Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 15 tháng 5 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trình Thị T và anh Vũ Xuân H.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1 Về con chung: Công nhận cháu Vũ Quốc P, sinh ngày 22/9/2017; Vũ Quốc V, sinh ngày 03/7/2014; Vũ Ngọc M, sinh ngày 29/11/2011 là con chung của chị Trình Thị T và anh Vũ Xuân H. Chị T và anh H thống nhất thỏa thuận như sau: Giao cháu Vũ Quốc P, Vũ Ngọc M cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Vũ Quốc V cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác về pháp luật. Về cấp dưỡng: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Chị T anh H và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu chị T anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con . Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Trình Thị T tự nguyện chịu 150.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003498 ngày 07/5/2026 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị T được nhân lại 150.000 đồng. Chị T đã nộp đủ tiền án phí. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 , 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.