Quyết định 35/2006/QĐ-UBND V/v phê duyệt Đề án xã hội hoá thể dục thể thao tỉnh Kon Tum giai đoạn 2006-2010
QUYẾT ĐỊNH
V/v phê duyệt Đề án xã hội hoá thể dục thể thao
tỉnh Kon Tum giai đoạn 2006-2010
__________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ưỷ ban nhân dân, ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đấy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao;
Căn cứ Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tê, văn hóa, thể dục thể thao;
Căn cứ Quyết định số 100/2005/QĐ-TTg, ngày 10 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển thế dục thể thao ở xã, phưòng, thị trấn đến năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐND, ngày 14/07/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum khoá IX, kỳ họp thứ 6 vê việc thông qua Đê án xã hội hoá thể dục thể thao tỉnh Kon Tum giai đoạn 2006-2010;
Theo đề nghị của Sở Thể dục Thể thao,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đe án xã hội hoá thể dục thể thao tỉnh Kon Tum giai đoạn 2006-2010.
Điều 2: Giao Sở Thể dục Thể thao phối họp với các đon vị có liên quan xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện Quyết định này.
Điều 3: Các Ông (Bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Thể dục Thể thao và Thủ trưởng các ngành chức năng có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành./.
ĐỀ ÁN XÃ HỘI HÓA THỂ DỤC THỂ THAO
TỈNH KONTUM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
(Kèm theo Quyết định số 35/2006/QĐ-UBND, ngày 24/7/2006
của UBND tỉnh KonTum)
___________
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội hóa Thể dục Thế thao là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằm phát huy trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm lo cho con người, cho cộnu đồng. Đây là chủ trương hết sức đúng đăn của Đảng ta, phù hợp v-ói yêu cầu tất yêu, khách quan của sự phát triển.
Tỉnh Kon Tum được tái lập lại tháng 8 năm 1991. Là tỉnh miền núi, cực Bắc Tây Nguyên, diện tích 966lkm2, dân số 376.415 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 54%, có 8 huyện, 01 thị xã. Có 96 xã, phường, có biên giới giáp với 2 nước bạn, Lào, CămPuChia.
về kinh tế nhũng người dân sống ở thị xã, thị trấn, khu đông dân cư, đời sống kinh tế tưong đối ốn định, thu nhập khá, đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, sản xuất nông nghiệp là chủ yêu, trình độ canh tác thâp, đời sống kinh tế rất khó khăn.
về văn hóa tinh thần: Do vị trí địa lý, giao thông khó khăn, kinh tế nghèo nàn, đời sống văn hóa tinh thần còn rất nhiều thiếu thốn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, phong tục tập quán còn nặng nề, lạc hậu nhiều tập tục mê tín dị đoan.
Đặc trưng của người dân tộc thiểu số là lao động từ nhỏ, có một sức khỏe tốt, một sức bền dẻo dai (TDTT gọi là tố chất bẩm sinh di truyền), đa phần có tố chất và yêu thích các môn thể thao sức mạnh.
Trong những năm qua, cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, tỉnh Kon Tum đã có bước phát triển đáng kể về mọi mặt. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Phong trào Thể dục Thể thao (TDTT) có nhiều tiến bộ. số người tập luyện TDTT ngày càng tăng, nhu cầu tập luyện TDTT của các đối tượng ngày càng đa dạng phong phú, các mô hình tổ chức, quản lý Thể dục Thể thao bước đàu được phát triển theo hướng xã hội hóa.
Tuy vậy phần lớn ở các xã, phưòng nhất là 60 xã đặc biệt khó khăn, còn hạn chế trong việc phổ biến tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT. Sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ TDTT giữa thị xã, thị trấn và các xã vùng sâu, vùng xa, giữa các đối tượng nhân dân ngày càng rõ nét. Cán bộ TDTT xã, thôn đã thiếu lại không có chuyên môn, cơ sở vật chât phục vụ cho hoạt động TDTT hâu như không có, các chế độ chính sách vê TDTT cho vùng sâu, vùng xa, vùng đông bào dân tộc
thiểu số chưa được xây dựng, hoặc chậm sửa đổi, nên đã ảnh hưởng lớn đến phát triển TDTT. Kinh phí cho sự nghiệp TDTT quá ít.
Trước tỉnh hình như vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành, nhất là ngành TDTT phải nhanh chóng đổi mới toàn diện và có những giải pháp thích họp tháo gỡ những vướng mắc về thiết chế, tô chức, cán bộ, kinh phí và xây dựng cơ sở vât chất TDTT đe phát triển phong trào toàn diện đều khắp nhất là vùng sâu vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Căn cứ luật tổ chức Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ngày 26/1/2003
- Nghị định sổ 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vưc giáo duc y tế, văn hoá, thế dục thế thao.
- Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác xã hội hóa.
- Quyết định số 100/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình phát triển thể dụcthế thao xã, phường, thị trấn đến năm 2010.
- Quyết định số 1336/QĐ-UBTDTT ngày 30/6/2005 của ủy ban Thể dục Thể thao về việc phê duyệt đề án “Phát triển xã hội hóa TDTT đến năm 2010”.
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn 1999- 2010.
Nội dung đề án gồm 3 phần chính:
- Phần thứ nhất: Thực trạng về xã hội hóa thể dục thể thao tỉnh Kon Tum trong những năm qua.
- Phần thứ hai: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp thực hiện xã hội hóa TDTT tỉnh KonTum giai đoạn 2006 - 2010.
- Phần thứ ba: Tổ chức thực hiện.
PHẦN THƯ NHẤT
THỰC TRẠNG VỀ XÃ HỘI HÓA THỂ DỤC THẺ THAO (TDTT ) TINH KONTUM TRONG NHỮNG NĂM QUA
I/ TÌNH HÌNH NHẬN THỨC VỀ XÃ HỘI HÓA TDTT TRONG NGÀNH VÀ TRONG XÃ HỘI TỪ KHI CÓ NGHỊ ĐỊNH 73/1999/NĐ-CP ĐẾN NAY:
1- Nhận thức về xã hội hóa trong ngành Thể dục Thể thao:
Sau khi Nghị định 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức học tập, quán triệt tinh thần của Nghị định cho toàn thê cán bộ cong nhân viên. Từ đo nhạn thức về xã hội hóa thể dục thể thao trong toàn ngành đã được nâng lên. Tập luyện thể dục thể thao không nhũng nâng cao sức khỏe, góp phần cai tạo nòi giong, nảng cao thể trạng người Việt Nam mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, giữ vũng an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nhạn thưc ve ý nghĩa, tác dụng của công tác xã hội hóa đối với phát triển sự nghiệp thể dục thể thao đã được nâng lên một bước. Nhà nước và xã hội đã quan tâm hon đến công tác thể dục thể thao nói chung và xã hội hóa thể dục thể thao nói riêng.
Vì vậy nhiệm vụ phát triển sự nghiệp thể dục thể thao không chỉ là việc của nhũng người iàm công tác thể dục thể thao, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã họi. Xã hội hóa thể dục thể thao là: Tăng cường sự đầu tư cua nha nước vào lĩnh vực thể dục thể thao và sự đóng góp sức người, sức của, của toàn xã hội nhăm làm cho mọi người dan đeu được tạp luyẹn, thi đau, thưong thuc cấc hoạt động thể dục thể thao, đong thời nâng cao thành tích thể thao, đáp úng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mơi.
2- Nhân thức về xã hội hóa thể dục thể thao trong xã hội:
- Trong các cơ quan, Đáng, Chính quyền:
Bước đầu đã có sự chuyển biến về nhận thức của các cấp ủy Đảng, Chính quyền đoan the về xã hội hóa thể dục thể thao. Phát triển tốt phong trào thể dục thể thao giam bót được các tệ nạn xã hội, kinh tế phát triển, xã hội ốn định, nhiều cấp, nhiêu ngành thương xuyên tổ chức các giải thể thao, các hoạt động văn hóa, thế thao xay dựng cơ sở vạt chất cho thể dục thể thao. Nhiều đơn vị chủ động quán triệt triển khai các Nghị định, Chỉ thị, của Đảng và Nhà nước đến từng cơ sở như ngaiỉh Công an, Quân đội, các huyện Ngọc Hồi, Đăk Hà ...
Bên cạnh đó còn một số cấp ủy Đảng, Chính quyền, đoàn thể chưa nhận thức đay đủ về xã hội hóa thể dục thể thao hoặc còn chung chung; triển khai công tác the dục the thao, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về thể dục thể thao mới chỉ la hĩnh thức- nhiều đơn vị chỉ triển khai lồng ghép với các mặt công tác khác, triên khai thiêu kiểm tra, đôn đốc; không xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động thế dục thể thao. Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế.
_ Trong xã hội nhận thức về xã hội hóa thể dục thế thao:
Đại đa số công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân sống ở thị xã thị tran khu đông dân cư, hiểu rõ tác dụng của việc rèn luyện thân thể, từ đó
tích cực tự giác chọn cho mình một môn thể thao phù hợp để tập luyên tích cưc hưởng ứng các phong trào thê dục thê thao, không trông chò' ỷ lại, coi thể duc thể thao là hoạt động thường xuyên hàng ngày không thể thiếu được, cá biệt đã có những cá nhân ủng hộ đất để xây dựng các công trình thể thao.
Đại bộ phận nhân dân sống ở nông thôn, nhất là đồng bào dân tôc thiểu số do vị trí địa lý, giao thông khó khăn, kinh tê nghèo nàn, nhận thức về xã hôi hóa thể dục thế thao còn rất yếu, coi hoạt động thế dục thể thao là của nhà nước Moi tổ chức hoạt động the dục thế thao đều phải trông chờ vào kinh phí của nhà nước
II/ KẾT QUẢ XÃ HỘI HOÁ THỂ DỤC THẺ THAO TỪ NĂM 1999 ĐẾN NAY:
1- Các loại hình tập luyện thể dục thể thao tỉnh Kon Tum:
+ Tập luyện thể dục thế thao bắt buộc: Đối tượng là học sinh, sinh viên lưc lượng vũ trang (kế cả dân quân tự vệ).
- Tỉnh Kon Tum có 285 trường học các cấp, với hon 130.000 học sinh đã có 253 trường dạy 2 tiết thế dục thế thao/tuần, 32 trường dạy 1 tiết thể duc thể thao/tuần, số học sinh đạt tiêu chuấn rèn luyện thân thế ngày càng tăng đến nay đã đạt gần 70%; ngoài ra việc tố chức tập luyện ngoại khóa thể dục thể thao trong nhà trường đã được nâng cao chất lượng, sổ đội tuyển thể thao của các trường ngày càng nhiều.
- Đối với cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang nhiệm vụ rèn luyên thân thể theo tiêu chuấn đã đi vào nề nếp, được thường xuyên kiểm tra, đảm bảo cho cán bô chiến sỹ có một thế lực tốt, sẵn sàng học tập, lao động, chiến đấu bảo vê tổ quốc. Các môn thế thao bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, điền kinh được duy trì thường xuyên, định kỳ to chức các giải, 3 môn thế thao quân sự phối hop chay vũ trang, võ thuật được huấn luyện định kỳ thi đấu và kiểm tra, trên 90% cán bô chiến sỹ đạt tiêu chuẩn chiến sỹ khỏe theo quy định.
+ Tập luyện thể dục thế thao tự giác: Đối tượng chính là công nhân viên chức và thanh thiếu niên.
- Đổi với cán bộ, công nhân viên chức do nhận thức rõ vai trò tác dụng của thế dục thể thao đồng thời là lực lượng có thu nhập ốn định, tập trung ở thi xã thi trấn các khu dân cư, điều kiện tập luyện tốt, nên số người tự giác rèn luyện thân thể đạt trên 50%; đơn vị, ngành và công đoàn các cấp thường xuyên, định kỳ tổ chức các giải thế thao.
- Đối với thanh thiếu niên: Những năm vừa qua, phong trào tập luyên thể dục thế thao tiếp tục được mở rộng, số lượng đoàn viên, thanh niên đạt tiêu chuẩn thanh niên khỏe gần 70%, các cơ sở Đoàn hàng năm đều tổ chức từ 2 - 3 giải thể thao. Phong trào thanh niên “Khỏe để lập nghiệp và giữ nước” được phát động tổ chức thường xuyên, đều đặn từ tỉnh đến cơ sở đã lôi cuốn được nhiều thanh niên tư giác tập luyện thể dục thể thao.
Tổ chức Hôi đồng Đội các cấp đã chủ động, tích cực tô chức nhiều hoạt động thể dục thể thao cho thiếu niên, nhi đồng đã thúc đẩy phong trào thế dục thế thao cơ sở.
- Các hoạt động thể dục thể thao đối với người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các tầng lớp tiểu thưong, tiếu chủ bắt đầu đã chú trọng, đầu tư nên phong trào từng bươc ổn định và phát triển. Nhiều câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh, câu lạc bộ thể dục thể thao hình thành và phát triển.
+ Đa dạng hóa các loại hình tập luyện thể dục thể thao:
- Loại hình thể dục thể thao công lập là cơ sở chính đế tố chức, tập luyện đào tao huấn luyện thi đấu các môn thể thao- chỉ đạo mọi hoạt động thể dục thể thao toan tỉnh gồm các cơ sở vật chất do ngành thể dục thể thao, nhà trường, lực lượng vũ trang quản lý.
- Loại hình thể dục thể thao bán công: Đa phần ở các cơ quan^ đơn vị, công ty xí nghiệp trích quỹ phúc lợi, xây dựng cơ sở vật chất cho đơn vị và các cá nhân tập luyện như sân quần vợt, bể bơi, nhà tập ...
- Loai hình tập luyện thể dục thể thao tư nhân: Là các cá nhân, gia đình có điều kiện hoặc nghe nghiẹp đầu tư mua sắm cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho viẹc tạp luyện thi đấu. Loại hình này có thu như: biza, bóng bàn, võ cố truyền, Vovinam Karatedo, Taekwondo, tập trung ở thị xã, thị trấn, khu dân cư tập trung.
- Loai hình câu lạc bộ thể dục thể thao: Đây là loại hoạt động của các nhóm người co cung sơ thích, nhu cầu, tập trung lại vào các buổi sáng, buổi chiều, ngày nghỉ ngày nhan rỗi để tập luyện và thi đấu thể thao. Gồm có ở các Hội người cao tuổi, câu lạc bộ bóng bàn, cơ tướng, cầu lông ...
Trong những năm qua với nhiều loại hình hoạt động, thể dục thế thao đã góp phần đáp ứng nhu cầu tập luyện của đông đảo các tâng lớp nhân dân.
2- Phối hợp, tổ chức thi đấu, tạo nguồn tài chính cho thể thao:
Sở Thể dục Thể thao đã ký liên tịch với 8 ngành phối hợp hoạt động thế dục thể thao là- Y tề, Giáo dục, Công an, Quân đội, Nông dân, Liên đoàn Lao động, Tinh Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM, Hội Người cao tuổi. Phối hợp tổ chức các giai thể thao các cuộc hội thao ở cấp các ngành của tỉnh. Tuy việc phối hợp còn nhiều lúng tung chưa có sơ kết tổng kết để đánh giá đúng những mặt đã làm được nhưng mặt chưa làm được, để kịp thời rút kinh nghiệm chỉ đạo.
Viêc huy động nguồn tài chính cho các hoạt động thể dục thể thao đã có nhung con rat khiem tốn, tổng số tiền huy động được từ các tổ chức cá nhân ủng hộ cho cac giải hội thao cấp tỉnh và khu vực trong 3 năm qua là 60 triệu đông (cà hiện vật) bình quân 20 triệu đông/năm.
- Do tác động tích cực của Nghị định 73/NĐ-CP của Chính phủ về xã hội hóa- diên tích đat va các công trình thể thao của các cơ quan đơn vị, tổ chức xã hội như sân bóng chuyên, sân quan vợt, san cau long... đa tang len đang ke, gop phan
làm tăng cơ sở vật chất phục vụ nhân dân tập luyện thể dục thể thao; các xã phường, thôn bản đã giành những khu đất phục vụ cho tập luyện, thi đấu thể thao
3- Tăng cuông nguồn lực phát triển thể dục thể thao:
Trong những năm qua ngành thể dục thể thao đã tích cực chủ động phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, chú trọng đến các môn thể thao dân tôc khai thác tiềm năng, nội lực của tỉnh, tuyển chọn các vận động viên từ cơ sở tham gia thi đấu các giải toàn quốc và khu vực như đội bóng đá hạng ba đội bóng chuyên A|, các môn võ đã đạt được một sô thành tích trong các giải toàn quốc va khụ vực; các vận động viên đêu rút từ phong trào cơ sở lên, khi có giải tập trung huấn luyện, thi đấu, kinh phí do nhà nước cấp.
4- Kết quả cụ thể về xã hội hóa thể dục thể thao tỉnh Kon Tum đến năm 2005:
- Số người tập luyện thể dục thế thao thường xuyên đạt 17%.
- Số hộ gia đình đạt gia đình thể thao 14%.
- 93,36% số trường học thực hiện giáo dục thể chất có nề nếp.
- 57,35% số trường thực hiện ngoại khóa thể dục thể thao.
- Hàng năm ngành thể dục thể thao cấp tỉnh tổ chức từ 15- 20 giải thể thao các sở ban ngành cấp tỉnh tố chức 16-18 giải thể thao, các huyện, thị tổ chức từ 50 - 60 giải thê thao, các xã, thôn tô chức hàng năm từ 1 - 3 giải thể thao.
- về thể thao thành tích cao: Từ năm 2003 - 2005 các đội tuyển của tỉnh thi đâu ở các giải khu vực và toàn quôc đạt 96 huy chương các loại (năm 2003 đạt 24 huy chương; năm 2004 đạt 30 huy chương; năm 2005 đạt 42 huy chương).
- Số vận động viên đươc phong cấp kiện tướng, vận động viên cấp I quốc gia: 57; đã có 10 vận động viên được Uỷ ban Thể dục Thể thao triệu tập vào các đội dự tuyến, tuyến trẻ quốc gia.
+ Số Hội thể thao đã được thành lập:
- Cấp tỉnh 03 Liên đoàn và 01 Hội: Liên đoàn Bóng chuyền, Liên đoàn Bóng đá, Liên đoàn Quần vọt và Hội Bóng bàn.
- Cấp huyện, ban ngành: Thành lập được 78 câu lạc bộ (có 18 câu lac bô đa môn và 60 câu lạc bộ một môn) chủ yếu như võ cố truyền, Karatedo, Taekvvondo Vovinam, quần vọt, bóng bàn, cờ tướng ...
5- Những mặt hạn chế về xã hội hóa của tỉnh Kon Tum:
- về nhận thức: Một số cấp ủỵ Đảng, chính quyền và một bộ phận quần chúng nhân dân chưa nhận thức rõ về xã hội hóa thể dục thể thao. Đại bô phân nhân dân nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa đời sống còn nhiều khó khăn.
- Cán bộ làm công tác thể dục thể thao toàn tỉnh còn thiếu nhất là ở cơ sở xã phường; lực lượng giáo viên thế dục the thao thiếu nhiều, tình trạng giáo viên lciêm nhiệm thể dục thể thao còn phổ biến.
- Cơ sở vật chất cho hoạt động thể dục thể thao hầu như chưa có gì.
- Các biện pháp tuyên truyền về thế dục thế thao chưa có hiệu quả, các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở chưa vào cuộc tuyên truyên vê công tác xã hội hóa thể dục thế thao.
- Viêc quy hoạch quỹ đất cho thể dục thể thao theo Chỉ thị 274/TTg của Thủ tướnơ Chính phủ đền nay chưa thực hiện được. Quỹ đất thể dục thể thao cho trương học còn thiếu nhiều, nhiều trường hiện nay không có sân bãi tập luyện.
- Kinh phí đầu tư cho thể dục thể thao quá ít, cấp xã khoảng 1 triệu đồng/năm cấp huyện bình quân 80 triệu đồng/năm, song đa sô huyện căt bót đi chỉ con 60 tnẹu 40 triệu, thậm chí có huyện chỉ còn 30 triệu đồng/năm.
_ Về các Hội các Liên đoàn thể thao hoạt động chủ yếu dựa vào số kinh phí ít ỏi của ngân sách câp.
- Về thể thao quần chúng: Tỷ lệ người tập luyện có tăng, song-còn thấp đặc biệt là đong bào ở vung sâu, vung xa. Các hình thức tập luyện thể dục thể thao còn đơn gian nghèo nàn, chưa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và^lứa^tuổi, các hoạt đọng the dục thể thao cơ sở còn mang tính tự phát, người xem đến sân giảm nhiều, các môn thể thao dân tộc chưa được quan tâm đúng mức.
về thể thao thành tích cao: Phát triển chưa vững chắc, thành tích không ốn định.
Tóm lại: Xã hội hóa thể dục thể thao tỉnh Kon Tum bước đầu đã đi vào đời sống xa họi va phát huy tác dụng tốt; Góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phat trỉen của phong trào thể dục thể thao toàn tỉnh trong những năm gần đây. Đặc biêt la phong trào thể dục thể thao quần chúng và tổ chức thi đấu thể thao, một số môn thê thao dân tộc được khoi phục duy tn va phat tnen.
6- Nguyên nhân của kết quả và hạn chế khi thực hiện xã hội hóa thế dục thể thao của tỉnh Kon Tum:
6.1- Nguyên nhân của kết quả:
- Được sư quan tâm chỉ đạo cua Đảng, chính quyền từ Trung uơng đến địa phương, nhiều Chi thị, Nghị quyết, pháp lệnh thể dục thể thao đã được ban hành và triển khai có hiệu quả.
- Sau hơn 20 năm cải cách và mở cửa nền kinh tế được phát triển đời sống nhân dân được nâng lên, thê dục thê thao đưọc coi la mon an tinh than khong the thiếu trong một bộ phận nhân dân.
- Sư cố gắng nhiệt tình của tất cả những người làm công tác thể dục thế thao và đội ngu cọng tac viên, vận động viên, cùng với sự ham thích thể thao của đông đảo quần chúng nhân dân.
- Bô máy tổ chức và năng lực hoạt động của một số tổ chức xã hội về thế dục thể thao (cac Liên đoàn, HỘI, câu lạc bộ the dục thể thao) đã có sự đối mới và phát huy tác dụng trong quá trình xã hội hóa.
- Sự phổi hợp của các ban ngành, đoàn thể trong việc tổ chức phát động phong trao thể dục thể thao toàn tỉnh và đầu tư cơ sở vật chất.
6.2- Nguyên nhân của hạn chế:
- Tuy có sự chuyển biến trong nhận thức, song nhiều nơi, nhiều cấp còn có quan niệm chưa đầy đủ về chủ trương xã hội hóa thế dục thê thao, còn cho răng xã hoi hoa thể dục thể thao chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân hoặc là khuyến khích các loại hình kinh doanh, dịch vụ thể dục thể thao. Chưa thấy hết nội du nơ rộng lớn của xã hội hóa thể dục thể thao là thay đổi phương thức quản lý va to chức hoạt động thể dục thể thao phù họp với cơ chế thị trường theo định hướng xa hội chủ nghĩa nhằm tạo điều kiện để đông đảo nhân dân được rèn luyện, hưởng thụ các giá trị của thê dục thê thao.
- Nguyên nhân cơ bản của các hạn chế là từ việc nhận thức và cơ sở lý luận về xã hội hóa thể dục thể thao còn chưa đầy đủ, còn trông chờ ỷ lại vào nhà nước còn khá phổ biến; Công tác quản lý hay nói rộng ra là phương thức thực hiện xã hoi hoa chưa đáp ưng nhu cầu phát triển. Xã hội hóa thể dục thể thao là một vấn đề mơi nen không Ít người (cả cán bộ thể dục thể thao) còn biểu hiện lệch lạc trong nhân thưc đoi với việc thực hiện chủ trương này. Hoặc xem xã hội hóa thể dục thể thao la biện pháp huy động sự đóng góp cua nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp...có nơi kinh tế xã hội khó khăn thì lại cho rằng xã hội hóa không thực hiện được tiếp tục trông chờ ỷ lại vào nhà nước.
- Công tác quản lý của ngành còn chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn.
Trước tình hình như vậy các cấp các ngành phải có những phương án, kế hoạch giai quyet khó khăn vướng mắc, từng bước tiến hành, huy động cho được nhiều nguồn lực trong xã hội tham già phát triển thể dục thế thao, có kế hoạch xây dựng nhân rộng các điến hình tiên tiên.
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA THỂ DỤC THỂ THAO TỈNH KON TUM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I/ QUAN ĐIỂM CHUNG:
1- Xã hôi hóa thể dục thể thao là quá trình tạo ra cơ chế, chính sách và điều kiện cần thiết huy động toàn xã hội chăm lo phát triển sự nghiệp thể dục thể thao.
2- Xã hội hóa thể dục thể thao là quá trình chuyển đổi phương thức quản lý, chuyển mọt phan cong việc của Nhà nươc cho nhân dân và các tổ chức kinh tế, tố chưc xã họi cùng tham gia, nhưng Nhà nước không giảm trách nhiệm, không giám ngan sach cho cac hoạt động thể dục thể thao. Thực chất, đó là quá trình kết họp giữa phương thức Nhà nươc và nhân dân cùng làm trong việc định hướng chung vê phát triển thể dục thể thao.
