Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị N xin ly hôn anh M, anh M có địa chỉ cư trú tại xã T, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”. - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Chị N, anh M có sự tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 08/8/2017, tại UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của chị N, anh M, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương có căn cứ khẳng định: cuộc sống chung không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống khác nhau, vợ chồng chung sống không còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng thường xuyên cãi, mâu thuẫn về kinh tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2025 đến nay. Chị N không còn tình cảm vợ chồng với anh M. Phía anh M thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhưng anh M vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị N, chị N xin ly hôn anh M không đồng ý, nhưng anh M không có biện pháp tích cực gì để hàn gắn mối quan hệ tình cảm vợ chồng. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Có căn cứ để xác định vợ chồng chị N, anh M không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp 4 đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, có nghĩa vụ chung sống với nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị N, anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị N được ly hôn với anh M là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu xin nuôi con của nguyên đơn: Lời khai của chị N, anh M là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Vợ chồng chị N, anh M có 2 con chung là cháu Lâm Bảo Y, sinh ngày 21/11/2019 và cháu Lâm Trần S, sinh ngày 23/4/2022 đang ở cùng chị N. Chị N, anh M đều có mong muốn nuôi cả 02 con và đều có nghề nghiệp thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập, cần giao cho chị N trực tiếp nuôi cháu Lâm Bảo Y, sinh ngày 21/11/2019 và anh M trực tiếp nuôi cháu Lâm Trần S, sinh ngày 23/4/2022 là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Không ai yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết về vấn đề này. - Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí:
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị N phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 94, Khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Lâm Văn M.
2. Về nuôi con: Giao cho chị Trần Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lâm Bảo Y, sinh ngày 21/11/2019. Giao cho anh Lâm Văn M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lâm Trần S, sinh ngày 23/4/2022. 5 Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này.
3. Về tiền án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị N đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000520 ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh thu. Xác nhận chị Trần Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.