Thông tư KS-192000 Liên bộ 40 TT/LB 1989 hướng dẫn trích lập quỹ khen thưởng giải phóng tàu nhanh
| BỘ TÀI CHÍNH, BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI _______ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc _____________________ |
| Số : 40 TT/LB | Hà nội ngày 12 tháng 10 năm 1989 |
1. Về Nguyên tắc chung:
Các cảng biển là những đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, thực hiện quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính (lãi - lỗ) (theo quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng). Do vậy, trong việc giải phóng tàu nhanh ở cảng, các đơn vị phải tự cân đối giưã tiền thưởng và tiền phạt: Nhà nước không cấp bù phần chênh lệch tiền phạt cao hơn tiền thưởng và ngược lại, cũng không điều tiết phần chênh lệch tiền thưởng cao hơn tiền phạt.
Việc quản lý sản xuất kinh doanh là trách nhiệm vủa các đơn vị cơ sở nên trong các hợp đồng kinh tế đã ký kết về xếp dỡ hàng hoá. (kể cả hàng xuất khẩu) đối với các hãngtàu trong và ngoài nước phải trên cơ sở các định mức giải phóng tàu đã công bố và tính toán để không bị lỗ.
Sau khi lấy thưởng bù phạt, phần tiền thưởng còn lại (bao gồm cả ngoại tệ và hiện vật được thưởng) được dùng để trích thưởng cho các đối tượng thạm gia giải phóng tàu và trích lập quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
Phần ngoại tệ và hiện vật, được thưởng đều phải quy định đổi ra đồng Việt nam theo tỷ giá do Nhà nước quy định và theo giá cả thị trường tại thời điểm được thưởng để làm nguồn vốn trích thưởng và lập quỹ dự phòng về giải phóng tàu.
2. Nguồn tiền thưởng và phân phối tiền thưởng giải phóng tàu:
3. Sử dụng quỹ dự phòng.
4 . Hạch toán và báo cáo quyết toán:
5. Điều khoản thi hành:
| KT BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN Thứ trưởng (Đã ký) Lê Khả | KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH Thứ trưởng (Đã ký) Hồ Tế |
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 217-HĐBT | Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 1987 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH CÁC CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HOÁ VÀ HẠCH TOÁN KINH DOANH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Nghị Quyết số 3-NQ/HNTƯ của hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khoá 6;
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định của Hội đồng Bộ trưởng về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh. Các quy định này được áp dụng để xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoá Nhà nước kể từ năm 1988.
Điều 2. Bãi bỏ Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 về việc ban hành các bản quy định tạm thời về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở cũng như các văn bản kèm theo và thông tư hướng dẫn của các Bộ có liên quan đến Quyết định đó.
Điều 3. Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan có liên quan theo quyền hạn và trách nhiệm của mình, ban hành các thông tư hướng dẫn áp dụng nội dung của Quyết định này.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, đôn đốc thực hiện và lập báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý về kết quả thực hiện Quyết định này cũng như đề xuất những kiến nghị bổ sung gửi đến Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương để tổng hợp trình Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng xem xét.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
Điều 1. Mục tiêu và căn cứ xây dựng kế hoạch.
Kế hoạch của xí nghiệp quốc doanh nhằm mục tiêu sử dụng một cách hợp lý nhất toàn bộ giá trị tài sản Nhà nước giao cho tập thể lao động trong xí nghiệp trực tiếp quản lý để phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, và hiệu quả kinh tế - xã hội tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho xã hội, tạo nguồn thu ngày càng lớn cho ngân sách quốc gia, và cải thiện từng bước đời sống công nhân, viên chức.
Xí nghiệp có quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Điều 2. Nội dung kế hoạch.
1. Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phản ánh toàn bộ quá trình sản xuất từ mọi nguồn cân đối vật tư, tiền vốn do xí nghiệp huy động được và toàn bộ hoạt động tiêu thụ sản phẩm cho tất cả các khách hàng của xí nghiệp kể cả xuất khẩu cũng như các hoạt động bảo hành, dịch vụ kỹ thuật đối với sản phẩm của xí nghiệp và tổ chức bán sản phẩm mẫu, phụ tùng thay thế, kể cả bán lẻ sản phẩm với số lượng nhỏ, sản phẩm chế thử, v.v...
2. Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản.
3. Kế hoạch nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
4. Kế hoạch đời sống và xã hội.
5. Các kế hoạch vật tư kỹ thuật, lao động-tiền lương, giá thành, lợi nhuận, tài chính, tín dụng được xây dựng theo quy định tại các phần tương ứng nói dưới đây.
Điều 3. Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đối với xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
a) Đối với việc sản xuất các sản phẩm trọng yếu theo yêu cầu của Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm cân đối các điều kiện vật chất chủ yếu thì giao 3 chỉ tiêu:
b) Đối với việc sản xuất các sản phẩm không thuộc danh mục sản phẩm trọng yếu của Nhà nước (ngoài kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước) và đối với các dịch vụ sửa chữa được Nhà nước cân đối một phần năng lượng, vật tư, thì giao hai hoặc một chỉ tiêu:
c) Đối với việc sửa chữa và dịch vụ sửa chữa chủ yếu bằng vật tư do xí nghiệp tự cân đối, thì giao một chỉ tiêu: các khoản nộp ngân sách.
1. Đối với xí nghiệp xây lắp.
2. Đối với xí nghiệp vận tải.
3. Đối với xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh và xí nghiệp vật tư.
4. Đối với các cơ sở dịch vụ ăn uống, giao một chỉ tiêu: các khoản nộp ngân sách.
Điều 4. Về báo cáo và bảo vệ kế hoạch.
Điều 5. Xí nghiệp được giao số hướng dẫn cho phần kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước chậm nhất là tháng 10 năm trước và được thông qua kế hoạch từ đầu tháng 12 năm trước để kịp thời chuẩn bị và triển khai sản xuất ngay từ đầu năm kế hoạch.
Điều 6. Trong qua trình thực hiện xí nghiệp có thể đề nghị bổ sung thêm kế hoạch theo chỉ tiêu pháp lệnh. Nếu vì lý do khách quan không được cân đối các điều kiện vật chất, thiên tai, sự cố lớn, v.v... mà không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì xí nghiệp đề nghị cơ quan giao kế hoạch xem xét cho điều chỉnh. Cơ quan giao kế hoạch có trách nhiệm điều chỉnh kịp thời nhiệm vụ kế hoạch pháp lệnh giao cho xí nghiệp tương ứng với mức vật tư Nhà nước bảo đảm cho xí nghiệp.
Điều 7. Kết thúc năm kế hoạch, giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch toàn diện của xí nghiệp lên cơ quan giao kế hoạch, để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch của xí nghiệp. Kết quả thực hiện kế hoạch pháp lệnh của xí nghiệp được tính tương ứng với số vật tư, năng lượng xí nghiệp thực tế nhận được từ các nguồn do Nhà nước cân đối. Trường hợp thấy có hiện tượng báo cáo của xí nghiệp không đúng sự thật, cơ quan này mới tiến hành kiểm tra tại xí nghiệp. Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo và xí nghiệp chịu trách nhiệm vật chất theo kết quả kiểm tra.
Điều 8. Về lâu dài việc đảm bảo vật tư - kỹ thuật cho xí nghiệp dựa trên cơ sở lấy kế hoạch làm trung tâm, kết hợp với sự sử dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ, bỏ chế độ cấp phát vật tư, giao nộp sản phẩm, thực hiện chế độ mua bán vật tư và sản phẩm theo hợp đồng kinh tế.
Điều 9. Mọi dịch vụ về vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý cũng như vật tư thông dụng phải được đưa vào kế hoạch của tổ chức kinh doanh vật tư.
Điều 10. Các cơ quan có thẩm quyền giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản lượng các sản phẩm chủ yếu hoặc giao đơn đặt hàng của Nhà nước phải phối hợp tính toán, trao đổi thống nhất với các tổ chức kinh doanh vật tư và đôn đốc, kiểm tra các cơ quan đó nhằm đảm bảo chỉ tiêu pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng phù hợp với khả năng đáp ứng vật tư, và phải chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu, đơn đặt hàng đó.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phối hợp với các Bộ có liên quan lập bảng cân đối các vật tư Nhà nước thống nhất quản lý, phân phối cho các mục tiêu kinh tế quan trọng và cho quốc phòng, an ninh để Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Hội đồng Bộ trưởng; Hội đồng Bộ trưởng giao nhiệm vụ và chỉ tiêu pháp lệnh về bảo đảm vật tư cho các tổ chức kinh doanh vật tư (qua các Bộ trưởng quản lý các ngành kinh doanh vật tư). Cuối năm xí nghiệp phải cùng với cơ quan Nhà nước đã giao kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng cho xí nghiệp quyết toán việc sử dụng vật tư. Căn cứ vào định mức kinh tế-kỹ thuật đã quy định, nếu số vật tư xí nghiệp thực nhận trong năm thừa so với nhu cầu vật tư cần sản xuất ra khối lượng sản phẩm đã thực hiện thì xí nghiệp phải hoàn trả lại Nhà nước hoặc trừ vào kế hoạch năm sau. Các Bộ trưởng, Tổng cục trưởng quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, được thông báo khả năng vật tư, cùng các thông tin kinh tế-kỹ thuật cần thiết khác, chịu trách nhiệm chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, lưu thông theo nguyên tắc nói ở điều 8.
Điều 11. Các xí nghiệp trọng điểm, có nhu cầu vật tư lớn và ổn định, được nhận trực tiếp vật tư từ cơ sở sản xuất hoặc từ bến cảng nhập khẩu theo chỉ tiêu kế hoạch và hợp đồng đã ký. Trong trường hợp xí nghiệp sản xuất vật tư bằng phương tiện vận tải của mình, thì xí nghiệp được bên kinh doanh vật tư thanh toán lại phần chi phí vận tải cần thiết.
Điều 12. Đối với các sản phẩm là tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng trọng yếu được Nhà nước giao kế hoạch pháp lệnh, đơn đặt hàng, xí nghiệp có trách nhiệm bán cho các tổ chức kinh doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh hoặc thương nghiệp hợp tác xã được chỉ định, theo chỉ tiêu kế hoạch và hợp đồng được ký kết.
Điều 13. Các xí nghiệp sản xuất ra sản phẩm trọng yếu, theo chỉ tiêu pháp lệnh có số lượng lớn và ổn định, các sản phẩm khó bảo quản, cần tiêu thụ nhanh hoặc những sản phẩm có bao bì chuyên dùng cần được thu hồi nhanh được bán thẳng sản phẩm của mình cho các tổ chức kinh doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh và các hộ tiêu thụ ổn định theo hợp đồng ký kết trực tiếp với các đơn vị này.
Điều 14. Để tập trung huy động các nguồn hàng vào hệ thống thương nghiệp quốc doanh, các đơn vị thương nghiệp tổ chức nắm nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; khai thác thêm vật tư ngoài danh mục do Nhà nước thống nhất quản lý để hỗ trợ cho xí nghiệp và chủ động ký hợp đồng mua sản phẩm của các xí nghiệp sản xuất.
Điều 15. Đối với những sản phẩm trong danh mục, được sản xuất bằng vật tư chủ yếu do Nhà nước phân phối, nếu các tổ chức kinh doanh vật tư hoặc thương nghiệp quốc doanh không nhận ký hợp đồng mua hoặc không thực hiện đúng hợp đồng mua đã ký kết, thì xí nghiệp báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và cơ quan trọng tài kinh tế để giải quyết. Sau 30 ngày kể từ khi báo cáo mà cấp trên không giải quyết hoặc trả lời, xí nghiệp có quyền ký hợp đồng bán số sản phẩm đó cho các hộ tiêu thụ khác.
Điều 16. Xí nghiệp thực hiện hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tự trang trải tài chính và kinh doanh có lãi. Nhằm mục đích đó xí nghiệp tổ chức sử dụng linh hoạt các nguồn lực của mình, lựa chọn những phương án kinh tế - kỹ thuật, phương án sản xuất - kinh doanh tổng hợp tốt nhất trên cơ sở hoàn thành kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng Nhà nước giao nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, làm giá trị tài sản của xí nghiệp và đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày càng tăng lên, hoạt động của xí nghiệp ngày càng mở rộng, đời sống của công nhân, viên chức ngày càng được cải thiện.
Điều 17. Xí nghiệp chấp hành đầy đủ các quy định về kế toán thống kê thống nhất của Nhà nước; thực hiện nghiêm túc chế độ ghi chép ban đầu, chịu trách nhiệm bảo đảm sự chính xác của số liệu.
Điều 18. Tài sản của xí nghiệp gồm tài sản cố định và vốn lưu động, thuộc sở hữu toàn dân được Nhà nước cấp ban đầu một lần tương ứng với nhiệm vụ thiết kế của xí nghiệp, và giao cho tập thể công nhân, viên chức xí nghiệp trực tiếp quản lý và sử dụng để phát triển sản xuất.
Điều 19. Đối với tài sản cố định, xí nghiệp có nhiệm vụ sử dụng có hiệu quả cao, duy trì và phát triển năng lực và tổng giá trị của số tài sản cố định đó nhằm đáp ứng nhiệm vụ sản xuất ngày càng tăng. Xí nghiệp có nhiệm vụ thường xuyên thay thế, đổi mới tài sản cố định cho phù hợp với yêu cầu sản xuất và yêu cầu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất.
Điều 20. Toàn bộ tiền trích khấu hao cơ bản tài sản cố định đều để lại cho xí nghiệp. Đối với những công trình kinh tế mới đưa vào hoạt động, có vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn, Nhà nước huy động một phần vốn khấu hao cơ bản vào ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính trình Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể về việc này.
Điều 21. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của xí nghiệp để đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng được xác lập từ các nguồn tiền khấu hao cơ bản đã trích, một phần quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, một phần quỹ phúc lợi từ lợi nhuận để lại của xí nghiệp và nếu thiếu vay Ngân hàng hoặc huy động vốn từ các nguồn khác như quy định tại điều 22.
Điều 22. Vốn lưu động định mức của xí nghiệp được Nhà nước cấp ban đầu một lần. Trường hợp Nhà nước điều chỉnh giá thì mức vốn đó được Nhà nước xác định lại và bổ sung kịp thời khi cần thiết ngoài vốn Nhà nước cấp, xí nghiệp được tạo vốn bằng cách trích từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp; vốn vay Ngân hàng, kể cả vay bằng ngoại tệ; vay của các đơn vị kinh tế khác và vay vốn của nhân dân, vay vốn của Kiều bào hay vay vốn nước ngoài theo nguyên tắc xí nghiệp phải bảo đảm sản xuất có hiệu quả, tự trả đủ vốn và lãi cho người vay và có tích luỹ.
Điều 23. Xí nghiệp được tính vào giá thành sản phẩm các yếu tố sau đây:
1. Vật tư, năng lượng, theo giá thực mua (giá Nhà nước quy định hoặc giá thoả thuận).
2. Lãi vay để đầu tư chiều sâu, lãi vay vốn lưu động trong kế hoạch (bao gồm vay trong định mức và vay trên định mức trong kế hoạch Nhà nước).
3. Các khoản chi phí khác theo Nhà nước quy định.
Điều 24. Lợi nhuận để lại xí nghiệp được xác định trên cơ sở tổng doanh thu thực hiện (giá tiêu thụ) trừ (-) giá thành sản phẩm, trừ (-) các khoản nộp ngân sách trừ (-) các khoản nộp lãi, nộp phạt đã hình thành.
Điều 25. Việc nộp đúng và đủ thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận và các khoản thu khác vào ngân sách Nhà nước theo thể chế hiện hành là nghĩa vụ bắt buộc đối với xí nghiệp.
Điều 26. Xí nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu và có quỹ ngoại tệ phải chấp hành các nhiệm vụ thanh toán, thu nộp ngân sách và sử dụng ngoại tệ theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 27. Đối với các sản phẩm thuộc danh mục Nhà nước thống nhất quản lý giá:
1. Xí nghiệp xây dựng phương án giá sản phẩm theo sự hướng dẫn về chính sách, nguyên tắc, phương pháp tính giá do Uỷ ban vật giá Nhà nước ban hành.
2. Xí nghiệp bảo vệ mức giá kiến nghị trước một cơ quan duyệt giá theo quy chế phân cấp quản lý giá của Nhà nước. Uỷ ban Vật giá Nhà nước trình Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi quy chế phân cấp quản lý giá để ban hành trong tháng 12 năm 1987.
3. Cơ quan duyệt giá quyết định giá sau khi đã trao đổi với xí nghiệp và phải duyệt giá kịp thời, chậm nhất là 20 ngày (nếu là sản phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu có tính chất thời vụ thì 10 ngày) kể từ khi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định. Quá hạn đó xí nghiệp được quyền mua, bán theo giá đề nghị trong phương án. Khi có giá chính thức không phải thanh toán lại.
Điều 28. Xí nghiệp được quyền quyết định hoặc thoả thuận với khách hàng về giá các loại sản phẩm và dịch vụ sau:
1. Các sản phảm và dịch vụ ngoài danh mục Nhà nước định giá.
2. Sản phẩm sản xuất thử, sản xuất làm mẫu, sản phẩm được Nhà nước cho phép bán giới thiệu mặt hàng tại các hội trợ triển lãm hoặc tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm mới.
3. Sản phẩm điều động nội bộ xí nghiệp hoặc xí nghiệp liên hợp để tiếp tục quá trình sản xuất, nhưng không được làm đội giá sản phẩm cuối cùng.
4. Phụ tùng và dịch vụ sửa chữa đơn chiếc theo yêu cầu của khách hàng.
5. Sản phẩm sản xuất đơn chiếc theo yêu cầu của khách hàng.
6. Vật tư hàng hoá kém, mất phẩm chất.
7. Có sự thoả thuận của khách hàng để tính thêm vào giá bán sản phẩm của xí nghiệp do Nhà nước quy định phần chi phí làm bổ sung theo yêu cầu của khách hàng mà chưa ghi trong hợp đồng, hoặc trừ khỏi giá bán sản phẩm phần chi phí do không đáp ứng yêu cầu của khách hàng đã ghi trong hợp đồng vì những nguyên nhân khách quan.
Điều 29. Xí nghiệp hoặc liên hiệp các xí nghiệp được Nhà nước cho phép trực tiếp ký kết hợp đồng xuất, nhập khẩu với các tổ chức kinh tế nước ngoài thì có quyền thoả thuận với các cơ sở kinh tế có quan hệ liên doanh liên kết trong nước (và với các xí nghiệp trực thuộc, nếu là liên hiệp) về giá giao dịch (bao gồm cả giá vật tư, thiết bị, hàng tiêu dùng và giá sản phẩm làm ra), trên cơ sở hạch toán kinh tế, mỗi bên hợp đồng hoặc liên kết tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và làm đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước.
Điều 30. Đối với sản phẩm và dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá:
Điều 31. Đối với sản phẩm và dịch vụ ngoài danh mục Nhà nước định giá:
Điều 32. Sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Nhà nước có cùng chất lượng, bán cho cùng một đối tượng, trên cùng một địa bàn thì không phân biệt nguồn vật tư đưa vào sản xuất do Nhà nước cung ứng theo kế hoạch hoặc do xí nghiệp tự kiếm đều phải bán theo giá thống nhất. Nhà nước quy định cơ chế thu bù chênh lệch đối với sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng vật tư do xí nghiệp tự kiếm; nếu chưa có cơ chế thu bù thì xí nghiệp được bán theo giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp (bao gồm cả tư liệu sản xuất) hoặc theo giá thoả thuận.
Điều 33. Giá cả do cấp có thẩm quyền quyết định, bao gồm cả giá tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp, phải được công bố rộng rãi cho mọi người biết để thực hiện.
Điều 34. Xí nghiệp được mở tài khoản tại ngân hàng và phải gửi các loại vốn bằng tiền chưa sử dụng vào ngân hàng và được ngân hàng trả lãi.
Điều 35. Các khoản thu chi tiền mặt của xí nghiệp đều gửi vào và lấy ra ở tài khoản của mình tại ngân hàng, trừ số thu chi tiền mặt cần dùng trong ngày theo chế độ quản lý tiền mặt của Nhà nước cho phép.
Điều 36. Hàng năm xí nghiệp đăng ký quỹ lương với ngân hàng nơi xí nghiệp mở tài khoản. Các khoản chi lương, thưởng được dự trù trong kế hoạch tiền mặt hàng quý phù hợp với định mức tiền lương theo sản phẩm và theo mức độ thực hiện kế hoạch của xí nghiệp.
Điều 37. Xí nghiệp có quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện các quyết định chi cho mình trong phạm vi vốn của xí nghiệp còn ở các tài khoản tại ngân hàng.
Điều 38. Ngân hàng thực hiện cấp phát thay tài chính vốn xây dựng cơ bản đối với các công trình mới hoặc đầu tư mở rộng theo kế hoạch của Nhà nước, theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước do tài chính chuyển sang.
Điều 39. Các nguồn vốn do xí nghiệp huy động được để tự đầu tư xây dựng cơ bản khi chưa dùng đến phải gửi vào ngân hàng và được hưởng lãi.
Điều 40. Xí nghiệp có ngoại tệ phải mở tài khoản và gửi hết số vốn ngoại tệ của mình vào ngân hàng ngoại thương. Ngân hàng bảo đảm giữ bí mật và tạo điều kiện sử dụng thuận tiện cho xí nghiệp, thông báo số dư hàng tháng cho chủ tài khoản.
Điều 41. Xí nghiệp vay vốn phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng. Căn cứ vào nghị định của Hội đồng Bọ trưởng số 99-HĐBT ngày 29-6-1987 và số 218-HĐBT ngày 19-11-1987 về lãi xuất tiền gửi và cho vay, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các mức lãi xuất cụ thể trong từng thời gian phù hợp với từng loại vay và loại hình xí nghiệp, phân biệt lãi xuất vay bình thường và lãi xuất nợ quá hạn. Ngân hàng thực hiện chính sách tín dụng và lãi xuất ưu đãi đối với các xí nghiệp sử dụng vốn vay đạt hiệu quả kinh tế cao, tăng nhanh vòng quay vốn và trả nợ ngân hàng trước hạn.
Điều 42. Xí nghiệp được quyền chọn thể thức thanh toán thích hợp (séc, uỷ nhiệm chi, chuyển tiền điện...) trong quan hệ mua bán vật tư hàng hoá đối với mọi khách hàng.
Điều 43. Hợp đồng kinh tế quy định quyền hạn và nghĩa vụ được thoả thuận giữa các bên ký kết theo đúng luật về hợp đồng kinh tế, là một căn cứ ngày càng quan trọng để xí nghiệp xây dựng và thực hiện kế hoạch. Ký kết và thực hiên hợp đồng là một nguyên tắc hoạt động của xí nghiệp. Mọi hoạt động trong sản xuất, kinh doanh (kể cả lưu thông, dịch vụ) của xí nghiệp có liên quan đến các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và cơ quan Nhà nước, các đơn vị vũ trang khác đều đưa vào hợp đồng kinh tế.
Điều 44. Xí nghiệp có thể gửi các hợp đồng kinh tế đã ký kết đến cơ quan trọng tài kinh tế để theo dõi và giúp đỡ thực hiện.
Điều 45. Xí nghiệp có quyền trực tiếp tuyển chọn lao động theo sự hướng dẫn về địa bàn tuyển của cơ quan lao động hoặc đề nghị cơ quan lao động tuyển chọn lao động cho xí nghiệp theo tiêu chuẩn và yêu cầu của xí nghiệp.
Điều 46. Đối với các xí nghiệp phải thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động như xây dựng cơ bản, giao thông, địa chất khi thì di chuyển sang địa bàn mới, xí nghiệp được đưa lao động kỹ thuật theo và tuyển lao động phổ thông tại chỗ.
Điều 47. Từ nay xí nghiệp quốc doanh thực hiện việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động do giám đốc xí nghiệp và người lao động thoả thuận và ký trên cơ sở những nguyên tắc và hướng dẫn do Bộ lao động - Thương binh và xã hội có sự tham gia của Tổng công đoàn Việt Nam xây dựng và ban hành.
Điều 48. Giám đốc có quyền cho người lao động trong biên chế thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp họ vi phạm các quy định của Nhà nước hoặc vi phạm hợp đồng đã ký.
Điều 49. Khi giám đốc cho thôi việc hoặc người lao động vì những lý do chính đáng muốn xin thôi việc phải báo trước ít nhất 30 ngày, và người lao động được giải quyết quyền lợi thôi việc theo quy định của Nhà nước.
Điều 50. Mọi người lao động được thu nhập theo kết quả lao động của mình. Xí nghiệp căn cứ thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định để tính đơn giá tiền lương trong sản phẩm theo các định mức kinh tế - kỹ thuật đã được xác định hợp lý và chặt chẽ. Đơn giá đó được điều chỉnh theo tình hình giá cả biến động từng thời kỳ. Quỹ lương của xí nghiệp được xác định tương ứng với khối lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương hợp lý.
Điều 51. Từng thời kỳ, xí nghiệp phải có kế hoạch về biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, điều kiện lao động và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đó.
Điều 52. Xí nghiệp có trách nhiệm trích nộp đầy đủ đúng thời hạn quỹ bảo hiểm xã hội và tổ chức quản lý tốt các sự nghiệp bảo hiểm xã hội của người lao động trong đơn vị. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cùng các ngành liên quan xây dựng trình Hội đồng Bộ trưởng bổ sung sửa đổi các chế độ bảo hiểm cũ nhằm nâng dần tỷ lệ trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội để từng bước hạch toán đầy đủ vào giá thành sản phẩm và bảo đảm nguồn chi cho quỹ này.
Điều 53. Nhà nước khuyến khích mọi xí nghiệp phát triển sản xuất hàng xuất khẩu để nhập khẩu. Xí nghiệp có sản phẩm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều có nhiệm vụ chấp hành và được bảo đảm quyền lợi theo chính sách và cơ chế xuất nhập khẩu của Nhà nước.
Điều 54. Các xí nghiệp cỏ đủ những điều kiện sau đây được tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu hoặc hợp tác trực tiếp với nước ngoài:
1. Có số lượng sản phẩm xuất khẩu lớn, chất lượng cao và ổn định, đáp ứng nhu cầu của nước ngoài hoặc có sản phẩm xuất khẩu độc đáo, được thị trường nước ngoài đặc biệt ưa chuộng thì được xuất khẩu trực tiếp.
2. Có đội ngũ quán triệt được chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về xuất, nhập khẩu, am hiểu nghiệp vụ ngoại thương và được Bộ Ngoại thương cấp giấy phép đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu.
Điều 55. Khi hoàn thành kế hoạch pháp lệnh xuất khẩu, thực hiện đúng hợp đồng ký với nước ngoài, xí nghiệp được hưởng 10% ngoại tệ thực thu.
Điều 56. Các xí nghiệp tiến hành xuất khẩu và nhập khẩu theo nguyên tắc:
a) Chỉ được xuất khẩu những sản phẩm do xí nghiệp làm ra hoặc có liên kết kinh tế, hợp tác sản xuất, chế biến mà có, và nhập khẩu những vật tư , hàng hoá chuyên dùng phục vụ cho sản xuất của xí nghiệp.
b) Khi uỷ thác xuất nhập khẩu, xí nghiệp có quyền chọn cơ quan nhận uỷ thác, phải ký kết hợp đồng kinh tế với các cơ quan nhận uỷ thác, và thực hiện đúng hợp đồng đã ký, bảo đảm sự cam kết với nước ngoài.
c) Mọi hoạt động xuất nhập khẩu của xí nghiệp đều chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại thương.
Điều 57. Xí nghiệp (liên hiệp) có sản phẩm xuất khẩu được cơ quan ngoại thương cấp thông tin về kinh tế và thị trường hàng hoá thế giới, được cử cán bộ đi khảo sát ở nước ngoài; được tham gia triển lãm, hội chợ quốc tế; được cử cán bộ tham gia các đoàn đàm phán với nước ngoài. Xí nghiệp tự chịu chi phí cần thiết cho các hoạt động đó.
Điều 58. Quyền làm chủ tập của công nhân , viên chức trong xí nghiệp được xác định trong Quyết định số 182-CP ngày 26-4-1979 của Hội đồng Chính phủ, phải được thực hiện nghiêm túc.
1. Đại hội công nhân, viên chức (đối với các xí nghiệp lớn là đại hội đại biểu công nhân viên chức) được tổ chức mỗi năm từ 1 đến 2 lần. Thông qua đại hội này, tập thể công nhân viên chức quyết định phương án phát triển và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp theo đúng đường lối phát triển kinh tế-xã hội của Đảng, theo phương hướng và chỉ tiêu kế hoạch cũng như các chính sách của Nhà nước. Đại hội quyết định việc sử dụng các nguồn vốn và các quỹ của xí nghiệp,, đề ra các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, nâng cao mức sịnh hoạt vật chất và tinh thần của công nhân viên chức trong xí nghiệp, kể cả việc đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho công nhân viên chức của xí nghiệp.
2. Hội đồng xí nghiệp là cơ quan thường trực giữa hai kỳ đại hội công nhân viên chức, do đại hội bầu ra để giám sát bộ máy quản lý xí nghiệp trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội công nhân viên chức, tổ chức công nhân viên chức kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và phân phối kết quả sản xuất; kiến nghị với giám đốc những biện pháp cần thiết để thực hiện nghị quyết đại hội công nhân viên chức, đồng thời tôn trọng chế độ thủ trưởng của giám đốc. Trường hợp giữa giám đốc và Hội dồng xí nghiệp bất đồng ý kiến, giám đốc có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
