộp cả 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai số 0003425 ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị T được ho àn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.