Nghị quyết 33/2024/NQ-HĐND Thanh Hóa sửa đổi, bổ sung phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 33/2024/NQ-HĐND | Thanh Hóa, ngày 10 tháng 7 năm 2024 |
NGHỊ QUYẾT
Về việc sửa đổi, bổ sung phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết
số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017
của Hội đồng nhân dân tỉnh
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
KHÓA XVIII, KỲ HỌP THỨ 20
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ các Nghị định của Chính phủ: Số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 59/2024/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng;
Căn cứ Thông tư số 36/2006/TT-BVHTTDL ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ;
Xét Tờ trình số 141/TTr-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh; Báo cáo thẩm tra số 488/BC-VHXH ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Bổ sung 838 tên vào Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể như sau:
1. Tên địa danh (Tên một địa điểm, vùng đất nổi tiếng, có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của đất nước, của tỉnh Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534.
2. Từ có ý nghĩa tiêu biểu: 11.
3. Tên di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của tỉnh Thanh Hóa: 53.
4. Tên phong trào cách mạng (các sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của quốc gia, của tỉnh Thanh Hóa): 20.
5. Tên danh nhân: 220, trong đó:
a) Danh nhân đất nước: 18.
b) Danh nhân, nhân vật lịch sử được suy tôn tại Thanh Hóa: 202, trong đó:
- Danh nhân, nhân vật lịch sử là người ngoài tỉnh có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa: 07.
- Danh nhân, nhân vật lịch sử Thanh Hóa: 163.
- Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân: 31.
- Anh hùng lao động: 01.
(Chi tiết tại Phụ lục số I kèm theo)
Điều 2. Sửa đổi 22 tên tại phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh.
(Chi tiết tại Phụ lục số II kèm theo)
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Nghị quyết này và các quy định hiện hành của pháp luật tổ chức triển khai thực hiện.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc tổ chức triển khai, thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa khóa XVIII, kỳ họp thứ 20 thông qua ngày 10 tháng 7 năm 2024, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2024./
BỔ SUNG NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số: 33 /2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
(Tổng số: 838 tên các địa danh, sự kiện, danh nhân)
I. TÊN ĐỊA DANH (Tên một địa điểm, vùng đất nổi tiếng, có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của đất nước, của tỉnh Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534 địa danh.
1. Tên địa danh nổi tiếng của đất nước: 02 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Hàm Long | Hàm Long[1]: Tên một di tích cách mạng nổi tiếng, đây là nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên tại Việt Nam (gồm 7 người là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Đỗ Ngọc Du, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Cung và Nguyễn Tuân do đồng chí Trần Văn Cung (Quốc Anh) làm Bí thư) (tháng 03/1929) - tổ chức tiền thân của Đảng; sự ra đời của Chi bộ Cộng sản - Chi bộ 5D Hàm Long, Hà Nội là một hạt nhân tạo nên sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chấm dứt thời kỳ cách mạng trong tình trạng bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước; là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển của cách mạng cả nước trong đó có tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1959, địa chỉ này đã trở thành di tích lịch sử cách mạng kháng chiến của Hà Nội. Nay địa chỉ này thuộc di tích lịch sử cách mạng thuộc Bảo tàng Hà Nội. | Hàm Long | |
Sông Mã | Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km. Thanh Hóa là địa phận Sông Mã chạy qua theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ theo 2 nhánh (nhánh phía Nam vẫn gọi là sông Mã, nhánh phía Bắc gọi là sông Lèn) ở Lạch Hới (cửa Hới). Đây là con sông lớn, có tiềm năng lớn về phát điện; thực hiện nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho khoảng 27.355 ha đất nông nghiệp (của 7 huyện: Cẩm Thủy, Bá Thước, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa) và thực hiện chống lũ cho hạ du; Sông Mã có chiều dài chảy trên đất Thanh Hóa dài nhất, Sông Mã được ví là dòng sông hồn cốt của xứ Thanh. Hiện "Sông Mã" đã được dùng đặt tên cho một đại lộ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa là Đại lộ Nam Sông Mã. | Sông Mã |
2. Tên địa danh lịch sử - văn hóa của tỉnh Thanh Hóa[2]: 103 địa danh lịch sử - văn hóa
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Châu Lương Chánh | Châu Lương Chánh[3] tên châu cũ thuộc phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, châu Lương Chánh có 8 tổng (tổng Hoài Chính, tổng Quy Chính, tổng Thuận Chính, tổng Tòng Chính, tổng Tam Lô, tổng An Thọ, tổng Nhân Sơn, tổng Thiện Thổ), gồm 43 xã. | Lương Chánh | ||
Cồn Chân Tiên | Cồn Chân Tiên thuộc thành phố Thanh Hóa, tên một địa điểm khảo cổ học thuộc phường Thiệu Khánh; đây là địa chỉ khảo cổ đánh dấu sự mở đầu cho giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn ở Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chân Tiên | ||
Di chỉ Gò Trũng | Di chỉ Gò Trũng thuộc xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc. Di chỉ khảo cổ học Gò Trũng được phát hiện năm 1976, khai quật năm 1977. Niên đại khoảng gần 5.000 năm cách ngày nay, thuộc hậu kỳ đá mới và là di chỉ văn hóa tiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Đa Bút. | Gò Trũng | ||
Huyện Cổ Chiến | Huyện Cổ Chiến là tên gọi cũ của huyện Tĩnh Gia (nay thuộc thị xã Nghi Sơn), là tên gọi trước đây của Thanh Đô trấn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm 7 huyện, 3 châu (mỗi châu 4 huyện). Tĩnh Gia có tên gọi là huyện Cổ Chiến thuộc châu Cửu Chân. | Cổ Chiến | ||
Huyện Lôi Dương và Tổng Lôi Dương | Huyện Lôi Dương[4] tên huyện cũ thuộc phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Lôi Dương có 9 tổng (tổng Lôi Dương, tổng Kiên Thạch, tổng Nam Cai, tổng Thượng Cốc, tổng Bất Náo, tổng Tam Lộng, tổng Diên Hào, tổng Mục Sơn, tổng Bái Đô), gồm 177 xã, thôn, giáp, sở. | Lôi Dương | ||
Tổng Lôi Dương[5] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lôi Dương có 29 xã, thôn, giáp. | ||||
Huyện Mỹ Hóa | Huyện Mỹ Hóa[6] tên huyện cũ thuộc phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Mỹ Hóa có 4 tổng (tổng Dương Thủy, tổng Dương Sơn, tổng Lỗ Hương, tổng Đại Lý), gồm 78 xã, thôn, trang, sở. | Mỹ Hóa | ||
Huyện Quảng Tế và Tổng Quảng Tế | Huyện Quảng Tế[7] tên huyện cũ thuộc phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Quảng Tế có 5 tổng (tổng Quảng Tế, tổng Án Đổ, tổng Cổ Biện, tổng Trường Cát, tổng Phú Ổ), gồm 30 xã, trại. | Quảng Tế | ||
Tổng Quảng Tế[8] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quảng Tế có 8 xã, trại. | ||||
Huyện Thụy Nguyên | Huyện Thụy Nguyên[9] tên huyện cũ thuộc phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, huyện Thụy Nguyên có 8 tổng (tổng Mật Vật, tổng Phù Chẩn, tổng Yên Trường, tổng Phú Hà, tổng Thử Cốc, tổng Ngọc Lặc, tổng Phùng Thịnh, tổng Quảng Thi), gồm 131 xã, thôn. | Thụy Nguyên | ||
Huyện Tĩnh Gia | Huyện Tĩnh Gia nay thuộc thị xã Nghi Sơn. Năm Minh Mệnh thứ 19 (năm 1838), các huyện Ngọc Sơn, Nông Cống và Quảng Xương thuộc phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, toàn bộ huyện Ngọc Sơn trở thành huyện Tĩnh Gia. Ngày 22/4/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập thị xã Nghi Sơn và các phường thuộc thị xã Nghi Sơn trên cơ sở toàn bộ huyện Tĩnh Gia, thị xã Nghi Sơn được thành lập với 16 phường, 15 xã. | Tĩnh Gia | ||
Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường | Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường hay còn gọi với các tên khác như hành cung Vạn Lại, hành điện Vạn Lại đây là một địa danh thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa; là kinh đô của Đại Việt Nam triều nhà Lê trong giai đoạn Nam - Bắc triều phân tranh của hai họ Lê - Mạc. Tại đây, năm 1546, Trịnh Kiểm đã cho xây dựng hành điện, kinh đô tạm thời của triều đình và rước vua Lê về đó ở. Và cũng từ đó, thế Nam - Bắc triều được hình thành. Vạn Lại thực sự trở thành nơi đầu não của Nam triều trong một khoảng thời gian khá dài, đóng vai trò trung tâm của đời sống chính trị, văn hóa thời bấy giờ. Cả Vạn Lại và Yên Trường nay đều thuộc đất huyện Thọ Xuân ngày nay. | Vạn Lại - Yên Trường[10] | Đã đặt tên đường | |
Làng Đạt Tài | Làng Đạt Tài thuộc xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa. Đây là địa chỉ hoạt động cách mạng của Tố Hữu trong thời kỳ đồng chí chỉ đạo phong trào cách mạng của hai huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc; làng Đạt Tài cũng là làng được biết đến với nghề truyền thống - nghề mộc nổi tiếng đất nước. Làng cũng đã được Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng bằng có công với nước năm 2001. | Đạt Tài | ||
Tổng Án Đổ | Tổng Án Đổ[11] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Án Đổ có 5 xã. | Án Đổ | ||
Tổng An Thọ | Tổng An Thọ[12] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng An Thọ có 5 xã. | An Thọ | ||
Tổng Bái Đô | Tổng Bái Đô[13] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Bái Đô có 8 xã. | Bái Đô | ||
Tổng Bái Trạch | Tổng Bái Trạch[14] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Bái Trạch có 27 xã, thôn. | Bái Trạch | ||
Tổng Bất Náo | Tổng Bất Náo[15] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Bất Náo có 14 xã, thôn. | Bất Náo | ||
Tổng Bỉnh Bút | Tổng Bỉnh Bút[16] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Bỉnh Bút, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa có 9 xã, thôn, trang. | Bỉnh Bút | ||
Tổng Bỉnh Bút[17] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Bỉnh Bút, huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa có 6 xã. | ||||
Tổng Cao Mật và Làng Cao Mật | Tổng Cao Mật[18] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cao Mật có 13 xã, thôn. | Cao Mật | ||
Làng Cao Mật thuộc thôn 3, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc. Làng Cao Mật tên nôm là làng Giáng, đến thế kỷ XV có tên chữ là Cao Mật. Từ ngày 06 tháng 12 năm 2020, tên của thôn 3 được đổi thành khu phố Cao Mật - thị trấn Vĩnh Lộc. | ||||
Tổng Cao Vịnh | Tổng Cao Vịnh[19] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cao Vịnh có 16 xã, thôn. | Cao Vịnh | ||
Tổng Cao Xá | Tổng Cao Xá[20] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cao Xá có 26 xã, thôn. | Cao Xá | ||
Tổng Cổ Biện | Tổng Cổ Biện[21] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cổ Biện có 5 xã. | Cổ Biện | ||
Tổng Cổ Nam | Tổng Cổ Nam[22] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa). Tổng Cổ Nam có 5 xã. | Cổ Nam | ||
Tổng Cự Lữ | Tổng Cự Lữ[23] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Cự Lữ có 9 xã. | Cự Lữ | ||
Tổng Đặc Kiệt | Tổng Đặc Kiệt[24] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đặc Kiệt có 4 xã. | Đặc Kiệt | ||
Tổng Đại Bối | Tổng Đại Bối[25] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Đông Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đại Bối có 14 xã, thôn, trang. | Đại Bối | ||
Tổng Đại Lý và Làng Đại Lý | Tổng Đại Lý[26] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đại Lý có 19 xã, thôn, trang. | Đại Lý | ||
Làng Đại Lý có từ đầu thế kỷ XIX thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa. Năm 1900, đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Đại Lý thuộc tổng Đại Bối, huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng Đại Lý thuộc xã Liên Hoa, năm 1947, thuộc xã Đại Bái. Từ năm 1953 đến nay, làng Đại Lý thuộc xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. | ||||
Tổng Đăng Trường | Tổng Đăng Trường[27] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đăng Trường có 19 xã, thôn, sở. | Đăng Trường | ||
Tổng Diên Hào | Tổng Diên Hào[28] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Diên Hào có 24 xã. | Diên Hào | ||
Tổng Đô Bái | Tổng Đô Bái[29] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Tổng Đô Bái có 15 xã, thôn, ấp. | Đô Bái | ||
Tổng Đô Xá | Tổng Đô Xá[30] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đô Xá có 11 xã, thôn. | Đô Xá | ||
Tổng Đông Bạn | Tổng Đông Bạn[31] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đông Bạn có 11 xã, thôn, trang, phường. | Đông Bạn | ||
Tổng Đồng Xá | Tổng Đồng Xá[32] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đồng Xá có 21 xã, thôn, trang. | Đồng Xá | ||
Tổng Đông Yên | Tổng Đông Yên[33] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Đông Yên có 14 xã, thôn, sở. | Đông Yên | ||
Tổng Du Trường | Tổng Du Trường[34] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Du Trường có 15 xã, thôn, trang, sở. | Du Trường | ||
Tổng Dương Sơn | Tổng Dương Sơn[35] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Dương Sơn có 21 xã, thôn, trang. | Dương Sơn | ||
Tổng Dương Thủy | Tổng Dương Thủy[36] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Dương Thủy có 23 xã, thôn. | Dương Thủy | ||
Tổng Gia Dụ | Tổng Gia Dụ[37] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Gia Dụ có 8 xã. | Gia Dụ | ||
Tổng Hành Vĩ | Tổng Hành Vĩ[38] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Hành Vĩ có 18 xã, thôn. | Hành Vĩ | ||
Tổng Hòa Luật | Tổng Hòa Luật[39] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Hòa Luật có 11 xã. | Hòa Luật | ||
Tổng Hoài Chính | Tổng Hoài Chính[40] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Hoài Chính có 4 xã. | Hoài Chính | ||
Tổng Hữu Thuỷ | Tổng Hữu Thuỷ[41] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước). Tổng Hữu Thủy có 5 xã. | Hữu Thuỷ | ||
Tổng Kiên Thạch | Tổng Kiên Thạch[42] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Kiên Thạch có 22 xã. | Kiên Thạch | ||
Tổng La Miết | Tổng La Miết[43] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng La Miết có 22 xã, thôn. | La Miết | ||
Tổng Lạc Thiện | Tổng Lạc Thiện[44] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lạc Thiện có 20 xã, thôn, sở. | Lạc Thiện | ||
Tổng Lai Triều | Tổng Lai Triều[45] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lai Triều có 13 xã, thôn. | Lai Triều | ||
Tổng Lân Du | Tổng Lân Du[46] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc đất huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lân Du có 7 xã. | Lân Du | ||
Tổng Lãng Lăng | Tổng Lãng Lăng[47] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần đất huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lãng Lăng có 5 xã. | Lãng Lăng | ||
Tổng Lê Nguyễn | Tổng Lê Nguyễn thuộc các xã Đông Yên, Đông Khê, Đông Minh, Đông Thịnh, Đông Tiến, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn. Đây là tên một tổng của huyện Đông Sơn đầu thế kỷ XIX, đến năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) đổi tên thành tổng Thanh Hoa, sau đổi thành tổng Tuân Hóa. | Lê Nguyễn | ||
Tổng Liên Cừ | Tổng Liên Cừ[48] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hậu Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Liên Cừ có 16 xã, thôn, trang. | Liên Cừ | ||
Tổng Liên Trì | Tổng Liên Trì[49] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Liên Trì có 39 xã, thôn. | Liên Trì | ||
Tổng Lỗ Hương | Tổng Lỗ Hương[50] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Mỹ Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lỗ Hương có 15 xã, thôn, sở. | Lỗ Hương | ||
Tổng Lực Canh | Tổng Lực Canh[51] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Lực Canh có 4 xã. | Lực Canh | ||
Tổng Mật Vật | Tổng Mật Vật[52] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mật Vật có 26 xã, thôn, trang, giáp. | Mật Vật | ||
Tổng Mậu Lâm | Tổng Mậu Lâm[53] tên tổng cũ, một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mậu Lâm có 23 xã, thôn. | Mậu Lâm | ||
Tổng Mông Sơn | Tổng Mông Sơn[54] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mông Sơn có 10 xã. | Mông Sơn | ||
Tổng Mục Sơn | Tổng Mục Sơn[55] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Mục Sơn có 7 xã, thôn. | Mục Sơn | ||
Tổng Nam Bạn | Tổng Nam Bạn[56] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Nam Bạn có 15 xã, thôn. | Nam Bạn | ||
Tổng Nam Cai | Tổng Nam Cai[57] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Nam Cai, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hoá có 5 xã. | Nam Cai | ||
Tổng Nam Cai[58] cũng là tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Nam Cai, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân có 18 xã, thôn. | ||||
Tổng Ngọ Xá | Tổng Ngọ Xá[59] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Ngọ Xá có 15 xã, thôn. | Ngọ Xá | ||
Tổng Ngọc Động | Tổng Ngọc Động[60] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hoá, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Ngọc Động có 9 xã. | Ngọc Động | ||
Tổng Ngọc Xuyết | Tổng Ngọc Xuyết[61] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Ngọc Xuyết có 29 xã, thôn. | Ngọc Xuyết | ||
Tổng Như Lăng | Tổng Như Lăng thuộc huyện Như Xuân, là tên một tổng của châu Như Xuân, là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cầm Bá Thước trong phong trào Cần Vương chống Pháp. | Như Lăng | ||
Tổng Phi Lai | Tổng Phi Lai[62] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phi Lai có 19 xã, thôn, trang. | Phi Lai | ||
Tổng Phù Chẩn | Tổng Phù Chẩn[63] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phù Chẩn có 13 xã, thôn. | Phù Chẩn | ||
Tổng Phú Hà | Tổng Phú Hà[64] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phú Hà có 11 xã, thôn, trại. | Phú Hà | ||
Tổng Phú Ổ | Tổng Phú Ổ[65] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Quảng Tế, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phú Ổ có 5 xã. | Phú Ổ | ||
Tổng Phùng Thịnh | Tổng Phùng Thịnh[66] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Phùng Thịnh có 14 xã, thôn, trang, giáp. | Phùng Thịnh | ||
Tổng Quan Hoàng và Chợ Quan Hoàng | Tổng Quan Hoàng[67] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quan Hoàng có 14 xã, thôn. | Quan Hoàng | ||
Chợ Quan Hoàng thuộc huyện Vĩnh Lộc. Đây là chợ quê truyền thống có từ khá lâu đời ở vùng đất giáp ranh hai huyện Cẩm Thủy và Vĩnh Lộc đã từng được dân gian gần, xa của xứ Thanh ví gọi là chợ tình của người Mường - Việt. | ||||
Tổng Quân Nhân | Tổng Quân Nhân là tên một tổng của châu Như Xuân, là địa bàn hoạt động của nghĩa quân trong phong trào Cần Vương chống Pháp. | Quân Nhân | ||
Tổng Quân Nhân[68] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc châu Thường Xuân, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thường Xuân). Tổng Quân Nhân có 7 xã. | ||||
Tổng Quang Chiêm | Tổng Quang Chiêm[69] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quang Chiêm có 4 xã. | Quang Chiêm | ||
Tổng Quang Chiếu | Tổng Quang Chiếu[70] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phần lớn huyện Đông Sơn và thành phố Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quang Chiếu có 19 xã, thôn. | Quang Chiếu | ||
Tổng Quảng Thi | Tổng Quảng Thi[71] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quảng Thi có 26 xã, thôn. | Quảng Thi | ||
Tổng Quy Chính | Tổng Quy Chính[72] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Quy Chính có 6 xã. | Quy Chính | ||
Tổng Sa Lung | Tổng Sa Lung[73] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Sa Lung có 5 xã. | Sa Lung | ||
Tổng Sóc Sơn và Làng Sóc Sơn | Tổng Sóc Sơn[74] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Sóc Sơn có 6 xã, thôn. | Sóc Sơn | ||
Làng Sóc Sơn thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, là quê hương của Trịnh Kiểm. Ông là một tướng tài giúp vua Lê dẹp Mạc thành công nên được phong chức Đại tướng quân, Lưỡng Quốc công và Thượng tướng Thái Quốc công. Trịnh Kiểm đã có công tạo ra hình thái Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Vua Lê - Chúa Trịnh và ổn định chính trị, mở rộng bờ cõi, tổ chức thi cử kén chọn nhân tài, phát triển kinh tế nông nghiệp, mở rộng giao lưu buôn bán, tạo nên 12 đời Chúa giúp vua điều hành đất nước tạo nên thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788). | ||||
Tổng Tam Lô | Tổng Tam Lô[75] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Tam Lô có 5 xã. | Tam Lô | ||
Tổng Tam Lộng | Tổng Tam Lộng[76] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Tam Lộng có 30 xã, thôn. | Tam Lộng | ||
Tổng Thạch Giản | Tổng Thạch Giản[77] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nga Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thạch Giản có 20 xã, thôn. | Thạch Giản | ||
Tổng Thanh Xá và Làng Thanh Xá | Tổng Thanh Xá[78] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thanh Xá có 7 xã, thôn, trang. | Thanh Xá | ||
Làng Thanh Xá thuộc xã Tân Dân trước năm 1945 thuộc phủ Ngọc Sơn, tổng Sen Trì (Liên Trì). Làng Thanh Xá là một trong sáu làng của Tân Dân lúc bấy giờ, nay làng Thanh Xá có tên gọi là tổ dân phố Thanh Minh. | ||||
Tổng Thiện Thổ | Tổng Thiện Thổ[79] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thiện Thổ có 5 xã. | Thiện Thổ | ||
Tổng Thiết Ống | Tổng Thiết Ống[80] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thiết Ống có 6 xã. | Thiết Ống | ||
Tổng Thủ Chính | Tổng Thủ Chính thuộc huyện Quảng Xương từ sau đời Đồng Khánh (1888) cho đến trước năm 1945, nay thuộc các xã Quảng Lưu, Quảng Giao, Quảng Lộc, Quảng Lợi, Quảng Thạch, Quảng Nham, Quảng Chính, Quảng Trung. | Thủ Chính | ||
Tổng Thử Cốc | Tổng Thử Cốc[81] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Yên Định và huyện Ngọc Lặc) . Tổng Thử Cốc có 22 xã, thôn, trang. | Thử Cốc | ||
Tổng Thủ Hộ | Tổng Thủ Hộ[82] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Quảng Xương). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thủ Hộ có 28 xã, thôn, sở. | Thủ Hộ | ||
Tổng Thuận Chính | Tổng Thuận Chính[83] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thuận Chính có 4 xã. | Thuận Chính | ||
Tổng Thượng Bạn | Tổng Thượng Bạn[84] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thượng Bạn có 16 trang, giáp. | Thượng Bạn | ||
Tổng Thượng Cốc | Tổng Thượng Cốc[85] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Thượng Cốc có 25 xã, thôn. | Thượng Cốc | ||
Tổng Tòng Chính | Tổng Tòng Chính[86] tên tổng cũ, là một trong tám tổng thuộc châu Lương Chánh, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Lang Chánh). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Tòng Chính có 9 xã. | Tòng Chính | ||
Tổng Trạc Nhật | Tổng Trạc Nhật[87] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Trạc Nhật có 16 xã. | Trạc Nhật | ||
Tổng Trung Bạn | Tổng Trung Bạn[88] tên tổng cũ, là một trong bốn tổng thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hà Trung). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Trung Bạn có 25 xã, thôn. | Trung Bạn | ||
Tổng Tự Cường | Tổng Tự Cường[89] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Tự Cường có 11 xã, trại. | Tự Cường | ||
Tổng Từ Minh | Tổng Từ Minh[90] tên tổng cũ, là một trong năm tổng thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Từ Minh có 14 xã, thôn. | Từ Minh | ||
Tổng Tuần La | Tổng Tuần La[91] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Tuần La có 34 xã, thôn, phường, giáp. | Tuần La | ||
Tổng Vân Lung | Tổng Vân Lung[92] tên tổng cũ, là một trong sáu tổng thuộc huyện Thạch Thành, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Thạch Thành). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vân Lung có 6 xã. | Vân Lung | ||
Tổng Vận Quy | Tổng Vận Quy[93] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phần lớn huyện Đông Sơn và thành phố Thanh Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vận Quy có 18 xã, thôn. | Vận Quy | ||
Tổng Vân Tập và Làng Vân Tập | Tổng Vân Tập là tên tổng cũ, ra đời cuối thế kỷ XIX, là một trong 5 tổng của huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Tổng Vân Tập có 6 xã. | Vân Tập | ||
Làng Vân Tập thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ đời Vua Đồng Khánh (1885-1888) thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa. Năm 1900 đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Vân Tập thuộc tổng Đại Bối, huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng Vân Tập thuộc xã Liên Hoa, năm 1947 thuộc xã Đại Bái. Từ năm 1953 đến nay, làng Vân Tập thuộc xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | ||||
Tổng Vạn Thiện | Tổng Vạn Thiện[94] tên tổng cũ, một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vạn Thiện có 23 xã, thôn. | Vạn Thiện | ||
Tổng Vân Trai | Tổng Vân Trai[95] tên tổng cũ, là một trong chín tổng thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Cẩm Thủy, huyện Bá Thước và một phần huyện Quan Hóa). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vân Trai, huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa có 10 xã. | Vân Trai | ||
Tổng Vân Trai[96] cũng là tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia có 31 xã, thôn, giáp, tộc. | ||||
Tổng Văn Trinh | Tổng Văn Trinh[97] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Tổng Văn Trinh có 27 xã, thôn. | Văn Trinh | ||
Tổng Văn Trường | Tổng Văn Trường[98] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Văn Trường có 43 xã, thôn, giáp. | Văn Trường | ||
Tổng Văn Xá và Làng Văn Xá | Tổng Văn Xá[99] tên tổng cũ, là một trong mười hai tổng thuộc huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Nông Cống và một phần huyện Như Xuân). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Văn Xá có 28 xã, thôn, giáp. | Văn Xá | ||
Làng Văn Xá thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thế kỷ XIX. Trước năm 1945, làng Văn Xá thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Văn Xá thuộc xã Trần Hưng Đạo, huyện Quảng Xương. | ||||
Tổng Viễn Chiếu | Tổng Viễn Chiếu thuộc huyện Đông Sơn. Trước năm 1945, năm Bảo Đại thứ 3 (1928), tổng Quang Chiếu đổi tên thành tổng Viễn Chiếu. | Viễn Chiếu | ||
Tổng Yên Thái | Tổng Yên Thái[100] tên tổng cũ, là một trong bảy tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thị xã Nghi Sơn). Theo Đồng Khánh địa dư chí, tổng Yên Thái có 47 xã, thôn, trang. | Yên Thái |
3. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa: 429 tên.
3.1. Huyện Bá Thước: 16 địa danh.
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bản Kình Lộng | Bản Kình Lộng là một trong những địa danh ghi dấu hoạt động và chiến thắng quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Nơi đây, vào năm Tân Sửu (1421) người con thứ của Lê Lai là Lê Lộ từng tham gia các trận đánh ở sách Ba Lẫm, ải Kình Lộng đánh bại Trần Trí được thăng là Tả Trung Quân Tổng đốc Chư quân sự. Bản Kình Lộng nay thuộc xã Điền Lư, huyện Bá Thước. | Kình Lộng | |
Chợ Vạn Cha | Chợ Vạn Cha nay thuộc làng Cha, xã Thiết Kế, huyện Bá Thước, chợ bên bờ sông Mã. Chợ là địa điểm (trạm) đón tiếp bộ đội, dân công tham gia chiến dịch Điện Biên. | Vạn Cha | |
Đèo Úng Ải | Đèo Úng Ải là đèo nằm trên địa bàn giao nhau giữa Mường Ống và Mường Ai xưa, nay là nơi tiếp giáp giữa hai xã Ban Công và xã Thiết Ống, huyện Bá Thước. Đây là địa danh gắn liền với hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc chiến chống quân Minh xâm lược. Cuối năm 1421, tham tướng Minh là Trần Trí cất 10 vạn quân, bao gồm cả quân viễn chinh người Minh và ngụy binh từ Đông Quan tiến vào Thanh Hóa đánh quân Lam Sơn; cuộc giao chiến giữa nghĩa quân của Lê Lợi và quân Minh diễn ra ở đèo Úng Ải, quân Minh đại bại. Trần Trí cùng tàn quân thoát chết, rút lui. | Úng Ải | |
Dốc Bàn Đào | Dốc Bàn Đào thuộc địa phận Điền Lư, Điền Quang, huyện Bá Thước. Một địa bàn động - sách ở miền núi phía Tây Thanh Hóa. Đây là địa điểm mà các nhà sử học xác định là địa điểm Mường Đào - Nơi đây từng là thành trì trong cuộc chiến chống quân Lương giữ nước Vạn Xuân. Vào thế kỷ thứ VI (năm 545), Trần Bá Tiên mang binh lực lớn từ ngoài Bắc tiến vào, để bảo toàn lực lượng, Lý Thiên Bảo (anh trai của vua Lý Nam Đế) đã rút quân về khu vực rừng núi phía Tây Ái Châu (Mường Đào) để xây dựng thành trì chống lại nhà Lương. Hiện nay ở gần Điền Lư, Điền Quang, trên con đường chính đi ngược về phía Cành Nàng (thị trấn huyện Bá Thước) vẫn còn cái dốc mang tên là dốc Bàn Đào. | Bàn Đào | |
Đồi Lai Láng | Đồi Lai Láng thuộc huyện Bá Thước. Đây là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn. Từ thời xa xưa, vị trí này đều có tên gọi liên quan đến quá trình khai thác kim loại quý, đặc biệt là vàng. Tại địa điểm này, trong truyền thuyết ghi chép nơi xuất hiện khí cụ người Mường gọi cây Chu Đá, lá Chu Đồng - hình tượng cây Chu Đá, lá Chu Đồng là biểu trưng của công cụ kim loại đồng do con người mới phát hiện ra[101]. Lê Lợi đã từng đứng ở vị trí cây Chu Đá trên đỉnh đồi Lai Láng để quan sát quân giặc đóng ở đồn Quan Da. Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, dân Mường Muồn đã dựng lên ngôi đền thờ vua Lê ở trên đỉnh đồi Lai Láng. | Lai Láng | |
Hang Niên Kỷ | Hang Niên Kỷ là hang nằm giữa xã Văn Nho và xã Kỳ Tân thuộc huyện Bá Thước, căn cứ chống Pháp của Hà Văn Nho, Tống Duy Tân lãnh đạo. | Niên Kỷ | |
Hồ Duồng Công | Hồ Duồng Công thuộc xã Điền Hạ, huyện Bá Thước, là công trình thủy lợi lớn được xây dựng năm 1961. Hồ được ví như một “Vịnh Hạ Long” thu nhỏ của Bá Thước. Hồ có diện tích mặt hồ 57 ha, độ sâu 40 m. Từ trên cao nhìn xuống Duồng Công là một bức tranh sơn thủy hữu tình. Nơi đây có nhiều dãy núi có độ cao 1.000 m kéo dài, có nhiều hang động rất đẹp in bóng xuống mặt hồ. Cảnh sắc thiên nhiên nguyên sơ cùng những nét văn hóa truyền thống của cư dân bản địa biến Duồng Công trở thành một điểm hấp dẫn khách du lịch. | Duồng Công | |
Làng Tráng | Làng Tráng thuộc xã Lâm Xa, huyện Bá Thước. Tại làng Tráng, năm 1984, trong cuộc điều tra khảo cổ miền Tây tỉnh Thanh Hóa, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một loạt hang động cổ sinh hóa thạch và qua các đợt khai quật nhiều hiện vật được xác định là công cụ của “chủ nhân” văn hóa Sơn Vi muộn, kéo dài đến văn hóa Hòa Bình. Năm 2013, hang Làng Tráng được công nhận Di tích khảo cổ học theo Quyết định số 4788/QĐ-UBND ngày 31/12/2013. | Làng Tráng | |
Mường[102] Ai | Mường Ai thuộc xã Hạ Trung, huyện Bá Thước, là vùng Mường cổ của người Mường Trong được nhắc đến nhiều trong sử thi Đẻ đất, đẻ nước. | Mường Ai | |
Mường Khô | Mường Khô thuộc huyện Bá Thước là Điền Lư ngày nay. Đây là vùng đất cổ với dấu vết của nền văn hóa Sơn Vi. Vùng đất này lưu giữ nhiều dấu tích văn hoá của người Mường, trong đó có lễ hội Mường Khô gắn với Quận Công Khâm sai Chánh thống lãnh Thượng đạo trấn Thanh Hóa Hà Công Thái - là người có công lao rất lớn đối với vương triều Nguyễn. | Mường Khô | |
Mường Khoòng | Mường Khoòng thuộc huyện Bá Thước, là Mường cổ của người Thái, tên hành chính là tổng Cổ Lũng, quê hương của danh nhân Hà Thọ Lộc - là đại thần có công giúp nhà Lê Trung Hưng thời chiến tranh Lê - Mạc trong lịch sử Việt Nam. | Mường Khoòng | |
Mường Khôông | Mường Khôông[103] (xã Lương Nội xưa) thuộc tổng Sa Lung. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 có tên là xã Quý Lương. Năm 1964 chia xã Quý Lương thành 3 xã (Lương Nội, Lương Trung, Lương Ngoại). Đây là địa danh có từ xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mường Khôông | |
Mường Ống | Mường Ống thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước ngày nay, là Mường cổ của người Mường Trong được nhắc đến nhiều trong sử thi Đẻ đất, đẻ nước. | Mường Ống | |
Núi Bù Mộng | Núi Bù Mộng thuộc xã Điền Thượng, huyện Bá Thước. Đây là một trong những địa danh gắn với sự kiện chiến thắng Bù Mộng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra tháng 11 năm 1420. | Bù Mộng | |
Thác Hiêu | Thác Hiêu thuộc địa phận xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước. Thác nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, có phong cảnh đẹp thác nước, núi rừng, bản làng kết hợp với nhau thành không gian cảnh quan sơn thủy hữu tình. Với thắng cảnh đẹp, Thác Hiêu là địa danh được nhiều người biết đến, đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan. | Thác Hiêu | |
Trại Ba Lẫm | Trại Ba Lẫm thuộc Chiềng Lẫm, xã Điền Lư, huyện Bá Thước. Đây là căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn trong những năm 1420 - 1423 do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo. Theo sử sách cho biết, tháng 12/1420, Lê Lợi tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm thuộc huyện Lỗi Giang (vùng Quan Hóa, Bá Thước). Tại thôn Chiềng Lẫm còn lưu truyền sự tích cây mít buộc voi của nhà vua (Cân mịt tanh voi). | Ba Lẫm |
3.2. Thị xã Bỉm Sơn: 04 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Cầu Chuyên Gia | Cầu Chuyên Gia thuộc khu phố 3, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tên gọi quen thuộc, đã in sâu vào tiềm thức của Nhân dân thị xã Bỉm Sơn; vị trí bên cạnh khu tập thể các chuyên gia của nhà máy xi măng Bỉm Sơn đã sinh sống và làm việc. | Chuyên Gia | |
Cầu Đo Đạc | Cầu Đo Đạc thuộc phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, cầu vượt qua suối Đo Đạc, nối đường Trần Phú, tên gọi quen thuộc đã in sâu vào tiềm thức của Nhân dân thị xã Bỉm Sơn. | Đo Đạc | |
Chùa Trạch Lâm | Chùa Trạch Lâm thuộc thị xã Bỉm Sơn (chùa Khánh Quang). Theo sử sách cũ thì ngôi chùa được kiến trúc vào khoảng thế kỷ XVII do bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và là Chính Phi của Chúa Trịnh Tráng xây dựng. Ngôi chùa hiện nay không còn nữa mà chỉ còn là những hồi âm trên sách vở… Nhưng nhờ vào chính sách Tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ, ngôi chùa Khánh Quang được xây dựng lại một cách quy mô, linh thiêng và thành kính trên một khu đồi, gần nền chùa cũ, ngõ hầu thoả mãn cuộc sống tâm linh của con người luôn hướng về cái thiện… Chùa Trạch Lâm đã được đón tiếp Chuyết Công Hòa thượng (1590 - 1644) pháp hiệu là Chuyết Chuyết, người đời Minh - Trung Quốc và cùng đệ tử thân tín là Thiền Sư Minh Hành (1595 - 1659) sang thuyết pháp ở Việt Nam. Vào khoảng năm 1630, Minh Hành theo sư phụ từ vùng Quảng Nam - Thuận Hóa ra Thăng Long (Hà Nội) đã dừng chân trụ trì tại chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa. Sau đó Chuyết Chuyết Thiền sư chuyển về trụ trì tại chùa Ninh Phúc (Bắc Ninh). Năm 1644, Chuyết Chuyết Hòa thượng viên tịch. Nhục thân của Ngài được đặt trong khám tại chùa Bút Tháp. | Trạch Lâm | |
Xã Hà Lan | Xã Hà Lan tên một đơn vị hành chính cấp xã cũ thuộc thị xã Bỉm Sơn. Đất Hà Lan[104] xưa thuộc vùng Kẻ Gạo - làng Gạo là một làng Việt cổ. Xã Hà Lan có đình làng Gạo - nơi thờ Tô Đại Liêu tôn Thần, Thái úy Tô Hiến Thành - Thượng đẳng phúc thần. Tên địa danh người dân đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Ngày 01/12/2019, xã Hà Lan được sáp nhập vào phường Đông Sơn theo Nghị quyết số 786/NQUBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa. | Hà Lan |
3.3. Huyện Cẩm Thủy: 03 địa danh.
3.4. Huyện Đông Sơn: 16 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Cầu Ngọc Khê | Cầu Ngọc Khê là tên cổ của cầu bắc qua sông nhà Lê, thuộc địa phận làng Ngọc Tích, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây là cây cầu đẹp trước mặt di tích cấp tỉnh Đền Cả - Đế Thích. Hiện vẫn còn lưu giữ được văn bia mô tả về cầu. | Ngọc Khê | |
Đình làng Minh Thành | Đình làng Minh Thành, đây là ngôi đình nổi tiếng, nơi thờ vị thần Cao Sơn đại vương, duệ hiệu là Chiêu hiền phổ tế thượng đẳng tối linh thần đại vương do các triều đại phong kiến phong tặng, thuộc xã Đông Quang, huyện Đông Sơn. Đình làng Minh Thành được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2017. Đình hiện là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của Nhân dân trong vùng, địa điểm đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Minh Thành | |
Kẻ[107] Bôn | Kẻ Bôn thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây là vùng đất cổ được hình thành và phát triển từ rất sớm, nằm ở trung tâm của huyện Đông Sơn và cũng gần như trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã. Kẻ Bôn bao gồm 4 làng (Tứ Bôn): Phúc Triền, Ngọc Tích, Kim Bôi và Quỳnh Đôi. Một địa danh có những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể nổi tiếng. | Kẻ Bôn | |
Kẻ Mơ | Kẻ Mơ (làng Mai Chữ)[108] là tên làng cổ có trước năm 1945, thuộc tổng Quang Chiếu, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Từ năm 1953, thuộc xã Đông Nam, huyện Đông Sơn, tên địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kẻ Mơ | |
Kẻ Rủn | Kẻ Rủn[109] là tên gọi từ thời xưa của xã Đông Khê, huyện Đông Sơn. Thời Lê - Nguyễn thuộc tổng Thạch Khê gồm các làng: Làng Rủn, Tam Xuyên, Bắc Giáp, Phù Khê, Phù Bình. Vùng đất Kẻ Rủn rồi đến làng Rủn, cùng thời với tên gọi các vùng cư dân lân cận như Kẻ Bôn, Kẻ Rỵ, Kẻ Chè… Từ năm Gia Long thứ 7 (1808), lỵ sở huyện Đông Sơn chuyển về làng Rủn cho tới năm Minh Mệnh thứ 4 (1823). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kẻ Rủn | |
Làng Mai Xuyên | Làng Mai Xuyên thuộc xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, là tên làng cổ thuộc tổng Lê Nguyễn. Theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Mai Xuyên[110] là một trong 16 xã, thôn thuộc tổng Tuân Hóa, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. | Mai Xuyên | |
Làng Ngọc Lậu | Làng Ngọc Lậu là một làng cổ, thuộc xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn. Theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Ngọc Lậu[111] là một trong 16 xã, thôn thuộc tổng Tuân Hóa, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây là nơi diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ V của Đảng bộ huyện Đông Sơn vào ngày 07/01/1959 tại đình làng Ngọc Lậu. | Ngọc Lậu | |
Kẻ Lậu (thôn Ngọc Lậu) trước thuộc xã Doãn Xá, về sau thuộc xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, là tên làng cổ chứa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa. | |||
Làng Quan Đức | Làng Quan Đức thuộc tổng Thạch Khê, nay là làng Trường Xuân, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, là tên một làng cổ. | Quan Đức | |
Làng Quỳnh Bôi | Làng Quỳnh Bôi là tên làng cổ thuộc Cổ Bôn xưa, theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Quỳnh Bôi[112] là một trong 16 xã, thôn thuộc tổng Thanh Khê, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Nơi đây có núi Quỳnh (một danh sơn được ghi trong sử sách), dưới chân núi có đền thờ Bạch Vân Sơn Thần (Thần Cáo Bạch phù giúp Đăng Quận Công Nguyễn Khải đánh thắng quân nhà Mạc) và phủ Mẫu đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh. | Quỳnh Bôi | |
Làng Triệu Tiền | Làng Triệu Tiền thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, quê hương của tướng quân Thiều Thốn - một nhân vật nổi tiếng dưới thời Trần mà sử sách cũ ghi chép và ca ngợi. | Triệu Tiền | |
Làng Xích Lộ | Làng Xích Lộ thuộc xã Đông Nam, huyện Đông Sơn. Nơi đây đã đi vào ca dao lưu truyền cho đến ngày nay: Ao Vạn Lộc, dọc Đồng Pho, chùa Mao Xá, đá Núi Nhồi, vôi Xích Lộ, cỗ Chợ Mới. | Xích Lộ | |
Làng Xuân Lưu | Làng Xuân Lưu thuộc tổng Quảng Chiếu, hiện nay trở thành phố Xuân Lưu, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn. Ở đây có đình Xuân Lưu được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 25/01/2019, là nơi sinh hoạt văn hóa, nơi hội họp việc làng, đồng thời cũng là nơi thờ thần hoàng làng. Hiện nay trong đình làng có thờ Trung Quốc tôn thần (con trai Hoàng đế Lê Ngọc) và thờ hai vị Hậu thần là: Thái Bảo Quận công Nguyễn Đình Thuần và Thống đốc Chi binh Vũ Bá Trác. | Xuân Lưu | |
Xã Ngọc Bôi | Xã Ngọc Bôi đổi thành xã Kim Bôi, nay là làng Kim Bôi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Đây là tên xã cổ thuộc Cổ Bôn xưa, năm Minh Mạng thứ V (1824). | Ngọc Bôi | |
Xã Ngọc Đôi | Xã Ngọc Đôi thuộc Cổ Bôn xưa, là tên xã cổ thuộc làng Ngọc Tích, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Năm Minh Mạng thứ V (1824) xã Ngọc Đôi đổi thành xã Ngọc Tích. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử cấp tỉnh như: Đình Ngọc Tích, đền Cả, đền thờ các quận công họ La, đền thờ tiến sĩ Cao Cử. | Ngọc Đôi | |
Xã Phù Liễn | Xã Phù Liễn là tên một xã cổ, thuộc tổng Thạch Khê, nay thuộc xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn. | Phù Liễn | |
Xã Phúc Thọ | Xã Phúc Thọ là tên xã thuộc Cổ Bôn xưa. Năm Minh Mạng thứ V (1824), xã Phúc Thọ đổi thành xã Phúc Triền, nay là làng Phúc Triền, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn. Nơi đây có di tích cấp quốc gia đền thờ Nguyễn Văn Nghi - Thầy dạy của hai đời Vua thời Lê Trung Hưng. | Phúc Thọ |
3.5. Huyện Hà Trung: 14 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Làng Đông Bình | Làng Đông Bình, trước có tên là Đông Đô, theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Đông Bình[113] là 1 trong 16 xã, thôn thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đông Bình | |
Làng Kim Sơn | Làng Kim Sơn[114] là làng có từ xa xưa, trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Kim Âu, tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ Thiệu Thiên, đến năm 1954 chuyển về xã Ngọc Âu, huyện Hà Trung, nay thuộc xã Hà Đông, huyện Hà Trung. Tại làng Kim Sơn có đình làng được nhiều người biết đến, hiện đình làng Kim Sơn đã được công nhận di tích cấp tỉnh[115]. Địa danh Kim Sơn là địa danh Nhân dân vẫn quen dùng từ xưa đến nay, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kim Sơn | |
Làng Ngọc Đới | Làng Ngọc Đới, trước là Bảo Đới, tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn. Đến cuối thế kỷ XIII, làng Ngọc Đới[116] thuộc vùng đất xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Đới | |
Làng Tâm Quy | Làng Tâm Quy là một làng cổ, theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Tâm Quy[117] là một trong 15 xã, thôn thuộc tổng Nam Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay thuộc xã Hà Tân, huyện Hà Trung. Làng Tâm Quy là địa điểm lịch sử mà lão tướng Đô Dương và cừ súy bảo tướng quân Chu Bá (tướng của Hai Bà Trưng) chặn đánh quân Mã Viện, gây cho địch nhiều tổn thất (vào năm 40 đầu Công nguyên). Tâm Quy trong thời kỳ cách mạng 1930 - 1945 cũng là một địa chỉ đỏ có nhiều cuộc họp quan trọng của Tỉnh ủy được tổ chức bí mật tại đây. | Tâm Quy | |
Làng Yên | Làng Yên hay gọi là Yên Thôn là làng có từ lâu đời. Theo Đồng Khánh địa dư chí, làng Yên[118] vốn là 1 trong 14 xã, thôn, sở của huyện Nga Sơn; thời kỳ năm 1945, được chuyển về huyện Tống Sơn, nay thuộc xã Hà Hải, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làng có di tích đình làng Yên, chùa Long Yên được công nhận di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 716/QĐ-VHTT ngày 12/11/2002. | Làng Yên | |
Phố Cừ | Phố Cừ nơi có Cầu Cừ, nay thuộc xã Yên Dương (Hà Dương cũ), huyện Hà Trung. Tên địa danh người dân đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phố Cừ | |
Phố Gũ | Phố Gũ thuộc xã Lĩnh Toại (Hà Phú cũ), huyện Hà Trung. Tên địa danh người dân đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phố Gũ | |
Thôn Thổ Khối | Thôn Thổ Khối thuộc xã Hà Dương, huyện Hà Trung, là nơi có vị trí trọng yếu cả về thế công lẫn thế thủ, được Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lựa chọn làm địa điểm lui binh chiến lược trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta lần thứ 2 (1285). Ông đã mưu trí, quyền biến tổ chức cuộc rút lui tài tình từ Thiên Trường vào Thanh Hóa, bảo vệ và đưa hai Vua cùng bộ chỉ huy quân sự nhà Trần về ẩn náu tại Thổ Khối. Trong thời gian tại đây, ông chiêu mộ quân lương, ngày đêm tập luyện binh sĩ, chờ đợi thời cơ. Đến tháng 5/1285, nhận thấy thời cơ phản công đã đến, ông cùng các tướng lĩnh kéo quân ra bắc, làm nên chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương... đưa cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai toàn thắng. | Thổ Khối | |
Thôn Tiên Hòa | Thôn Tiên Hòa thuộc Thanh Xá, xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung, là địa danh tiêu biểu cho phong trào đấu tranh ngăn chặn tình trạng tăng thuế tùy tiện thời kỳ 1930-1945 trên địa bàn huyện Hà Trung. | Tiên Hòa | |
Thôn Trang Các | Thôn Trang Các hay còn gọi là thôn Kim Trang là nơi có chùa Trang Các, tên một thôn cũ nằm trong tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc. Đầu thế kỷ XX được chuyển về huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Từ năm 1954, thuộc xã Hà Phong, huyện Hà Trung. Nay vùng đất thuộc thị trấn Hà Trung. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Trang Các | |
Thôn Yến Vĩ | Thôn Yến Vĩ [119] là một trong 16 thôn, xã thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung. | Yến Vĩ | |
Trang Hoàng Vân | Trang[120] Hoàng Vân[121] có từ thế kỷ XIX đời vua Gia Long, là một trong 16 thôn, xã thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay thuộc vùng đất xã Hà Long, huyện Hà Trung. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân[122]. | Hoàng Vân | |
Xã Hà Yên | Xã Hà Yên [123] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, là vùng đất thuộc thôn An Xá, xã Lãng Vinh và thôn Đình Trung thuộc xã Bùi Xá, tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Từ năm 1945 -1954, thuộc xã Hoạt Giang, huyện Hà Trung. Tên xã Hà Yên có từ năm 1954 đến nay. Xã Hà Yên nay là xã Yên Dương, huyện Hà Trung, xã có đặc sản mắm tép tiến Vua nổi tiếng được nhiều người biết đến đồng thời trên địa bàn xã có đình Trung được xếp hạng kiến trúc nghệ thuật Quốc gia đã trở thành một điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Địa danh Hà Yên đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hà Yên | |
Xã Kim Âu | Xã Kim Âu, có từ năm Tự Đức thứ 14 (1861) vì kiêng đồng âm tên húy Triệu Tổ Nguyễn Kim nên đổi là Ngọc Âu, là một trong những xã của tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa. Đầu thế kỷ XX được chuyển về huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Sau năm 1954 thuộc vùng đất xã Hà Ngọc và Hà Đông. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kim Âu |
3.6. Huyện Hậu Lộc: 34 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Ấp Hoa Lạc | Ấp Hoa Lạc thuộc xã Phong Lộc, huyện Hậu Lộc. Ngày đầu thời kỳ lập làng, lập ấp tên là “Ấp Hoa Lạc”. Sau nhiều thập kỷ, ấp “Hoa Lạc” được đổi tên là “Phù Lạc” tồn tại đến nay. | Hoa Lạc | ||
Cầu Nam Khê | Cầu Nam Khê là cầu vượt qua kênh De thuộc địa phận huyện Hậu Lộc. Cầu Nam Khê có từ lâu đời, địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nam Khê[124] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Chợ Choàng | Chợ Choàng thuộc xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc. Chợ được mở từ đời vua Thành Thái, là một trong ba chợ lớn nhất tỉnh Thanh Hóa lúc bấy giờ: Nhất chợ Bản (Yên Định), nhì chợ Hoàng (Nga Sơn), ba chợ Choàng (Hậu Lộc). Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chợ Choàng | ||
Chợ Dầu | Chợ Dầu thuộc địa phận làng Do Trung, nay là thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, là một trong những chợ lớn của huyện Hậu Lộc, với nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng, có nhiều đặc sản vùng biển. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chợ Dầu | ||
Chợ Phủ | Chợ Phủ thuộc huyện Hậu Lộc, chợ có từ thời nhà Lý, chợ đặt ở lỵ phủ Hà Trung (cũ) nên được gọi là chợ Phủ. Chợ có bốn cái đình to vừa là nơi thờ cúng, vừa làm nơi họp chợ. Hiện nay chợ được xây dựng khang trang, phục vụ nhu cầu mua bán hàng ngày của Nhân dân các xã quanh vùng của hai huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chợ Phủ | ||
Đình Phong Mục | Đình Phong Mục là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2010, thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc. Địa danh được nhiều người biết đến, quen thuộc với Nhân dân trong vùng, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phong Mục | ||
Đường Tam Quan | Đường Tam Quan thuộc huyện Hậu Lộc, đường vào mộ ba ông tướng họ Lý (dưới chân núi Tùng), thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tam Quan | ||
Kênh 2/9 | Kênh 2/9 thuộc huyện Hậu Lộc. Kênh đưa nước từ mương Mười Xã về sông Trà Giang, qua sông nước xanh rồi đổ ra sông Lạch Trường, tiêu úng cho các vùng đồi và một số xã vùng màu của huyện Hậu Lộc. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kênh 2/9 | ||
Kênh De | Kênh De thuộc huyện Hậu Lộc, kênh chảy theo hướng Bắc - Nam nối liền sông Lèn, nhận lũ của sông Lèn đổ ra sông Lạch Trường. Là đường giao thông thủy quan trọng cho tàu thuyền trong huyện và ngoài huyện. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kênh De | ||
Kỳ Đà | Kỳ Đà thuộc xã Phong Lộc, huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của làng Kỳ Sơn, (gồm thôn Kỳ Sơn, thôn Chùa ngày nay). Tên Kỳ Đà có từ thời vua Lê Thánh Tông năm (1460). Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Kỳ Đà đổi tên thành làng Kỳ Sơn. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kỳ Đà | ||
Làng Bồ Điền | Làng Bồ Điền nay là làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc. Nơi đây, từ thế kỷ thứ III là căn cứ của Bà Triệu chống quân Đông Ngô xâm lược. Bà Triệu cùng ba tướng họ Lý, là người làng Phú Điền đã chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt trên mảnh đất này. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bồ Điền | ||
Làng Bùi | Làng Bùi ở xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, là làng cổ có lịch sử hình thành và phát triển hơn một nghìn năm. Làng có nghề rèn truyền thống nổi tiếng và hệ thống di tích tiêu biểu như nghè làng Bùi. Năm 2015, nghè làng Bùi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 345/QĐ-UBND ngày 30/1/2015. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Làng Bùi | ||
Làng Do Trung | Làng Do Trung tên làng của thị trấn Hậu Lộc cũ, có từ rất lâu đời, nơi đây nổi tiếng có nhiều dưa, cảnh quan đẹp, thanh bình. Nhân dân làng Do Trung có truyền thống cách mạng. Làng có ông Bùi Vơn là một trong năm thành viên sáng lập ra Huyện ủy Hậu Lộc, có hai người làm Bí Thư Tỉnh ủy Thanh Hóa là ông Bùi Đạt và ông Hoàng Văn Hiều. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Do Trung | ||
Làng Hoành Trung | Làng Hoành Trung[125], trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, gồm 8 xóm thuộc tổng Liên Cừ, từ năm 1954 đến nay là xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc. Đây là làng có từ xa xưa đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hoành Trung | ||
Làng Kẻ Ghì | Làng Kẻ Ghì thuộc xã Phong Lộc, huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của làng Kỳ Sơn. Tên Kẻ Ghì có từ thế kỷ XII - XIII. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kẻ Ghì | ||
Làng Kiến Long | Làng Kiến Long thuộc xã Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Đặc biệt làng có nghè làng Kiến Long - nơi thờ Đại càn quốc gia Nam hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần. Năm 2018, nghè được công nhận là di tích lịch sử theo Quyết định số 415/QĐ-UBND ngày 30/01/2018. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kiến Long | ||
Làng Phú Nhi | Làng Phú Nhi thuộc xã Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc, tên làng cổ đồng thời là tên cụm di tích cách mạng được xếp hạng là di tích cấp tỉnh năm 1998. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Nhi | ||
Làng Sơn | Làng Sơn thuộc xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 có tên là Tất Tác Sơn, là một trong các làng lớn của xã Tiến Lộc, tọa lạc ở trung tâm xã, có lịch sử hình thành cách đây trên dưới một ngàn năm. Làng có nghề rèn truyền thống nổi tiếng và hệ thống di tích tiêu biểu như đình làng Sơn. Năm 2019, đình làng Sơn được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 25/1/2019. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Làng Sơn | ||
Làng Xuân Hội | Làng Xuân Hội thuộc xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc có lịch sử ra đời hàng trăm năm. Làng được hình thành từ Hoa Thị Trang - địa danh khi mới khai canh lập làng, đến đầu triều Nguyễn có tên là làng Xuân Hội. Là một làng cổ chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Đặc biệt làng có nghè làng Xuân Hội được công nhận là di tích lịch sử theo Quyết định số 415/QĐ-UBND ngày 30/01/2018. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Xuân Hội | ||
Ngõ Bồ Ngòn | Ngõ Bồ Ngòn thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Bồ Ngòn | ||
Ngõ[126] Chùa | Ngõ Chùa thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Chùa | ||
Ngõ Củi | Ngõ Củi thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Củi | ||
Ngõ Liễu | Ngõ Liễu thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Liễu | ||
Ngõ Mạc | Ngõ Mạc thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Mạc | ||
Ngõ Nang | Ngõ Nang thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Nang | ||
Ngõ Nhãn | Ngõ Nhãn thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Nhãn | ||
Ngõ Nhồi | Ngõ Nhồi thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Nhồi | ||
Ngõ Thị | Ngõ Thị thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Thị | ||
Ngõ Y Môn | Ngõ Y Môn thuộc huyện Hậu Lộc, tên 10 ngõ cổ của các làng, xã Triệu Lộc cũ. Địa danh có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngõ Y Môn | ||
Sông Trà Giang | Sông Trà Giang thuộc huyện Hậu Lộc, là con sông được đào từ thời Tiền Lê, chảy theo hướng Bắc Nam, nối sông Lèn ở đập Lộc Động, xã Phong Lộc với sông Ấu ở ngã ba Ghềnh (xã Mỹ Lộc) của Hậu Lộc. Là công trình thủy lợi tiêu nước lớn nhất trong huyện, vừa dự trữ nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Trà Giang | ||
Thôn Hanh Cát | Thôn Hanh Cát thuộc xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Tên gọi cũ của thôn ở xã Liên Thành, quê Mẹ Tơm nhân vật đã đi vào bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hanh Cát | ||
Trận địa Đông Ngàn | Trận địa Đông Ngàn thuộc huyện Hậu Lộc, gắn với Trung đội dân quân gái Hoa Lộc, đơn vị anh hùng trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại miền Bắc với thành tích 3 lần bắn rơi máy bay Mỹ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đông Ngàn | ||
Xã Châu Lộc | Xã Châu Lộc thuộc huyện Hậu Lộc, là tên gọi có từ xa xưa, là xã vùng bán sơn địa phía cực tây của huyện Hậu Lộc, cách trung tâm huyện lỵ 13 km. Năm 2019, thực hiện Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Châu Lộc sáp nhập với xã Triệu Lộc. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Châu Lộc | ||
Xã Văn Lộc | Xã Văn Lộc là tên xa xưa của xã nằm về phía Tây Nam của huyện Hậu Lộc, cách trung tâm thị trấn 4km về phía Nam. Năm 2019 xã Văn Lộc sáp nhập với xã Thuần Lộc thành xã Thuần Lộc. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Văn Lộc |
3.7. Huyện Hoằng Hóa: 09 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Cầu Đông Lưu | Cầu Đông Lưu là cầu vượt qua sông Chu nối giữa hai xã Hoằng Đông và xã Hoằng Lưu thuộc huyện Hoằng Hóa. | Đông Lưu[127] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Làng Phượng Mao | Làng Phượng Mao thuộc xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa. Trước đây có tên gọi là Tuấn Mau, làng được hình thành từ thế kỷ XV, thời Lê sơ, do hai vị tướng có công giúp vua Lê dẹp giặc, đó là Lê Công Trinh và Lê Công Phụ được nhà vua ban đất ở đây để khai dân, lập ấp và được ban 36 đạo sắc phong, hiện nay còn lưu giữ 23 đạo sắc. Đến thời Nguyễn, làng có tên là Phượng Mao, xã Cẩm La, tổng Lỗ Hương, huyện Mỹ Hóa. Làng có một số công trình văn hóa tâm linh được nhân dân lưu truyền qua nhiều thế hệ, đó là đình, nghè thờ Lê Công Trinh, Lê Công Phụ, hiện nay còn có văn chỉ và 23 sắc phong. Tháng Hai (Âm lịch) hằng năm, Nhân dân trong làng lại tổ chức mở hội tế hai vị thần đã có công giúp vua Lê đánh giặc. | Phượng Mao | ||
Làng Vĩnh Gia | Làng Vĩnh Gia[128] thời Lý gọi là Cổ Đô xã, rồi Nhân Cõi khu, làng Cuội; đầu thời Nguyễn đã có tên thôn Vĩnh Gia[129], xã Lỗ Hương thuộc tổng Lỗ Hương, nay thuộc xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa. Làng có những di tích lịch sử khá nổi tiếng như chùa Vĩnh Phúc Tự (hay còn gọi là chùa Gia); nghè thờ Tam vị Đại vương (Tô Hiến Thành, Trần Khát Chân và Tôn Thành Hoàng làng) được công nhận di tích cấp tỉnh. Nghè Vĩnh Gia, hiện còn lưu giữ được nhiều câu đối và nhiều đạo sắc phong vua ban cho tam vị đại vương được thờ tại nghè và 1 tấm bia đá là những tư liệu, hiện vật quý giá. Đây là địa danh được Nhân dân trong và ngoài tỉnh biết đến, tên Vĩnh Gia đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Vĩnh Gia | ||
Làng Cự Đà | Làng Cự Đà thuộc xã Hoằng Minh trước đây và nay là Hoằng Đức, huyện Hoằng Hóa, là nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Hoằng Hóa, làng đã được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Bằng có công với nước năm 2002. | Cự Đà | ||
Làng Hạ Vũ | Làng Hạ Vũ thuộc xã Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa. Là địa chỉ cách mạng, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước làng Hạ Vũ là pháo đài bảo vệ phía đông cầu Hàm Rồng, cầu Tào, cầu Cách, xí nghiệp đóng thuyền, dép lốp, kho lương thực và Ủy ban hành chính huyện đóng trên địa bàn làng Hạ Vũ. Làng được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Bằng có công với nước năm 2001. | Hạ Vũ | ||
Làng Liên Châu | Làng Liên Châu thuộc xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, nơi có phong trào Việt Minh trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 rất mạnh, làng Liên Châu được coi là “chiếc nôi của cách mạng” ở huyện Hoằng Hóa, là nơi quân Nhật và chính quyền tay sai 05 lần đưa quân về đàn áp và đều bị đánh bại, góp phần làm nên thắng lợi của khởi nghĩa giành chính quyền huyện Hoằng Hóa ngày 24/7/1945 sớm nhất cả tỉnh. Làng được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Bằng có công với nước năm 1964. | Liên Châu | ||
Làng Phúc Tiên | Làng Phúc Tiên[130], làng có từ xa xưa, trước có tên gọi là Thượng Thọ, trước Cách mạng tháng 8 -1945, làng Phúc Tiên là một trong 4 làng thuộc xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Dương Thủy, nay thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa. Hiện làng có đình làng Phúc Tiên được Nhân dân trong và ngoài tỉnh biết đến, đình được xây dựng vào năm 1826, thờ Đô thống tướng quân Lê Phụng Hiểu. Năm 2017, đình được công nhận là di tích lịch sử theo Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 20/01/2017. | Phúc Tiên | ||
Làng Trọng Hậu | Làng Trọng Hậu còn được biết đến với tên cổ là Kẻ Trọng, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa. Làng có lịch sử hình thành từ rất sớm nên chứa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa, trong đó có ngôi đình làng Trọng Hậu xây dựng từ thời Nguyễn - nơi tôn thờ Thành Hoàng làng Lê Phụng Hiểu. Đây là một trong những ngôi đình còn giữ được nhiều giá trị kiến trúc đặc sắc thời Nguyễn. Năm 2015, đình được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 345/QĐ-UBND ngày 30/1/2015. | Trọng Hậu | ||
Làng Trù Ninh | Làng Trù Ninh[131] (Vạn Ninh, Trù Thôn) thuộc xã Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa, là vùng đất cổ được hình thành cách đây khoảng 500 năm, có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa. Hằng năm vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán làng tổ chức lễ hội đua thuyền truyền thống. Làng còn có đền, chùa làng Trù Ninh được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2002. Đây là cụm di tích là một quần thể kiến trúc các di tích bao gồm: Đền thờ Cao Sơn thờ Cao Sơn Thượng Đẳng Thần, chùa Bái Ninh thờ Phật, phủ Mẫu theo Quyết định số 69/QĐ-VHTT ngày 8/2/2002. | Trù Ninh |
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Bản Chiềng Chải | Bản Chiềng Chải là một địa danh có từ thời cổ xưa, trước thuộc xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, từ năm 1991 được sáp nhập vào thị trấn Lang Chánh[132]. Bản Chiềng Chải là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chiềng Chải | ||
Động Giao Lão | Động Giao Lão thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh. Thời Lê thuộc động Giao Lão, thời Nguyễn thuộc Mường Nang, tổng Thiên Thổ, châu Lang Chính. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, có tên là Giao An. Giao Lão là địa danh gắn với hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn. | Giao Lão | ||
Đường Bảo Ninh Lương | Đường Bảo Ninh Lương theo sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: Bảo Ninh Lương ở xã Mỹ Chánh, châu Lang Chánh. Năm Minh Mạng thứ 18, quân Kinh Lý đến địa phương này đóng quân phòng thủ, sau khi giặc cướp tạm yên, rút quân về tỉnh, bèn dùng bảo này làm lỵ sở của châu. Bảo Ninh Lương xưa, nay thuộc xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh kề với trung tâm thị trấn huyện Lang Chánh hiện nay. | Bảo Ninh Lương[133] | Đã đặt tên đường | |
Làng Mường Khạt | Làng Mường Khạt thuộc xã Đồng Lương, huyện Lang Chánh, thời Nguyễn thuộc tổng Quy Chánh, châu Lương Chính. Đây là địa danh lịch sử có Thung Voi nơi diễn ra các trận chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn (thế kỷ XV). Nơi tìm thấy bia hộp nói về hoạt động của danh tướng Đinh Bị trong khởi nghĩa Lam Sơn. | Mường Khạt | ||
Xã Mường Chính | Xã Mường Chính, huyện Lang Chánh trước đây gồm 4 xã. Địa danh này là một trong những địa danh diễn ra trận đánh lớn của nghĩa quân Lam Sơn. Năm 1419 trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân đã đóng ở Hà Sơn rồi mai phục sẵn ở Mường Chính để diệt giặc. | Mường Chính[134] | Đã đặt tên đường | |
Xã Quang Hiến | Xã Quang Hiến có từ thời Tây Sơn, thuộc đất Mường Chính, tổng Tuỳ Chính, châu Lương Chính. Xã Quang Hiến được Chính phủ quyết định tách ra từ xã Quyết Thắng vào tháng 6 năm 1966. Quang Hiến xưa kia là vùng đất trung tâm của châu Lang Chánh, là xã Mỹ Chánh xưa, có Mường Chánh hay Mường Tầm là một Mường lớn làm nền tảng cho việc thành lập châu Lang Chánh sau này. Vùng đất này đã từng in dấu chân của Lê Lợi cùng tướng quân Lê Thạch (cháu Lê Lợi) và nghĩa quân Lam Sơn. Hón Oi - nơi vẫn lưu truyền có 12 cửa trạm mà Lê Lợi đã dấu quân, luyện tập binh mã chiến đấu chống giặc Minh xâm lược. | Quang Hiến[135] | Đã đặt tên đường | |
Xã Văn Hiến | Xã Văn Hiến là tên xã trước đây, thời Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn, vùng đất Quang Hiến ngày nay thuộc đất Mường Chính, tổng Tuỳ Chính, châu Lương Chính. Từ năm Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) thuộc xã Mỹ Chánh, tổng Tuỳ Chính, châu Lang Chánh. Sau đó là hai xã: Vinh Quang và Văn Hiến. Tháng 8 năm 1951 sáp nhập ba xã: Vinh Quang, Văn Hiến và Trí Nang để thành lập xã Quyết Thắng (trang 105, 106 Địa chí huyện Lang Chánh). | Văn Hiến[136] | Đã đặt tên đường |
3.9. Huyện Mường Lát: 04 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bản Đoàn Kết | Bản Đoàn Kết thuộc xã Tén Tằn, huyện Mường Lát; sau khi xã Tén Tằn sáp nhập vào thị trấn Mường Lát vào năm 2019, hiện nay đổi tên thành khu phố Đoàn Kết - thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tên một bản của đồng bào Khơ Mú. | Bản Đoàn Kết[137] | |
Bản Mường Púng | Bản Mường Púng thuộc xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh có từ xưa, nay là Bản Pùng (thuộc Mường Púng xưa) thuộc xã Quang Chiểu. | Mường Púng | |
Bản Mường Sim | Bản Mường Sim nay thuộc Bản Sim, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh từ xưa. | Mường Sim | |
Bản Sài Khao | Bản Sài Khao nằm ở độ cao hơn 1.500 mét so với mực nước biển, trong những tháng năm kháng chiến oai hùng, chính bản làng nghèo này là nơi Trung đoàn Tây Tiến hành quân ghé ngang và gửi giấc mộng nhớ thương cho người nơi hậu phương. Vùng đất này đến nay vẫn lưu giữ những dấu tích mà bộ đội Tây Tiến khi dừng chân, lập căn cứ đã để lại. | Sài Khao |
3.10. Huyện Nga Sơn: 27 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Cầu Lạch Sung | Cầu Lạch Sung là cầu vượt qua sông Lèn nối giữa 02 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc. | Lạch Sung[138] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Cầu Thanh Bình | Cầu Thanh Bình là cầu vượt qua sông nối giữa huyện Nga Sơn và Hậu Lộc. | Thanh Bình[139] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Đình Chí Đức | Đình Chí Đức: Tên một ngôi đình, thuộc huyện Nga Sơn, là căn cứ cách mạng đây là nơi diễn ra Đại hội chi bộ xã Nga Thanh lần thứ I, lần thứ II, lần thứ III và lần thứ IV. Đình Chí Đức được xếp hạng di tích lịch sử cách mạng năm 2009. | Chí Đức | ||
Đình làng Hậu Trạch | Đình làng Hậu Trạch thuộc xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, ngôi đình được xây dựng vào thời “Đại Nam Thành Thái ngũ niên” năm Quý Tỵ (1893) cao, to, đẹp nhất nhì nước Đại Nam thuở ấy. Được vua cho phép xây 5 bậc đá (Phép này chỉ dành riêng cho làng có quan đầu triều. Cả nước chỉ có 2 ngôi đình được phép như vậy). | Hậu Trạch | ||
Đình Mậu Thịnh | Đình Mậu Thịnh thuộc địa phận làng Mậu Thịnh, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1886-1887) ngôi đình là một trong những căn cứ thuộc hệ thống các căn cứ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Ba Đình, đình Mậu Thịnh trở thành một căn cứ hội họp, đóng quân và tích trữ lương thực của nghĩa quân Ba Đình. | Mậu Thịnh | ||
Đình Mỹ Khê | Đình Mỹ Khê thuộc địa phận làng Mỹ Khê, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1886 -1887) ngôi đình là một trong những căn cứ thuộc hệ thống các căn cứ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. | Mỹ Khê | ||
Làng Chiêm Ba | Làng Chiêm Ba[140] là tên làng cổ, làng được hình thành cách đây trên 500 năm, trước là một trong 23 xã, thôn thuộc tổng Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Vạn Chiêm (xưa) huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung cũ, nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chiêm Ba | ||
Làng Chính Đại | Làng Chính Đại[141], đây là làng có từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, là 1 trong 3 làng thuộc xã Kiên Giáp, tổng Tân Phong, nay là xã Nga Điền, huyện Nga Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chính Đại | ||
Làng Đậu Nguyên | Làng Đậu Nguyên thuộc xã Nga Mỹ cũ (nay là thị trấn Nga Sơn), huyện Nga Sơn. Theo lịch sử làng có tên ban đầu là làng Đậu Ngoại, thành lập từ thế kỷ thứ XV với các dòng họ Trần, sau đó là họ Mai, họ Nguyễn. | Đậu Nguyên | ||
Làng Đông Kinh | Làng Đông Kinh là tên làng cổ, thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, trong làng có nghè Đông thờ Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, làng có lễ hội truyền thống tổ chức vào ngày 14/2 âm lịch. | Đông Kinh | ||
Làng Hồ Đông | Làng Hồ Đông thuộc xã Nga Thành, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Hồ Đông là cửa ngõ phía Đông Bắc của xã, phải chịu nhiều cuộc càn quét của địch, đặc biệt là cuộc càn quét với quy mô lớn của địch diễn ra vào ngày 26/3/1953. Nhân dân trong làng vốn có truyền thống yêu nước, căm thù giặc đã cùng với dân quân, du kích, bộ đội dũng cảm kiên cường chặn đánh quyết liệt các cuộc càn quét của địch. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, có 106 thanh niên nam, nữ trong làng đã tham gia bộ đội, thanh niên xung phong, có 11 người con là liệt sỹ, 5 thương binh; Nhân dân trong làng được tặng thưởng 47 huân, huy chương các loại. | Hồ Đông | ||
Làng Hồ Nam | Làng Hồ Nam thuộc xã Nga Thành, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Hồ Nam nằm trên trục đường mà địch từ Điền Hộ, Mai An Tiêm kéo quân vào Liên Sơn (xã Nga Liên ngày nay), do đó Nhân dân trong làng thường xuyên bị địch cướp phá nhà cửa, hoa màu. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Nhân dân trong làng đã tiễn hàng chục thanh niên tham gia bộ đội chiến đấu trên khắp các chiến trường. Kết thúc hai cuộc kháng chiến, Nhân dân trong làng được nhà nước tặng thưởng 84 huân, huy chương các loại. | Hồ Nam | ||
Làng Hợp Long | Làng Hợp Long[142] là làng được hình thành từ xa xưa, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc tổng Cao Vịnh, sau là một trong 4 làng thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn. Hiện tại làng có một ngôi nghè thờ Thành Hoàng làng Đoàn Dương Tử (Đoàn Dưỡng Dục) nghè được nhiều người biết đến. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hợp Long | ||
Làng Mại Đức | Làng Mại Đức thuộc xã Nga Hưng cũ, huyện Nga Sơn. Năm 1831-1832 đời vua Minh Mạng thứ XI chia nước ta làm 31 tỉnh thuộc chính quyền Trung ương. Làng Mại Đức được xác lập trên bản đồ hành chính với 8 xóm: Xóm Rù, xóm Câu, xóm Vạn, xóm Đồng, xóm Sâu, xóm Nghè, xóm Bề, xóm Độn. Làng có 6 dòng họ lớn cùng sinh sống: Họ Dương Đình, họ Nguyễn Văn, họ Nguyễn Hữu, họ Mai Văn, họ Phạm Văn, họ Trịnh. | Mại Đức | ||
Làng Mật Kỳ | Làng Mật Kỳ thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trong làng có nghè Tam Biểu (vì dân làng phải ba lần làm biểu tấu vua xin đất và kinh phí xây dựng lại Nghè do Nghè cũ bị cháy, lần thứ ba mới được vua chuẩn tấu) thờ ông Đoàn tây tổ chức vào ngày 15/2 âm lịch. | Mật Kỳ | ||
Làng Mậu Xuân | Làng Mậu Xuân thuộc tổng Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Vạn Chiêm (xưa), nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, trước đây Nhân dân trong làng hay gọi là làng Mậu hay phủ Mậu. Theo sách tên làng xã Việt Nam cuối thế kỷ XIX thì tổng Mậu Lâm được gọi từ thời Lê Sơ (1428-1527). Như vậy tên làng Mậu Xuân đã có cách đây hơn 600 năm. | Mậu Xuân | ||
Làng Ngưu Sơn | Làng Ngưu Sơn thuộc xã Nga An, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ được đặt từ khoảng năm 1880. | Ngưu Sơn | ||
Làng Thành | Làng Thành thuộc xã Nga Thành, huyện Nga Sơn, nơi có di tích lịch sử, cách mạng đình làng Thành theo Quyết định số 3250/QĐ-UBND ngày 31/10/2005. | Làng Thành | ||
Làng Thổ Hoàng | Làng Thổ Hoàng thuộc tổng Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa), nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, đây là tên làng cổ. Trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Nhân dân trong làng đã tích cực đào hầm, hào giao thông, đồn lũy dọc theo con kênh ở phía tây làng, xuống núi Thúc để trú ẩn, làm đường hào vận chuyển lương thực và chi viện cho căn cứ Ba Đình. | Thổ Hoàng | ||
Làng Trung Điền | Làng Trung Điền thuộc xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, làng có từ năm đầu công nguyên do ông Mai An lập ra và ông được phong là Thành Hoàng làng, được Nhân dân trong làng thờ phụng. | Trung Điền | ||
Làng Vân Hoàn | Làng Vân Hoàn thuộc xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, là một làng cổ, bệnh viện dã chiến trong kháng chiến chống Pháp của huyện Nga Sơn đóng tại đình làng Vân Hoàn. | Vân Hoàn | ||
Làng Văn Lâm | Làng Văn Lâm thuộc tổng Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa), nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nhân dân làng Văn Lâm có 350 người tham gia bộ đội, chiến đấu ở các chiến trường, được Nhà nước tặng thưởng 125 huân, huy chương các loại cho Nhân dân trong làng. | Văn Lâm | ||
Làng Xa Loan | Làng Xa Loan thuộc tổng Mậu Lâm (trước 1945), sau 1945 thuộc xã Tùng Lâm (xưa) nay là xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, là tên làng cổ, làng ra đời cách đây hàng nghìn năm (từ thời Đinh, Lý). | Xa Loan | ||
Làng Xuân Đài | Làng Xuân Đài thuộc xã Nga Thủy, huyện Nga Sơn. Tại đây có đền thờ Trần Hưng Đạo còn gọi là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng năm 1860 (thời vua Tự Đức). Vào năm Bảo Đại nhị niên (1927), đền được xây dựng lại trên khu đất trung tâm làng Xuân Đài, xã Nga Thủy. Đền được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2004. | Xuân Đài | ||
Núi Giá | Núi Giá thuộc làng Điền Hộ, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, là căn cứ đồn tiền tiêu của khởi nghĩa Ba Đình có chức năng như trạm quan sát thông tin nằm cách khu căn cứ trung tâm núi Thúc khoảng 800m. | Núi Giá | ||
Núi Thúc | Núi Thúc thuộc làng Điền Hộ, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, là khu căn cứ trung tâm, là vị trí trọng yếu của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Nơi đây từng diễn ra các trận chiến đấu ác liệt giữa nghĩa quân Ba Đình và thực dân Pháp, nơi ghi dấu những chiến công vang dội của nghĩa quân Ba Đình trong lịch sử đồng thời là nơi hội họp tụ nghĩa, nơi tập hợp sức mạnh của các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh. | Núi Thúc | ||
Thôn Thượng Thọ | Thôn Thượng Thọ thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, được thành lập vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) do ông Nguyễn Hữu Đài cùng một số người khác lập nên. Nơi đây là căn cứ của đồn Thượng trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình (do vị trí làng xung quanh có những lũy tre vây kín, phù hợp thành luỹ, vì vậy trở thành kiến trúc quân sự của căn cứ Ba Đình). Đồn Thượng do lãnh binh Nguyễn Viết Toại chịu trách nhiệm. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1886 -1887) Thượng Thọ là một trong những căn cứ thuộc hệ thống các căn cứ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Thượng Thọ trở thành một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất trong thời kỳ Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX của cả nước. | Thượng Thọ |
3.11. Thị xã Nghi Sơn: 74 địa danh
3.12. Huyện Ngọc Lặc: 05 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Châu Ngọc[151] | Châu Ngọc, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Trước năm 1900 thuộc Mường Chẹ, sau thuộc tổng Yên Trường và 2/3 tổng Quảng Trị thuộc phủ Thiệu Hóa, huyện Thụy Nguyên. Châu Ngọc là tên gọi vùng đất chủ yếu của huyện Ngọc Lặc ngày nay. | Châu Ngọc | |
Làng Ngọc Châu | Làng Ngọc Châu, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước đây gọi là làng Bống thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, là quê hương của Lê Hiểm, một công thần khai quốc triều Hậu Lê, có đóng góp vào thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn. Hiện nay, đền thờ vẫn còn dấu vết ở làng Thành Sơn (làng Giác, xã Kiên Thọ) vùng đất này còn là nơi lưu truyền huyền thoại về "Chúa Lam Sơn" và nghĩa quân Lam Sơn, trong đó có huyền thoại về thanh gươm thần của Lê Lợi. | Ngọc Châu | |
Làng Riếng | Làng Riếng, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nơi đây có đền làng Riếng (tiếng Mường gọi là Lôồng Riềng) thờ Thánh Gióng - vị thánh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đền được công nhận là di tích lịch sử theo Quyết định số 180/QĐ-UBND ngày 15/1/2016. Nay làng Riếng thuộc xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc. | Làng Riếng | |
Làng Thành Sơn | Làng Thành Sơn là làng cổ, quê hương của Lê Lai và gia tộc Lê Lai, Lê Lư, Lê Lộ, Lê Lâm - đều là dũng tướng tài giỏi, đóng góp cho khởi nghĩa Lam Sơn đi đến thắng lợi. Làng Thành Sơn nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc. | Thành Sơn | |
Mường[152] Chẹ | Mường Chẹ, tên một trong bốn vùng Mường cổ của Thanh Hóa, trước năm 1945 thuộc xã Cao Khê, Mỹ Khê, nay thuộc xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc. | Mường Chẹ |
3.13. Huyện Như Thanh: 05 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng | Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng thuộc xã Thanh Kỳ, huyện Như Thanh, là căn cứ của đội quân Lang Bôn người Thái, được Nguyễn Phương hợp nhất xây dựng thành căn cứ trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Nam Nông Cống. Ngày 26/4/1886, Tê Ri Ông (Terrillon) đã tiến hành cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Ổn Lâm-Kỳ Thượng. Tú Phương và Tôn Thất Hàm tổ chức nghĩa binh, chống cự ác liệt, vì vũ khí quân giặc tối tân, nghĩa quân chống lại không nổi, một năm sau, căn cứ bị hoàn toàn thất thủ, các thủ lĩnh bị bắt, nhiều người bị chém đầu. | Ổn Lâm - Kỳ Thượng | |
Cầu Châu | Cầu Châu là tên cây cầu thuộc huyện Như Thanh, cầu được hình thành từ những năm 1893, khi chính quyền địa phương và Tổng đốc Thanh Hóa, Toàn quyền Đông Dương thành lập châu Như Xuân (gồm 4 tổng: Tổng Như Lăng, tổng Xuân Du, tổng Lãng Lăng, tổng Hạ Thưởng) tiến hành xây dựng châu lỵ tại Bến Sung và làm tuyến đường (nối với đường 10 ngày nay) và xây dựng cây cầu qua tuyến đường đặt tên là Cầu Châu. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Châu | |
Đền Phủ Sung | Đền Phủ Sung thuộc thị trấn Bến Sung, xã Hải Vân, huyện Như Thanh, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân, gắn với di tích Phủ Sung có từ thế kỷ XIX, di tích nằm ở trung gian nơi gặp gỡ của miền ngược và miền xuôi, nơi bắt đầu của chặng hành trình về với Bến En xanh. | Phủ Sung | |
Đồi 20 | Đồi 20 tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, là căn cứ cách mạng, là địa danh trồng cây cà phê nổi tiếng. Từ thời Pháp, khi người Pháp đến khảo sát địa hình đất, loại đất này hợp với cây cà phê và người Pháp phân lô trồng cây cà phê lô số 20, từ đó lấy tên là Đồi 20. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đồi 20 trở thành điểm trực chiến của dân quân du kích xã Hải Vân. Nay Đồi 20, thuộc xã Hải Vân, huyện Như Thanh. | Đồi 20 | |
Đồi Lô Cả | Đồi Lô Cả thuộc huyện Như Thanh, nơi đây thực dân Pháp đã xây dựng đồn điền cà phê tại các khu vực đồi 20, 21 và các vùng lân cận, chúng tìm người Việt để cai quản, chăm sóc đồn điền, đồng thời mộ phu trồng cà phê. Người từ khắp nơi đổ về cư ngụ tại vùng Xuân Điền, thị trấn Bến Sung ngày nay do một quan tây Alô cai quản, cũng bắt nguồn từ đó Nhân dân thường gọi đồi Lô Cả cho đến nay. | Lô Cả |
3.14. Huyện Như Xuân: 07 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Hang Đồng Mười | Hang Đồng Mười thuộc xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, là một trong những nơi hoạt động của các chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương chống Pháp và có sự liên kết chặt chẽ với các nghĩa quân của Lương Ngọc Toản và Nguyễn Phương. Đây cũng là nơi đặt xưởng quân khí đầu tiên của quân đội ta, sau bị Pháp đánh bom, chuyển về Lò Cao kháng chiến Hải Vân. | Đồng Mười | |
Núi Bù Mun | Núi Bù Mun thuộc xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân. Núi Bù Mun là địa bàn hoạt động của Cầm Bá Thước và thủ lĩnh người Thổ là Lê Đình Tại trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân chủ yếu ở 2 tổng Lãng và Như Lăng và có sự kết hợp chặt chẽ với các đội quân ở phía tây Nghệ An. Dưới chân núi là nơi sinh sống của đồng bào 4 dân tộc: Thái, Mường, Thổ, Kinh với bản làng trù phú. | Bù Mun | |
Núi Pù Hàm | Núi Pù Hàm là tên một đỉnh núi ở huyện Như Xuân cao 1.119m, là dãy núi tự nhiên phân định ranh giới giữa hai huyện Như Xuân và Quỳ Châu (Nghệ An). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Pù Hàm | |
Thác Cổng Trời | Thác Cổng Trời thuộc xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự nhiên đặc sắc, nơi đây có dãy núi Bù Mùn cao hơn 1.000m. Thác Cổng Trời khởi nguồn từ các khe suối lớn nhỏ thuộc dãy núi Bù Mùn, thác có độ cao từ 10 - 12m. Hiện tại đang được chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và hướng dẫn khách tham quan du lịch. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cổng Trời | |
Thác Đồng Quan | Thác Đồng Quan thuộc thôn Đồng Quan, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự nhiên, khởi đầu từ núi Bù Mùn có độ cao hơn 1.000 m: Thác có độ cao gần 700 m có 5 tầng thác: Thác Tiên, thác Trượt, thác Tà Sáy, thác Đất Đỏ, thác Tà Phục. Mỗi tầng thác có độ cao từ 12-15m có nước chảy quanh năm. Hiện tại đang được chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và hướng dẫn khách tham quan du lịch. Thác đã được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Quan | |
Xã Quảng Dạ | Xã Quảng Dạ thuộc huyện Như Xuân, nay là xã Xuân Bình, Bãi Trành, trong thời kỳ Pháp thuộc có phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống lại các chủ đồn điền mở rộng diện tích cà phê, cao su… Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Quảng Dạ | |
Xã Yên Cát | Xã Yên Cát là một xã lớn có trước năm 1954 của huyện Như Xuân, nay thuộc địa bàn các xã Hóa Quỳ, thị trấn Yên Cát...Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khu an toàn khu Đồng Ớt, xã Yên Cát (nay thuộc địa bàn xã Hóa Quỳ). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Yên Cát |
- Huyện Nông Cống: 09 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bến Chuồng | Bến Chuồng là địa danh thuộc xã Công Chính của huyện Nông Cống. Ngã ba Bến Chuồng đi 3 hướng, 1 hướng đi thị trấn Nông Cống, 1 hướng đi thị xã Nghi Sơn và 1 hướng đi xã Yên Mỹ (nông trường Yên Mỹ cũ) qua dốc Bò Lăn sang Nghệ An và đường mòn Hồ Chí Minh. Bến Chuồng là địa điểm tập kết lương thực, vũ khí của lực lượng thanh niên xung phong tỉnh Thanh Hóa, nơi đây có cầu Chuồng bắc qua sông Thị Long nằm trên đường huyết mạch 12B lên Bò Lăn, vì vậy cung đường Chuồng - Bò Lăn là trọng điểm đánh phá liên tục không ngừng của máy bay, pháo từ tàu chiến Mỹ trong những năm chiến tranh phá hoại chống Mỹ. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bến Chuồng | |
Căn cứ Hương Trì | Căn cứ Hương Trì, đây là một địa danh cách mạng trong phong trào Cần Vương của huyện Nông Cống. Phong trào này hoạt động rầm rộ, sau này phát triển lớn thành Ổn Lâm - Kỳ Thượng, tên địa danh gắn liền với nhân vật Tú Phương. Khi Tú Phương được Tôn Thất Thuyết giao cho chức Tham Biện Sơn Hải Phòng quân vụ, kiêm cả phủ Tĩnh Gia (gồm ba huyện: Nông Cống - Tĩnh Gia - Quảng Xương), ông liên hệ với cụ Nguyễn Xuân Ôn là lãnh tụ Cần Vương ở Nghệ An, xây dựng căn cứ Hương Trì. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hương Trì | |
Chùa Vĩnh Thái[153] | Chùa Vĩnh Thái thuộc xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống gắn với di tích lịch sử cách mạng, đồng thời là cơ sở hoạt động cách mạng hai huyện Nông Cống và Thọ Xuân giai đoạn 1930-1945. Địa danh gắn liền với cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh giai đoạn (1939-1941) khi ông được phân công về miền Trung củng cố xây dựng xứ ủy Trung Kỳ. | Vĩnh Thái | |
Đồn điền Bãi Áng | Đồn điền Bãi Áng thuộc huyện Nông Cống, do tư sản người Pháp làm chủ, xưa kia đồn điền này lớn, mấy ngàn ha. Từ Cổ Định vào Bãi Áng, dọc theo núi Nưa trong lòng đất là một vệt dài quặng cromitte. Trước năm 1945, chủ người Pháp bán cho ông Hàn, sau đó bán cho Tôn Thất Tiễn. Ngày nay, địa danh Bãi Áng vẫn được quen dùng và là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bãi Áng | |
Làng Cổ Đôi | Làng Cổ Đôi thuộc xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, là tên làng nổi tiếng khoa bảng của huyện Nông Cống xưa, (dân gian có câu Nông Cống Cổ Đôi - Cổ Định) đã đi vào tiềm thức người dân Nông Cống. | Cổ Đôi | |
Làng Đông Cao | Làng Đông Cao thuộc xã Trung Chính, huyện Nông Cống, là làng văn hóa đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa và là làng văn hóa thứ 2 của cả nước. Làng có di tích đình làng Đông Cao (nơi thờ Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt) được công nhận là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 4732/QĐ-UBND ngày 30/12/2013. | Đông Cao | |
Làng Phú Đa Hậu | Làng Phú Đa Hậu, là làng cổ, nay thuộc xã Tượng Văn, huyện Nông Cống, là một trong những làng ra đời từ rất sớm mang nhiều giá trị lịch sử văn hóa. Đặc biệt làng có đình làng Phú Đa Hậu, nơi thờ Thần Hoàng làng được công nhận di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 215/QĐ-SVHTT ngày 16/6/2000 và Quyết định số 3022/QĐ-UBND ngày 14/09/2012. | Phú Đa Hậu | |
Làng Vũ Yên | Làng Vũ Yên là làng cổ, nay thuộc xã Minh Thọ, huyện Nông Cống. Tên làng có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Vũ Yên | |
Xã Minh Thọ | Xã Minh Thọ thuộc huyện Nông Cống. Tên địa danh hành chính xã Minh Thọ trước khi thực hiện Nghị Quyết 935/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 về điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn huyện Nông Cống gồm toàn bộ dân số và diện tích của xã Minh Thọ. | Minh Thọ |
3.16. Huyện Quan Hóa: 13 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bản Khằm | Bản Khằm, tên gọi xưa đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Bản có di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp tỉnh. Đây là nơi thờ Thượng tướng Thống lĩnh Quân Khằm Ban, người có công giữ nước, đánh đuổi giặc Minh, giữ yên bờ cõi, nay thuộc xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. | Bản Khằm | |
Cầu Na Sài | Cầu Na Sài thuộc thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, cây cầu bắc qua sông Mã, nối xã Phú Nghiêm với thị trấn Hồi Xuân. Nằm trên Quốc lộ 15, cầu Na Sài có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của tỉnh, nhất là phát triển kinh tế - xã hội các huyện phía Tây Thanh Hóa, đồng thời góp phần làm thay đổi diện mạo vùng quê Quan Hóa. Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Na Sài | |
Đồn Poọng Nưa | Đồn Poọng Nưa thuộc huyện Quan Hóa, là đồn quân sự của thực dân Pháp, được xây dựng năm 1947 tại xã Hiền Kiệt. Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Poọng Nưa | |
Hang Phi | Hang Phi nằm ở thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, nằm trong quần thể di tích hang Lũng Mu. Hang Phi là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. Địa danh Hang Phi là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Hang Phi | |
Hồ Pha Đay | Hồ Pha Đay thuộc bản Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, là hồ tự nhiên có độ cao so với mặt nước biển khoảng 700 mét, xung quanh hồ là quần thể rừng già nguyên sinh với nhiều cây gỗ lớn, có thể tổ chức các hoạt động cắm trại, chèo thuyền, bè mảng, thả lưới, quăng chài, câu cá, chụp hình…Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. Địa danh Hồ Pha Đay là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Pha Đay | |
Hồ Vinh Quang | Hồ Vinh Quang là hồ tự nhiên thuộc địa phận bản Vinh Quang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, có diện tích khoảng 5 ha. Địa danh Hồ Vinh Quang là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Hồ Vinh Quang[154] | |
Mường Khằng | Mường Khằng là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khằng nay là địa bàn xã Thiên Phủ. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Khằng | |
Mường Khiết | Mường Khiết là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khiết nay thuộc địa bàn xã Hiền Chung, xã Hiền Kiệt huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Khiết | |
Mường Le | Mường Le, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Le nay là địa bàn các xã Trung Thành, xã Thành Sơn, thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Le | |
Mường Páng | Mường Páng, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Páng nay là địa bàn xã Trung Sơn. thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Páng | |
Mường Tuồng | Mường Tuồng, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Tuồng nay là địa bàn các xã Nam Tiến, xã Nam Động thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Tuồng | |
Mường[155]Ánh | Mường Ánh là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ, thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Ánh nay là địa bàn các xã Phú Lệ, Phú Sơn, Phú Thanh, Phú Xuân. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Ánh | |
Xã Nam Động | Xã Nam Động thuộc huyện Quan Hóa, là tên xã của huyện Quan Hóa nơi người Mường chiếm đa số với 1.639 người (chiếm 62,43% tổng dân cư toàn xã), sau đó là Thái với 765 người (chiếm 29,14% tổng dân cư toàn xã). | Nam Động |
3.17. Huyện Quan Sơn: 08 địa danh
3.18. Huyện Quảng Xương: 17 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Đã đặt |
Cầu Thạch Châu | Cầu Thạch Châu vượt qua sông Yên nối giữa 02 xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xương và xã Hải Châu, huyện Tĩnh Gia. | Thạch Châu[157] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Đồn Điền | Đồn Điền thuộc huyện Quảng Xương, tên gọi từ thời Hậu Lê của xã Quảng Thái. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồn Điền | ||
Làng Bồi Nguyên | Làng Bồi Nguyên có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bồi Nguyên | ||
Làng Cự Nham | Làng Cự Nham (Kẻ Mom) thuộc huyện Quảng Xương, tên xa xưa của xã Quảng Nham. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cự Nham | ||
Làng Hải Nhuận | Làng Hải Nhuận thuộc huyện Quảng Xương, tên cũ từ năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hải Nhuận | ||
Làng Mậu Xương | Làng Mậu Xương có từ xa xưa, tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nay làng thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương; làng có ngôi đền Mậu Xương nổi tiếng được nhiều người biết đến, chùa Mậu Xương được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. | Mậu Xương | ||
Làng Nhân Hậu | Làng Nhân Hậu là làng có từ xa xưa, xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, trước đây thuộc tổng Lưu Vệ (nay thuộc xã Quảng Trạch) huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nhân Hậu | ||
Làng Phú Đa | Làng Phú Đa thuộc xã Quảng Đức xuất hiện từ đầu thời Nguyễn thuộc tổng Thái Lai, huyện Quảng Xương. Hiện nay tên Phú Đa vẫn được dùng để gọi tên cho một vài làng trên địa bàn các xã, thị trấn thuộc huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Đa | ||
Làng Sênh | Làng Sênh thuộc huyện Quảng Xương, tên có từ xưa, nay thuộc xã Quảng Nhân, có câu ca: “Đất mạ làng Bùi, cùi dứa làng Sênh, cột đình làng Mậu”…để chỉ việc so sánh các đặc điểm, đặc trưng của các địa phương, đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian. | Làng Sênh | ||
Làng Thiên Linh | Làng Thiên Linh xưa thuộc xã Thiên Linh, nay thuộc xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tên gọi Làng Riềng. | Thiên Linh | ||
Thôn Khang Bắc | Thôn Khang Bắc có trước năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. | Khang Bắc | ||
Thôn Lưu Hiền | Thôn Lưu Hiền có từ đầu thế kỷ XIX, là tên gọi một thôn thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương. Nay là làng Lưu Hiền thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lưu Hiền | ||
Thôn Mỹ Trạch | Thôn Mỹ Trạch có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng Trạch, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mỹ Trạch | ||
Thôn Tiền Thịnh | Thôn Tiền Thịnh có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc xã Quang Tiền, tổng Thái Lai, phủ Tĩnh Gia nay thuộc xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tiền Thịnh | ||
Thôn Triều Công | Thôn Triều Công có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Triều Công | ||
Xã Ngọc Giáp | Xã Ngọc Giáp có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng Chính. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Giáp | ||
Xã Ngọc Trà | Xã Ngọc Trà có từ thời Gia Long, nay thuộc xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Trà |
3.19. Huyện Thạch Thành: 07 địa danh
3.20. Thành phố Sầm Sơn: 15 tên
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Cầu Bến | Cầu Bến thuộc xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Bến | ||
Cầu Bùi | Cầu Bùi thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Bùi | ||
Cầu Cửa Hới | Cầu Cửa Hới là cầu vượt qua sông Mã nối giữa huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cửa Hới[158] | Đã đặt tên công trình công cộng | |
Cống Sông Đơ | Cống Sông Đơ thuộc thị xã Sầm Sơn, tên 1 cửa sông đổ ra biển, có âu thuyền tránh bão ở chân núi Trường Lệ, giáp ranh phường Trường Sơn và phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Sông Đơ | ||
Làng Cá Lập | Làng Cá Lập (làng Trấp) nay thuộc các phường Quảng Cư, Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, được hình thành trước thời Trần (thế kỷ XIII). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cá Lập | ||
Làng Du Vịnh | Làng Du Vịnh (sở Đồn Điền) thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn, thành lập năm 1471-1472, thời vua Lê Thánh Tông. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Du Vịnh | ||
Làng Hới | Làng Hới thuộc phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, nơi có đền thờ làng Hới được công nhận di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 249/VHQĐ ngày 17/10/1993. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Làng Hới | ||
Làng Lộc Trung | Làng Lộc Trung (tên nôm là làng Giữa) nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tên gọi có từ thời Gia Long. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lộc Trung | ||
Làng Mỹ Lâm | Làng Mỹ Lâm thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn. Năm 1681, đời vua Lê Hy Tông, ông tổ dòng họ Phạm Văn làm quan trong triều, giữ chức Tri Phủ Hoài Nhân khi về hưu ông đưa vợ con sinh cơ lập nghiệp, và sau này cháu đời thứ tư của ông đội đơn triều đình xin phép được lập làng Mỹ Lâm ngày nay. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mỹ Lâm | ||
Làng Nho Quan | Làng Nho Quan thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Khoảng thế kỷ XV, XVI, làng có tên là làng Văn, đến thế kỷ XVIII, làng được đổi tên thành Nho Quan. Làng Nho Quan gồm 4 xã: Đông, Mới, Trại, Tây. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nho Quan | ||
Làng Thủ Phú | Làng Thủ Phú (tổng Thủ Hộ) thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ đầu thời Nguyễn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thủ Phú | ||
Làng Triều Dương | Làng Triều Dương (tên nôm là làng Trào) thuộc xã Triều Thanh Lộc, tổng Giặc Thượng, rồi Kính Thượng, Cung Thượng, nay là phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn. Làng Triều Dương thờ tổ sư nghề dệt là Bà Triều. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Triều Dương | ||
Làng Trường Tân | Làng Trường Tân thuộc xã Lương Xá, tổng Phủ Hộ, rồi tổng Phủ Chính, nay là xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn. Đây là một trong những làng cổ được hình thành rất sớm ở vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa; đời vua Minh Mạng lấy tên là làng Trường Tân. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Trường Tân | ||
Làng Xuân Phương | Làng Xuân Phương (tên nôm là làng Lan) nay thuộc phường Quảng Châu, thành phố Sầm Sơn, làng do di dân Chiêm Thành thời nhà Trần lập nên. Sang đầu thế kỷ XIX đến đời vua Đồng Khánh là thôn Xuân Phương thuộc xã Giặc Hạ, tổng Giặc Thượng, sau đổi thành Kính Thượng, rồi Cung Thượng. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Xuân Phương | ||
Tân Đức[159] | Tân Đức là tên con đường thuộc khu phố Phúc Ðức, ghép 02 xóm là xóm Tân và xóm Ðức của xã Quảng Tiến trước đây, nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tân Đức |
3.21. Thành phố Thanh Hóa: 58 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
Bãi Gành | Bãi Gành thuộc xã Hoằng Lý, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh cổ, là tên một địa điểm khảo cổ thời kỳ văn hóa Đông Sơn, đã tìm thấy nhiều di vật bằng đồng: rìu, giáo, vòng trang sức và các loại vũ khí như: rìu chiến, dao găm. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bãi Gành | ||
Bôn Giàng[160] | Bôn Giàng thuộc thành phố Thanh Hóa, được nối thông từ bến đò Giàng phường Thiệu Khánh qua Thiệu Vân, Thiệu Giao và làng Bôn xã Đông Thanh huyện Đông Sơn, nối với quốc lộ 45. Đây là địa danh của tuyến đường Nhân dân thường quen gọi từ xa xưa, là tuyến đường chiến lược trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. | Bôn Giàng | ||
Cát Đằng[161] | Cát Đằng thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Đằng được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cát Đằng | ||
Cát Hòa[162] | Cát Hòa thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Hòa được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, hiện Nhân dân vẫn quen dùng. | Cát Hòa | ||
Cát Khang | Cát Khang là địa điểm (tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Khang được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Cát Khang đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. | Cát Khang | ||
Cát Phú | Cát Phú là địa điểm (tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Phú được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012 xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nhân dân dùng tên Cát Phú để gọi cho tuyến đường qua xã Quảng Cát. | Cát Phú | ||
Cát Thành | Cát Thành thuộc thành phố Thanh Hóa, tên địa điểm (tuyến đường), tên Cát Thành được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm được Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa. | Cát Thành | ||
Cát Tiến | Cát Tiến thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Tiến được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên Cát Tiến gọi cho tuyến đường đi qua khu vực này. | Cát Tiến | ||
Cát Yên | Cát Yên thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Yên được Nhân dân lấy từ tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên gọi Cát Yên cho tuyến đường đi qua khu vực này. | Cát Yên | ||
Chiến Lược | Chiến Lược thuộc thành phố Thanh Hóa, được nối từ đường quốc lộ 1A cũ (nay là đường Văn Tiến Dũng đến bến Phà 2 thuộc xã Hoằng Lý (nay là phường Tào Xuyên) thành phố Thanh Hóa, là con đường vận tải trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chiến Lược | ||
Đồng Bài[163] | Đồng Bài thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Bài | ||
Đồng Bái[164] | Đồng Bái, tên một địa điểm (tuyến đường) được lấy tên từ một xứ đồng đã trồng trọt rau màu và đã nuôi dưỡng các thế hệ con cháu ăn học thành tài, sau này cánh đồng này đã được Nhân dân đầu tư xây dựng thành một khu dân cư, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. | Đồng Bái[165] | Đã đặt tên đường | |
Đồng Mai | Đồng Mai thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Đồng Mai được Nhân dân lấy từ tên của xứ Đồng Mai có từ trước năm 1945, thuộc tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia. Từ năm 1954 đến 2012 thuộc xã Quảng Tâm, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Tâm sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân, hiện Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa và nay vẫn thường dùng. | Đồng Mai | ||
Hợp tác xã Đại Phú | Hợp tác xã Đại Phú thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên của một hợp tác xã nông nghiệp thuộc phường Thiệu Khánh, đây là hợp tác xã nông nghiệp tiêu biểu trong những năm 1977, 1978 có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Đại Phú | ||
Hợp tác xã Hồng Phong | Hợp tác xã Hồng Phong thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của hợp tác xã đầu tiên được thành lập năm 1954 của xã Quảng Tâm, nay là phường Quảng Tâm. | Hồng Phong | ||
Hợp tác xã Kiều Thắng | Hợp tác xã Kiều Thắng được thành lập từ năm 1960. Đây là một trong những hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã Hoằng Đại, tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Kiều Thắng | ||
Hợp tác xã Kiều Tiến | Hợp tác xã Kiều Tiến được thành lập từ năm 1960. Đây là hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã Hoằng Đại, tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Kiều Tiến | ||
Làng Cổ Ninh | Làng Cổ Ninh có từ năm 1945, thuộc xã Liên Hoa, huyện Đông Sơn, nay là thành phố Thanh Hóa. Năm 1947 - 1953 thuộc xã Đại Bái, từ năm 1953 đến nay làng Cổ Ninh thuộc xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cổ Ninh | ||
Làng Đại Độ | Làng Đại Độ có từ năm 1953, thuộc thành phố Thanh Hóa. Tháng 11 năm 1953, xã Đông Hưng được chia tách thành 2 xã Đông Hưng và Đông Tân, xã Đông Tân có 6 làng gồm làng Đống, làng Yên Hoạch, làng Viện Giang, làng Lộc Giang, làng Phù Lưu và làng Đại Độ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Độ | ||
Làng Đại Khánh | Làng Đại Khánh thuộc thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Vồm, đầu thế kỷ XIX tên là xã Đại Khánh thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn. Đây là một địa danh cổ có từ xưa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Khánh | ||
Làng Đại Tiền | Làng Đại Tiền thuộc thành phố Thanh Hóa, có từ đầu thế kỷ XIX. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Đại Tiền thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946, thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Tiền | ||
Làng Doanh Xá | Làng Doanh Xá nay thuộc phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Chành, đầu thế kỷ XIX tên là xã Doanh Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, là địa danh cổ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Doanh Xá | ||
Làng Duy Tiếu | Làng Duy Tiếu từ khi mới hình thành là một làng lớn gồm làng Hưng Đồng, làng Duy Hưng và nay là phố 6, phố 7 phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đường Duy Tiếu chạy qua địa bàn của hai phố. | Duy Tiếu[166] | Đã đặt tên đường | |
Làng Đồng Me | Làng Đồng Me có từ cuối thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước năm 1960 làng Đồng Me thuộc xã Thiệu Tân, năm 1960 làng Đồng Me sáp nhập về xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Me | ||
Làng Đức Hậu | Làng Đức Hậu có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đức Hậu[167] | Đã đặt tên đường | |
Làng Nhân Phong | Làng Nhân Phong nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Nhân Phong đã có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng. Hiện tên Nhân Phong được đặt cho tuyến đường thuộc phường Quảng Hưng. | Nhân Phong[168] | Đã đặt tên đường | |
Làng Hà Phương | Làng Hà Phương có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước Cách mạng tháng Tám 1945 làng Hà Phương thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946 thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hà Phương | ||
Làng Hiểu Lâm | Làng Hiểu Lâm nay thuộc xã Thiệu Vân, thành phố Thanh Hóa, tên làng cổ có từ thời Lê. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hiểu Lâm | ||
Làng Hưng Giang | Làng Hưng Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của một làng có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Giang | ||
Làng Hưng Thuận | Làng Hưng Thuận có từ khi mới hình thành, sau này làng đã đổi thành nhiều tên khác nhau, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Hiện tên Hưng Thuận đã dùng đặt tên cho tuyến đường thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hoá. | Hưng Thuận[169] | Đã đặt tên đường | |
Làng Hưng Xá | Làng Hưng Xá được lấy tên của hai làng trước đây, sau này sáp nhập thành một phố đó là làng Văn Xá và làng Hưng Thọ. Hiện tên Hưng Xá được đặt cho tuyến đường chạy qua làng Hưng Xá và làng Hưng Thọ nhưng chung một phố, được gọi là phố 4, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. | Hưng Xá[170] | Đã đặt tên đường | |
Làng Lam Hà | Làng Lam Hà thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Lam Hà thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lam Hà | ||
Làng Mân Trung | Làng Mân Trung thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Mân Trung thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến 2012, thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mân Trung | ||
Làng Nhân Thọ | Làng Nhân Thọ thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thế kỷ XIX, trước năm 1945 làng Nhân Thọ thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thuộc xã Trần Hưng Đạo, huyện Quảng Xương. Năm 1948 xã Trần Hưng Đạo sáp nhập với xã Tống Duy Tân thành xã Quảng Hưng (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nhân Thọ | ||
Làng Phú Ân | Làng Phú Ân thuộc thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Đọ. Đây là một địa danh cổ có từ xưa nằm ở phía Tây phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng có từ thời nhà Nguyễn, trước năm 1900, làng Phú Ân thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên. Năm 1900, đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Phú Ân thuộc huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng thuộc xã Đại Tân huyện Thiệu Hóa, năm 1953 làng thuộc phường Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Ân | ||
Làng Phú Cốc | Làng Phú Cốc có từ cuối thế kỷ XIX sau này tách thành làng Cốc Hạ và Cốc Thượng, thuộc tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, năm 1948 thuộc xã Đông Hương, huyện Đông Sơn. Năm 1971, xã Đông Hương được sáp nhập về thị xã Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Cốc | ||
Làng Tam Thọ | Làng Tam Thọ thuộc xã Đông Vinh, thành phố Thanh Hóa. Năm 1937 các nhà khảo cổ đã phát hiện khu lò gốm cổ và tiến hành khai quật, sau đó tên làng đã được lấy đặt tên cho di chỉ gốm - gọi là di chỉ gốm Tam Thọ. Năm 2004 được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và khảo cổ cấp tỉnh. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tam Thọ | ||
Làng Thạch Đường | Làng Thạch Đường nay thuộc xã Đông Vinh, thành phố Thanh Hóa, tên một làng cổ có từ thời Lê. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thạch Đường | ||
Làng Thanh Dương | Làng Thanh Dương thuộc thành phố Thanh Hóa, làng nằm ở phía đông phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng có từ thế kỷ XIX, từ năm 1945 trở về trước, làng Thanh Dương thuộc tổng Đại Bối, phủ Thiệu Hóa, năm 1947 đến 1953, làng Thanh Dương thuộc xã Tân Dương, từ năm 1953, đến nay, làng Thanh Dương thuộc phường Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thanh Dương | ||
Làng Thủ Phác | Làng Thủ Phác nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Thủ Phác đã có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng. Đặt tên đường Thủ Phác là để các thế hệ sau này luôn nhớ về cội nguồn. | Thủ Phác[171] | Đã đặt tên đường | |
Làng Vân Nhưng | Làng Vân Nhưng thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Vân Nhưng thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến 2012 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Vân Nhưng | ||
Làng Việt Yên | Làng Việt Yên thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Trần (1226 - 1400), lúc mới thành lập làng Việt Yên có tên là Kẻ Vọt (Cồn Vọt). Thời Hậu Lê gọi là làng Việt Yên, đầu thế kỷ XIX là thôn Việt Yên. Trước năm 1945, làng Việt Yên thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau năm 1945, làng Việt Yên thuộc xã Phan Đình Phùng, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Đông được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Việt Yên | ||
Lý Cát[172] | Lý Cát thuộc thành phố Thanh Hóa, là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lý Cát | ||
Thôn Lam Cầu | Thôn Lam Cầu có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Bái Trạch. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn Lam Cầu được đổi tên thành làng Hoằng Hóa nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lam Cầu | ||
Thôn Lộc Giang | Thôn Lộc Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn Lộc Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947 xã Đông Hưng được thành lập, thời điểm này thôn Lộc Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11 năm 1953 xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn Lộc Giang được gọi là làng Lộc Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm 2012 xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lộc Giang | ||
Thôn Viện Giang | Thôn Viện Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn Viện Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947, xã Đông Hưng được thành lập, thời điểm này thôn Viện Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11 năm 1953, xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn Viện Giang được gọi là làng Viện Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Viện Giang | ||
Xã Tân Hiệp | Xã Tân Hiệp thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên một xã thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là xã kết nghĩa với phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa. | Tân Hiệp | ||
Xóm Đông Thành | Xóm Đông Thành là tên của một xóm có từ năm 1953 thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Đông sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đông Thành | ||
Xóm Hạnh Phúc | Xóm Hạnh Phúc thuộc thành phố Thanh Hóa, trước năm 1946 xóm Hạnh Phúc gọi là làng Đống thuộc xã Hưng Yên, phủ Đông Sơn. Sau năm 1954, làng Đống gọi là xóm Hạnh Phúc thuộc xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Từ năm 1992 đến nay, xóm Hạnh Phúc đổi thành thôn Tân Hạnh. Năm 2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hạnh Phúc | ||
Xóm Hưng Đồng | Xóm Hưng Đồng thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của một xóm có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Đồng | ||
Xóm Hưng Phúc | Xóm Hưng Phúc có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Phúc | ||
Xóm Hưng Thịnh | Xóm Hưng Thịnh có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Thịnh | ||
Xóm Hưng Thọ | Xóm Hưng Thọ có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Thọ | ||
Xóm Hưng Tiến | Xóm Hưng Tiến có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Tiến | ||
Xóm Thắng Sơn | Xóm Thắng Sơn thuộc thành phố Thanh Hóa, xóm có từ tháng 6/1959, theo chủ trương của Đảng để thuận tiện cho việc xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp cấp thấp quy mô xóm, xã Đông Hưng cũ của thành phố Thanh Hóa tổ chức thành 9 xóm, trong đó có xóm Thắng Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thắng Sơn | ||
Xóm Thịnh Vạn | Xóm Thịnh Vạn thuộc thành phố Thanh Hóa, xóm có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Từ năm 1945 đến 1954, thuộc xã Quảng Thắng, năm 1954 đến 2012, thuộc xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Thịnh được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thịnh Vạn | ||
Văn Chỉ[173] | Văn Chỉ thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên tuyến đường Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa nhưng chưa chính thức được đặt tên. (Văn Chỉ là nơi tôn vinh đạo học và diễn ra các hoạt động tế lễ, hay cổ vũ khuyến khích học hành thi cử của làng. Hiện nay ở phường Thiệu Dương vẫn còn bia Văn Chỉ). | Văn Chỉ | ||
Văn Thọ | Văn Thọ được lấy tên của hai làng trước đây là làng Văn Xá và làng Hưng Thọ, sau này sáp nhập thành một phố, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Văn Thọ đã được dùng đặt tên cho tuyến đường chạy giữa hai làng nhưng chung một phố. | Văn Thọ[174] | Đường |
3.22. Huyện Thiệu Hóa: 15 địa danh
3.23. Huyện Thọ Xuân: 15 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Chợ Neo | Chợ Neo thuộc xã Bắc Lương, huyện Thọ Xuân. Nơi đây diễn ra cuộc biểu tình thị uy lớn cuối thời kỳ vận động dân chủ (1939) do Đảng bộ tỉnh tổ chức đã gây được tiếng vang lớn. Tại làng Neo, năm 1930 cũng thành lập được chi bộ Đảng Cộng sản. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chợ Neo | |
Làng Giữa | Làng Giữa[186] thuộc xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, làng có đình làng Giữa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 69/QĐ-CT ngày 10/01/2005. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Làng Giữa | |
Làng Hương Nhượng | Làng Hương Nhượng thuộc xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân ngày nay, làng được hình thành từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Làng có đình làng Hương Nhượng là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 158/QĐ-VHTT ngày 22/5/2001 và 148/QĐ-UBND ngày 17/01/2011. Đình làng Hương Nhượng là địa danh được nhiều người biết đến. | Hương Nhượng | |
Làng Kim Ốc | Làng Kim Ốc[187] thuộc xã Xuân Hoà, huyện Thọ Xuân, là làng cách mạng tiêu biểu của huyện, của tỉnh thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Kim Ốc | |
Làng Lễ Nghĩa | Làng Lễ Nghĩa[188] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Trung Vực (nay là xã Xuân Thành, huyện Thọ Xuân). Đình làng Lễ Nghĩa là di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 49/QĐ-VHTT ngày 17/01/2003 và Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 17/01/2011. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lễ Nghĩa | |
Làng Long Linh | Làng Long Linh[189] thuộc xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân, là một làng có phong trào cách mạng tiêu biểu ở trong tỉnh thời kỳ 1930- 1945. Năm 1934, tờ báo Hồn lao động - Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Thanh Hóa được xuất bản bí mật tại đây. Đây là làng có nhiều chiến sĩ du kích Ngọc Trạo, là “Làng Đỏ” tiêu biểu, đi đầu trong phong trào xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc trước năm 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Long Linh | |
Làng Ngọc Trung | Làng Ngọc Trung thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Trung | |
Làng Phong Cốc | Làng Phong Cốc[190] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phong Cốc | |
Làng Phú Tình | Làng Phú Tình thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Tình | |
Làng Phúc Bồi | Làng Phúc Bồi[191] thuộc xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân, là làng cách mạng tiêu biểu thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phúc Bồi | |
Làng Quang Hoa | Làng Quang Hoa[192] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Quang Hoa | |
Làng Thuần Hậu | Làng Thuần Hậu[193] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay là xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thuần Hậu | |
Làng Xá Lê | Làng Xá Lê[194] trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc xã Minh Nghĩa, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa (nay thuộc xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân), là địa chỉ đỏ có phong trào cách mạng tiêu biểu ở Thanh Hóa trong thời kỳ 1930 - 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Xá Lê | |
Làng Xuân Phả | Làng Xuân Phả[195] là một làng cổ thuộc xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân. Nơi đây còn bảo lưu các trò diễn truyền thống như Tú Huần, Bình Ngô Phá Trận, Xiêm Thành, Chăm Pa…mà các nhà nghiên cứu gọi chung là “Trò Xuân Phả”. Trò diễn này được công nhận là di sản phi vật thể cấp Quốc gia. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Xuân Phả | |
Làng Xuân Phố | Làng Xuân Phố (là xóm Thọ Khang), thuộc xã Xuân Trường, huyện Lôi Dương, sau năm 1965 thành lập thị trấn Thọ Xuân (gọi tắt là Phủ Thọ) là một địa danh nổi tiếng trước đây. | Xuân Phố |
3.24. Huyện Thường Xuân: 16 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Cầu Bến Nhạ | Cầu Bến Nhạ thuộc xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, là địa danh có ý nghĩa lịch sử trong kháng chiến chống Mỹ, là nơi trung chuyển lương thực, vũ khí đạn dược của tuyến giao thông huyết mạch 15A (nay là đường mòn Hồ Chí Minh) nhằm chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ nhằm cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch này. | Bến Nhạ | |
Châu Thường | Châu Thường (còn gọi là châu Thường Xuân thuộc huyện Thường Xuân), từ năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), là tên của huyện Thường Xuân ngày nay. | Châu Thường | |
Đồi Pú Pen | Đồi Pú Pen thuộc xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân. Pú Pen (hay còn gọi là Pú Mướng) là ngọn đồi nơi có đền thờ trời (Hướn Pen), hàng năm diễn ra lễ tục dâng trâu tế trời của dân tộc Thái mường Chiếng Ván (tức Trịnh Vạn). | Pú Pen | |
Đồng Mới | Đồng Mới[196] thuộc huyện Thường Xuân, tên gọi cũ của thị trấn Thường Xuân ngày nay. Đến năm 1988, trung tâm huyện Thường Xuân chuyển từ xã Xuân Cẩm về ngã ba Đồng Chó và đổi tên là Đồng Mới, nay là thị trấn Thường Xuân. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Mới | |
Hang Lãm | Hang Lãm thuộc huyện Thường Xuân, trước kia là kho E - Binh trạm 10 đoàn 559, trạm trung chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược của đoàn 559 cho chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. | Hang Lãm | |
Hòn đá Mài Mực | Hòn đá Mài Mực thuộc huyện Thường Xuân, nằm giữa dòng sông Chu, thuộc xã Xuân Mỹ trước đây (nay là vùng hạ du hồ Cửa Đạt), tương truyền là nơi Lê Lợi hạ trại, dấu vết còn lại là hòn đá Mài Mực. | Mài Mực | |
Làng Phụng Dưỡng | Làng Phụng Dưỡng thuộc thôn Xuân Thắng, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, là tên có từ thời Lê gắn với khởi nghĩa Lam Sơn. | Phụng Dưỡng | |
Mỹ Tế | Mỹ Tế thuộc huyện Thường Xuân, là tên một địa danh lịch sử, là di chỉ khảo cổ tiền Đông Sơn. | Mỹ Tế | |
Ngọc Lâm | Ngọc Lâm[197] thuộc huyện Thường Xuân, là tên cũ của khu phố 1, thị trấn Thường Xuân, được đặt tên từ trước năm 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Lâm | |
Núi Pù Gió | Núi Pù Gió thuộc huyện Thường Xuân, Pù Gió (hay Pú Cho) cao 1.620m, là đỉnh núi cao nhất trong hệ thống các đỉnh núi cao và các dãy núi dài của huyện Thường Xuân, nằm ở địa giới xã Vạn Xuân, xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân và xã Đồng Văn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Đây là nơi có khí hậu rất đặc biệt luôn mát mẻ với các hệ sinh thái rừng trên núi cao có các loài thực vật cổ sinh gồm cả những loài cho hoa đẹp như đỗ quyên, các loài lan, đặc biệt tại đỉnh núi này còn có một xác máy bay của đế quốc Mỹ bị bắn rơi trong chiến tranh. | Pù Gió | |
Núi Thé | Núi Thé thuộc xã Xuân Cao, huyện Thường Xuân. Tại đây đã phát hiện được nhiều công cụ, dụng cụ bằng đồng và các đồ gốm thuộc văn hóa Đông Sơn và hậu Đông Sơn. Di tích được coi là di tích văn hóa Đông Sơn quan trọng nhất ở miền tây Thanh Hóa. | Núi Thé | |
Tân Long | Tân Long[198] thuộc huyện Thường Xuân, là tên cũ của khu phố 5, thị trấn Thường Xuân, được đặt tên từ trước năm 1945. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tân Long | |
Tổ Rồng | Tổ Rồng thuộc huyện Thường Xuân, là tên một khúc sông Chu đoạn chảy qua thôn Thanh Long, Thanh Cao (xã Thọ Thanh) và Xuân Minh (xã Xuân Cao), là một địa danh gắn liền với nhiều di tích lịch sử của thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn. | Tổ Rồng | |
Trịnh Cao | Trịnh Cao thuộc huyện Thường Xuân, là căn cứ trung tâm trong hệ thống căn cứ núi Chí Linh của nghĩa quân Lam Sơn thuộc xã Xuân Khao trước đây (nay đã giải thể di dân xây dựng công trình thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt). | Trịnh Cao | |
Xã Bát Mọt | Xã Bát Mọt[199] (còn gọi là Bất Một) là vùng đất xưa thuộc Mường Húng, sau là Mường Mót. Thời Nguyễn - Minh Mệnh thứ 18 (1837) là xã Bất Một thuộc châu Thường Xuân. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, xã Bát Mọt thuộc huyện Thường Xuân. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Năm 1926, Mađơlen Côlani - nhà khảo cổ và địa chất học người Pháp đã tìm thấy dấu vết hoạt động của con người thời tiền sử cách ngày nay khoảng 2 vạn năm tại xã Bát Mọt. Côlani đã phát hiện được nơi cư trú của người nguyên thủy ở một hang động, sau này đặt tên là hang Chuông. Qua tìm kiếm, khai quật được 96 di vật đá gồm chày đá, hòn ghè, rìu thô hình đĩa, rìu ngắn, nạo đá...Đây là địa điểm cư trú của người nguyên thủy cùng với dấu vết săn bắt và sản xuất. | Bát Mọt | |
Xã Xuân Cẩm | Xã Xuân Cẩm thuộc huyện Thường Xuân. Trước kia là một xã, nay đã sáp nhập vào thị trấn Thường Xuân theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. | Xuân Cẩm |
3.25. Huyện Triệu Sơn: 02 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Làng Phú Hào | Làng Phú Hào[200] là làng cổ thuộc tổng Bất Náo, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, nay là xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn, là nơi sinh và nơi thờ tự Lê lệnh công Lê Thì Hiến và các danh tướng họ Lê Thì thời Lê Trung Hưng. Hiện nay, quần thể Di tích bia và lăng mộ Lê Thì Hiến được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1993 còn một đôi voi phục, một đôi tuấn mã, văn bia, hương án, sập ngự…là những dấu tích quý giá còn sót lại và có giá trị cao đối với ngành điêu khắc đá. Đây là địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Hào | |
Làng Tam Lạc | Làng Tam Lạc[201] thuộc xã Xuân Thọ, huyện Triệu Sơn. Đây là địa danh Ủy ban kháng chiến Xuân Thọ đặt trụ sở làm việc tại đình Tam Lạc thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945. Vào năm 1950, Sư đoàn 304, Đại đoàn Vinh Quang, đơn vị chủ lực quân thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng được thành lập tại đây. Năm 1952, đình Tam Lạc thuộc làng Tam Lạc còn là nơi tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân... Đình Tam Lạc không chỉ lưu giữ các giá trị văn hóa mà đây còn là một “địa chỉ đỏ” về truyền thống lịch sử và cách mạng. | Tam Lạc |
3.26. Huyện Vĩnh Lộc: 21 địa danh
3.27. Huyện Yên Định: 08 địa danh
STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bãi Lai | Bãi Lai thuộc huyện Yên Định. Đây là một địa danh khi mới xây dựng nông trường Thống Nhất trước đây và hiện nay đã đặt tên một cây cầu bắc qua sông Hép thuộc địa giới thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bãi Lai | |
Chợ Bản | Chợ Bản trước thuộc làng Bản, xã Định Tăng, huyện Yên Định, sau nhiều lần di chuyển địa điểm từ Định Hải và thị trấn Quán Lào. Đến nay chuyển về đóng tại thôn Tân Ngữ 2, xã Định Long - Một chợ truyền thống có từ lâu đời. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chợ Bản | |
Đình Làng Hổ | Đình Làng Hổ thuộc xã Định Hưng nay là thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, nơi thờ công chúa Phương Hoa - người có công lập làng. Năm 2017, với những giá trị lịch sử và văn hóa đình làng Hổ được công nhận di tích lịch sử theo Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 20/01/2017. | Làng Hổ | |
Làng Kênh | Làng Kênh thuộc xã Định Tân, huyện Yên Định được hình thành từ xóm Kênh. Theo lịch sử địa phương cho biết, vào thời vua Gia Long (triều Nguyễn), xóm Kênh xin tách khỏi làng Tràng Lang (làng Dài) để lập thành Kênh Thôn, là ngôi đình có giá trị về lịch sử. Đình là nơi thờ Thành Hoàng làng, vị thần bảo hộ, mang lại bình yên cho Nhân dân trong làng và đã được công nhận di tích lịch sử theo Quyết định số 2517/QĐ-UBND ngày 04/8/2011. | Làng Kênh | |
Làng Lê | Làng Lê thuộc xã Yên Thái, huyện Yên Định. Nơi đây có giống cải trồng trên bãi để muối dưa ăn rất ngon, đây từng là đặc sản để tiến vua, Nhân dân gần xa vẫn quen gọi là Dưa Lê (tức Dưa cải làng Lê). | Làng Lê | |
Làng Phù Hưng | Làng Phù Hưng[215] thuộc xã Yên Thái, huyện Yên Định. Là làng cổ ra đời từ rất sớm, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và cách mạng. Đặc biệt làng có đình làng Phù Hưng là di tích lịch sử văn hóa và cách mạng theo Quyết định số 230/VHQĐ ngày 08/7/1995 và Quyết định số 171/QĐ-UBND ngày 17/01/2011. | Phù Hưng | |
Làng Thiết Đinh | Làng Thiết Đinh[216] thuộc xã Định Tường, huyện Yên Định (nay là khu phố Thiết Đinh, thị trấn Quán Lào) được lập từ thời Tiền Lê với ông tổ là Lê Huệ Nhỡn đến Lê Đình Kiên là đời thứ chín. Làng còn được gọi là bản Đanh thuộc xứ xã bản (bản Vọc, bản Chùa, bản Chợ, bản Đanh). Làng có ngôi đình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật nên được công nhận là di tích lịch sử theo Quyết định số 230/VHQĐ ngày 8/7/1995. | Thiết Đinh | |
Phố Thăng Long | Phố Thăng Long thuộc huyện Yên Định, là tên gọi của thủ đô Hà Nội xưa kia và là tên gọi của khu phố Thăng Long thuộc thị trấn Thống Nhất từ khi được thành lập. | Thăng Long |
II. TỪ CÓ Ý NGHĨA TIÊU BIỂU VỀ CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI: Tổng số: 11 danh từ
STT | Danh từ | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Dũng Cảm | Dũng Cảm: Là tinh thần chiến đấu quên mình vì tổ quốc hoặc vì nghĩa lớn cần phấn đấu. | Dũng Cảm | |
Hữu Nghị | Hữu Nghị: Có ý nghĩa gặp gỡ, quan hệ giao lưu thân thiện tốt đẹp. | Hữu Nghị | |
Hy Vọng | Hy Vọng: Là điều mong muốn ở thì tương lai tốt đẹp như ý muốn. | Hy Vọng | |
Như Ý | Như Ý: Là mong muốn của con người, từ tập thể, cá nhân đến xã hội và đất nước, nội dung là làm việc gì cũng được như ý muốn, ý nguyện. | Như Ý | |
Quyết Tâm | Quyết Tâm: Là ý chí, nghị lực cao cả để thực hiện bằng được mục đích và việc làm đã xác định ra. | Quyết Tâm | |
Tiến Bộ | Tiến Bộ: Là tiến hơn trước, nhanh hơn trước, chất lượng, kết quả hơn trước. | Tiến Bộ | |
Tiền Phong | Tiền Phong: Có ý nghĩa gương mẫu, đi đầu, đi trước. | Tiền Phong | |
Trung Dũng | Trung Dũng: Là từ nói về sự trung thành của con người với tổ quốc, Nhân dân và gia đình, bạn bè cùng chung một mục đích, lý tưởng, đồng thời để tỏ rõ lòng trung thành thì phải dũng cảm chiến đấu. | Trung Dũng | |
Thái Bình | Thái Bình: Là từ dùng để chỉ trạng thái yên ổn, không có loạn lạc, chiến tranh. | Thái Bình | |
Thái Lai | Thái Lai: Là từ dùng để chỉ tượng trưng cho sự hanh thông, sự lặp lại niềm vui, may mắn. | Thái Lai | |
Tương Lai | Tương Lai: Là kết quả, việc làm dự kiến sau giai đoạn hiện tại. | Tương Lai |
III. TÊN DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH CỦA TỈNH THANH HÓA: 53 di tích, danh lam thắng cảnh
1. Tên di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia trở lên: 35 di tích
STT | Tên di tích | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
Bảng Môn Đình | Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Bảng Môn Đình nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Bảng Môn Đình không chỉ là nơi thờ Thành Hoàng làng mà còn là nơi quy tụ, vinh danh những con người đỗ đạt thành tài của làng. Bảng Môn Đình trở thành biểu tượng sự hiếu học của người Hoằng Lộc, được nhiều nơi biết đến. Năm 1990, Bảng Môn Đình đã được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia. | Bảng Môn Đình | |
Chùa Cách | Chùa Cách (chùa Ngọc Đới) thuộc địa phận làng Cách, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa Cách là ngôi chùa cổ, còn lưu giữ số lượng tượng phong phú đa dạng về các loại hình, bao gồm 39 tượng gỗ, 4 thổ tượng và nhiều đồ thờ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII-XIX. Chùa được Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc gia năm 2011. | Chùa Cách | |
Chùa Hinh Sơn | Chùa Hinh Sơn thuộc địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Chùa thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), chùa được tạo ra trong hang núi An Hoạch. Trên vách đá trước cửa chùa khắc ba chữ “Hinh Sơn động”. Cấu trúc chùa gồm Tiền đường, Trung đường và Hậu cung. Trong chùa còn lưu giữ tấm bia ma nhai “Hinh Sơn cổ tự bi” được khắc niên hiệu Kiến Phúc (1884) ghi về việc tu tạo chùa. Chùa thờ Phật và Thánh Mẫu. Hậu cung có tượng Khổng Minh được khắc trực tiếp vào vách hang. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Hinh Sơn | |
Chùa Hoa Long | Chùa Hoa Long nằm ở thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc. Chùa còn được gọi là chùa Bản Thủy. Chùa được xây dựng từ thời Trần. Khi khởi dựng, chùa quay mặt hướng Bắc, nằm bên cạnh hồ sen, bố cục theo hình chữ nhị gồm hai tòa nhà Tiền đường và Hậu cung liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất. Bên trái phía trước chùa là một dãy nhà ngang dùng làm nơi cho sư trụ trì và khách thập phương nghỉ chân. Hiện nay, chùa Hoa Long còn lưu giữ được đôi câu đối ghi lại sự kiện khởi dựng chùa thửa trước. Cụm di tích chùa Hoa Long - đền thờ Trần Khát Chân được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2004. | Chùa Hoa Long | |
Chùa Hương Nghiêm | Chùa Hương Nghiêm (tức Hương Nghiêm tự) ở thôn 3, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia từ năm 1990, là một trong số ít ngôi chùa có lịch sử ra đời vào loại sớm nhất ở Thanh Hóa. Thời Nguyễn nơi đây thuộc xã Phủ Lý, tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Vùng đất này, từ Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần thường gọi là giáp Bối Lý. | Hương Nghiêm | |
Chùa Kênh | Di tích lịch sử bia Chùa Kênh (Hưng Phúc Tự) thuộc xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn là di tích lịch sử quốc gia năm 1995. Chùa Kênh được khởi công năm 1264, xây dựng hoàn chỉnh năm 1326. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, gắn liền với một thời kỳ phát triển rực rỡ của đạo Phật. Tấm bia đá Chùa Kênh là một công trình điêu khắc nghệ thuật, minh chứng cho những chiến công vang dội của quân và dân Sầm Sơn - Quảng Xương, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỉ XIII. | Chùa Kênh | |
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh | Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh nằm trên địa bàn làng Duy Tinh, xã Thuần Lộc (trước đó là xã Văn Lộc). Chùa được xây dựng từ thời Lý và được Bộ Văn hóa, Thể thao xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc gia năm 1990. | Sùng Nghiêm | |
Chùa Tường Vân | Chùa Tường Vân hay còn gọi là chùa Giáng thuộc khu phố 3, thị trấn Vĩnh Lộc. Hơn 600 năm tồn tại, gắn bó với vùng đất từng là kinh đô nước Đại Ngu, vương triều nhà Hồ (1400 - 1407), chùa Tường Vân là một trong những công trình kiến trúc quan trọng có giá trị nổi bật về ý nghĩa văn hóa cũng như lịch sử. Khi xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly đã cho làm một con đường từ cửa Nam tới chùa Tường Vân, đàn Nam Giao (đường Hoa Nhai hay đường Hoàng Gia) để các thân vương, quý tộc đến chùa lễ phật cầu phúc cho chúng sinh, vì vậy chùa Tường Vân được coi là ngôi chùa quốc tự của vương triều Hồ. Được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2009. | Tường Vân | |
Chùa Vích | Chùa Vích thuộc xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa được xếp hạng di tích cách mạng cấp tỉnh 1994, di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 2008. | Chùa Vích | |
Đền Am Tiên | Đền Am Tiên là một ngôi đền nằm ở núi Nưa, phố Cổ Định, thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cao 585 m so với mực nước biển. Ngôi đền thuộc quần thể di tích lịch sử Quốc gia Am Tiên, trong đó bao gồm núi Nưa, Đền Nưa và Am Tiên, có tổng diện tích 100 ha. Nơi này là nơi khởi điểm dấy binh của Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng với anh trai là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa chống Đông Ngô. Vào ngày 27 tháng 3 năm 2009, quần thể di tích lịch sử Quốc gia Am Tiên đã được nhà nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc gia. Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. | Am Tiên | |
Đền An Lạc | Di tích lịch sử Đền An Lạc thuộc xã Hoằng Hải, huyện Hoằng Hóa, đây là nơi thờ vị Khai quốc công thần Lê Lai “Suy trung đồng đức, hiệp mưu, Bảo chính Lũng Nhai công thần” và các vị công thần thuộc dòng tộc của Lê Lai như: Hiệp Quận công Lê Lạn (em của Lê Lai); 3 người con Lê Lai (Thiếu úy Lê Lư, Thái bảo Lê Lộ, Thái úy Trung quốc công Lê Lâm) và Tể tướng Lê Niệm (con Lê Lâm, cháu Lê Lai). Di tích đã được xếp hạng quốc gia năm 2001. | An Lạc | |
Đền Cây Vải | Đền Cây Vải thuộc Khu di tích lịch sử và thắng cảnh Bỉm Sơn (bao gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng, đình làng Gạo, đồi Ông, đền Sòng Sơn - Chín Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh Chim). Di tích hiện nay thuộc phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tương truyền, đền thờ một người phụ nữ (gọi là bà Giếng) - được giao nhiệm vụ mở quán hàng ở gốc vải to để làm nhiệm vụ cảnh giới cho quân của Quang Trung khi đánh quân Thanh. Đền Cây Vải được xếp hạng là di tích quốc gia năm 1993. | Cây Vải | |
Đền Đàm Lê | Đền Đàm Lê thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa, di tích thờ Thái tổ Cao Hoàng đế và các Quận công họ Đàm. Kiến trúc di tích hình chữ Nhị gồm Tiền đường và Hậu cung. Hai bên Tiền đường là nhà Tả vu và Hữu vu. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Đàm Lê | |
Đền Hổ Bái | Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Hổ Bái thuộc xã Yên Bái, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ vị Lạc Hầu thời Hùng Vương dựng nước trong lịch sử Việt Nam. Đây là một di tích có giá trị nghiên cứu khoa học và giáo dục ý thức về cội nguồn dân tộc một cách sâu sắc. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Hổ Bái | |
Đền Thanh Xuyên | Đền Thanh Xuyên thuộc xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, nay là thị xã Nghi Sơn. Đền Thanh Xuyên thuộc cụm di tích kiến trúc nghệ thuật và thắng cảnh Lạch Bạng (Đền Lạch Bạng, Thanh Xuyên, Du Xuyên và chùa Đót Tiên), là nơi thờ Thần hoàng - Người họ Nguyễn có công lập làng, lập ấp. Sự tích của Thần hoàng Thanh Xuyên được ghi lại trong tấm bia dựng ở đền. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1990. | Thanh Xuyên | |
Đền thờ Đề Lĩnh | Đền thờ Đề Lĩnh thuộc thôn Trung, xã Lương Niệm, phủ Quảng Xương, nay là tổ dân phố Khanh Tiến, phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn. Ngôi đền nằm trên gò đất cao, rìa làng thờ thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang Lộc, dân trong vùng thường gọi là Đề Lĩnh, ông là người làng Bồng Báo thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Đền thờ Đề Lĩnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1993. | Đề Lĩnh | |
Đền thờ Tây Phương Đại tướng quân | Đền thờ Tây phương Đại tướng quân (còn có tên gọi là đền Cá Lập) thuộc xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn (nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn). Cá Lập là tên đền và cũng là tên làng. Ngoài ra còn có tên gọi là làng Trấp, đền thờ một vị tướng làm Thành Hoàng - Trần Đức và mười vị phúc thần khác, các vị đều là người có công với dân với nước, khi chết được làm thần. Để tưởng nhớ công lao to lớn của tướng quân Trần Đức, các triều đại phong kiến Việt Nam truy phong ngài là: Tây phương Đại tướng quân và cho lập đền thờ ông ngay tại quê nhà - thôn Cá Lập. Di tích được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1999. | Tây Phương | |
Đình Phương Chính | Đình Phương Chính thuộc phường Đông Lĩnh thành phố Thanh Hóa, đình thờ Thành Hoàng làng. Kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII có cấu trúc 2 tầng 8 mái, mỗi góc 4 cột bố trí đều nhau trên mặt bằng hình vuông. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Phương Chính | |
Đình Sét | Di tích kiến trúc Đình làng Sét thuộc xã Định Hải, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ Đức Thành Hoàng là ông họ Trương gồm: Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ, Trương Đình Chinh có công phò vua Lê và chúa Trịnh Kiểm (1545-1569), Trịnh Tùng (1570 -1623). Ngoài ra các ông còn có công giúp làng mở mang khai hóa thành lập làng. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1995. | Đình Sét | |
Đình Thượng | Đình Thượng thuộc Cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), đình nằm trên địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đình là nơi thờ Thành Hoàng - Ông tổ nghề đục đá của làng An Hoạch. Đình Thượng cấu trúc theo kiểu chữ Đinh gồm Tiền đình và Hậu cung. Sân đình được bài trí tượng Võ sĩ, tượng quan hầu, voi đá, ngựa đá và hương án đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Đình Thượng | |
Đình Trung | Đình Trung nằm trên địa bàn xã Hà Yên (nay là xã Yên Dương), huyện Hà Trung. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVII theo kiến trúc truyền thống và là một trong những di tích khá nguyên vẹn về kiến trúc điêu khắc. Đình làng thờ Thành Hoàng làng Tô Hiến Thành và là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời của người dân địa phương. Hằng năm vào ngày 17, 18 tháng giêng Âm lịch, Nhân dân trong làng tổ chức lễ hội truyền thống để tỏ lòng thành kính với vị Thành Hoàng làng. Năm 2004, đình làng Đình Trung được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia (Theo Quyết định số 106/QĐ-BTBVH, ngày 15/12/2004). | Đình Trung | |
Đông Đoài | Đông Đoài thuộc xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, đây là nơi thờ 3 vị thần là: Du Dịch Đại vương, Càn Thiên công chúa và Chiêu Nghi công chúa (tên thật của bà là Mai Thị Ngọc Tiến). Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1994. | Đông Đoài | |
Đồng Ngầm | Đồng Ngầm thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di chỉ khảo cổ học nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc làng Nhuận Thạch). Di chỉ khảo cổ học được phát hiện và đào thám sát năm 1975, từ cuối năm 1979 - 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn hóa phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng Ngầm (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Đồng Ngầm | |
Đồng Vưng | Đồng Vưng thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di chỉ khảo cổ học Đồng Vưng nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc làng Nhuận Thạch). Di chỉ được phát hiện, đào thám sát năm 1975, từ cuối năm 1979 - 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn hóa phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng Vưng (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Đồng Vưng | |
Đường | Đường Thiên Lý thuộc phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, thuộc khu di tích và thắng cảnh quốc gia Bỉm Sơn. Đường Thiên Lý nối giữa Ninh Bình và Thanh Hóa đi qua đèo Ba Dội và động Cửa Buồng, ranh giới giữa hai miền Bắc và miền Trung. Di tích đường Thiên Lý thuộc quần thể phòng tuyến Tam Điệp, con đường Thiên Lý quanh co uốn lượn qua bãi lau lách, hai bên đường là dãy núi đá sừng sững gợi lại những hình ảnh sống động và bước đường hành quân thần tốc của những người anh hùng áo vải Tây Sơn. |
| |
Hang chùa Quan Thánh | Hang Chùa Quan Thánh thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), di tích nằm trên địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Chùa do Lê Đình Truyền người sở tại dựng vào năm Hoằng Định thứ 10 (1610), Trấn thủ Thanh Hóa là Nguyễn Trung Nghĩa tu bổ. Kiến trúc chùa nằm trong lòng hang. Nơi đây thờ tượng Quan Vũ, Chu Xương đời Hán Trung Quốc. Trong chùa có hệ thống các bia đá và các pho tượng khắc trên vách đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Quan Thánh | |
Hang Treo | Hang Treo là tên gọi hang đá thuộc xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành, nơi thành lập Đội du kích Ngọc Trạo - Tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hóa. Hiện nay, Hang Treo là một di tích thuộc cụm di tích Chiến khu Ngọc Trạo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1994. | Hang Treo | |
Lăng Hoàng Khảo | Lăng Hoàng Khảo thuộc làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, đây là nơi Đức Hoàng Khảo nhà Tiền Lê yên nghỉ. Ngài họ Lê, húy Mịch là thân phụ Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Lăng được tôn tạo lại có diện tích 250m2, mộ được xây bằng đá nguyên khối, tường bao chạm hoa chanh, trụ gắn hoa sen, lưỡng hổ chầu uy nghiêm. Đây cũng là một trong các địa điểm của quần thể di tích Lê Hoàn đã được xếp hạng di tích quốc gia năm 1990. | Hoàng Khảo | |
Lăng Quốc Mẫu | Lăng Quốc Mẫu thuộc làng Yên Năng, xã Phú Yên (nay là xã Xuân Phú), huyện Thọ Xuân, là nơi Hoàng Thái hậu nhà Tiền Lê yên nghỉ - Người họ Đặng, húy Sen là thân mẫu Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Khu lăng mộ được tôn tạo lại trong khuôn viên cũ với tổng diện tích 1.714,3m2. Mộ Hoàng Thái hậu được làm bằng đá nguyên khối có tường bao quanh, chạm khắc hoa chanh với nghê chầu, hổ phục, hoa sen hàm tiếu. Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1990. | Quốc Mẫu | |
Nghè Vẹt | Nghè Vẹt thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. Nghè Vẹt là nơi thờ 10 đời chúa Trịnh, gồm: Trịnh Khanh Vương Trịnh Kiểm, Bình An Vương Trịnh Tùng, Thành Đô Vương Trịnh Tráng, Tây Đô Vương Trịnh Tạc, Bình Vương Trịnh Căn, An Đô Vương Trịnh Cương, Uy Nam Vương Trịnh Giang, Minh Đô Vương Trịnh Doanh, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, Đoan Đô Vương Trịnh Khải. Di tích có kiểu kiến trúc thế kỷ XVII, hình “chuôi vồ”. Nghè Vẹt được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1995. | Nghè Vẹt | |
Núi Bạch Thạch | Núi Bạch Thạch hay còn gọi là Núi Chiểu, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, là ngọn núi đá đẹp nổi tiếng xứ Thanh. Theo sử sách ghi lại Núi Bạch Thạch có đền thờ Tướng quân Thiều Thốn - một tướng giỏi thời nhà Trần. Núi Bạch Thạch (thuộc khu di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Bạch Thạch | |
Núi Nấp | Di tích Núi Nấp, địa điểm thanh niên xung phong thuộc xã Đông Hưng, thành phố Thanh Hóa. Trong lịch sử, Núi Nấp là địa điểm trọng yếu của con đường vận chuyển hàng hóa, đạn dược chi viện cho tuyến miền Nam. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận bắn phá ác liệt trong cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ. Tại đây ngày 11/5/1967, 13 cô gái thanh niên xung phong cùng với 4 công nhân đường sắt hy sinh tại chỗ, 27 nam, nữ thanh niên xung phong khác bị thương do trận dội bom của Mỹ lên Núi Nấp. Di tích được xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1995. | Núi Nấp | |
Thạch Tuyền | Thạch Tuyền thuộc di tích nghệ thuật Đền Trung - đền Đông Đoài - chùa Thạch Tuyền, thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, là ngôi chùa cổ được xây dựng vào năm Cảnh Hưng (1740 -1786) trùng tu năm 1936. Trong chùa còn lưu giữ 10 pho tượng phật cổ có cùng thời gian dựng chùa. Chùa Thạch Tuyền, đền Trung, đền Đông Đoài đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia năm 1994. | Thạch Tuyền | |
Từ đường Phúc Quang | Di tích lịch sử Từ đường Phúc Quang thuộc xã Định Hòa, huyện Thiệu Yên. Từ đường Phúc Quang là nơi thờ các vị Tổ họ Ngô Đồng Phang và các vị khai quốc công thần triều Lê là Ngô Kinh và Ngô Từ. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1995 và được cấp đổi năm 2016. | Phúc Quang | |
Vườn Trầu | Vườn Trầu thuộc Cụm di tích cách mạng Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là khu vườn mà các Đảng viên Tân Việt Xuân Minh tổ chức làm kinh tế (như trồng trầu và nuôi gà). Đồng thời ở đó có một cuộc gặp quan trọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ Thanh Hóa họp để kiểm điểm tình hình và cử đồng chí Nguyễn Xuân Thúy đi Nghệ An để nhận chỉ thị của xứ ủy để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh ủng hộ Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Vườn Trầu cũng là điểm liên lạc bắt mối của nhiều cán bộ cách mạng. Di tích được xếp hạng lịch sử cách mạng quốc gia năm 1993. | Vườn Trầu |
2. Tên danh lam thắng cảnh có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa: 18 danh lam thắng cảnh
IV. TÊN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG (Sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của quốc gia, của tỉnh Thanh Hóa): 20 tên
1. Tên phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của quốc gia: Không có
2. Tên phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa: 20 phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược
V. TÊN DANH NHÂN: 220 danh nhân
1. Danh nhân đất nước: 18 danh nhân
Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch | |
Bùi Huy Bích | Hà Nội | Bùi Huy Bích (1744 - 1818) tự Hi Chương (hay Ảm Chương) hiệu Tồn Am, quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội, làm quan triều Lê đến chức tể tướng, ông còn là một nhà thơ, nhà biên soạn sách. | |
Hồ Biểu Chánh | Long An | Hồ Biểu Chánh (1885 - 1958) tên thật là Hồ Văn Trung, quê làng Bình Thành, huyện Kiến Hòa, nay thuộc tỉnh Long An. Ông là nhà văn lớn, có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với 64 cuốn tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và 5 tập thơ...Ông đã có công lao đóng góp vào sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. | |
Lê Cố | Thanh Hóa | Lê Cố (? - ?), quê huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, có tên trong danh sách 35 vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà Lê, được phong tước Đường Quận công. | |
Nguyễn Đỗ Cung | Hà Nội | Nguyễn Đỗ Cung (1912 - 1977), quê Sơn Tây nhưng sinh ở làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ông nổi tiếng về sự nghiệp hội họa, là viện trưởng đầu tiên Viện mỹ thuật, mỹ nghệ Việt Nam, sáng lập ra Viện bảo tàng mỹ thuật, đồng thời cũng là một sáng lập viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. | |
Nguyễn Quý Đức | Hà Nội | Nguyễn Quý Đức (1647 - 1720) quê làng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông làm quan triều Lê, là một nhà chính trị xuất sắc có nhiều công trạng với triều đình và đất nước. | |
Đoàn Nhữ Hài | Hải Hưng | Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1335), quê làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, Hồng Châu nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng. Ông làm quan dưới thời Trần, ông là một tài năng xuất sắc từ lúc còn thiếu niên, khá tiêu biểu cho con người trí thức toàn diện của nước ta dưới thời Trần, đặc biệt không bằng con đường khoa cử để tiến thân mà bằng thực học và bằng sự tích lũy nhiều kiến thức, vận dụng chính xác vào thực tiễn. | |
Nguyễn Hành | Hà Tĩnh | Nguyễn Hành (1771 - 1824), quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, chính tên là Nguyễn Đạm. Ông học rộng biết nhiều, có biệt tài về thơ, ông cùng Nguyễn Du được coi là hai trong số 5 nhà thơ nổi tiếng nhất thời bấy giờ (thường gọi là An Nam ngũ tuyệt). | |
Văn Ký | Nam Định | Vũ Văn Ký (Văn Ký) (1928 - 2020), quê Vụ Bản, tỉnh Nam Định, lên 10 tuổi theo cha ở tại làng Bi Kiều, xã Trung Chính. Học hết tiểu học, bố mất nhà nghèo, ở với chú, ngày ngày gánh hành cùng người thím đi chợ Nưa. Tháng 10/1943 ông được đồng chí Trịnh Huy Tự giác ngộ vào Mặt Trận Việt Minh huyện Nông Cống. Tháng 10/1944 ông bị bắt giam tại nhà tù Thanh Hóa. Cách mạng thành công, ông được làm Trưởng Ban Tác chiến trong Ủy ban huyện Nông Cống, ông đi học âm nhạc kháng chiến quân khu IV trở thành nhạc sĩ nổi tiếng, được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022. | |
Nguyễn Bá Lân | Hà Nội | Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785), quê xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong nay là Cổ Để, huyện Ba Vì ngoại thành Hà Nội. Là một danh tướng dưới triều Lê Hiến Tông, ông còn nổi tiếng là danh sĩ, được ca ngợi là một trong 4 người giỏi ở Thăng Long (Trường An tứ hổ). | |
Đàm Văn Lễ | Bắc Ninh | Đàm Văn Lễ (1452 - 1505), quê làng Lãm Sơn, huyện Quế Dương, nay thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm quan dưới triều Lê, ông có nhiều đóng góp với văn hóa nước nhà, đồng thời ông còn là một nhà thơ. | |
Dương Không Lộ | Thái Bình | Dương Không Lộ (1016 - 1094), quê làng Giao Thủy, huyện Hải Thanh, tỉnh Thái Bình. Ông làm quan dưới triều Lý Nhân Tông và được phong làm quốc sư, ông cũng được xem là vị tổ nghề đúc đồng. | |
Hoàng Ngân | Nam Định | Hoàng Ngân (1921 - 1949), quê Nam Định, tên thật là Phạm Thị Vân là Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam đầu tiên, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm đầu tiên của báo Phụ nữ Việt Nam, một trong những người đi đầu của phong trào phụ nữ Việt Nam, vợ của đồng chí Hoàng Văn Thụ. | |
Lê Khả Phiêu | Thanh Hóa | Lê Khả Phiêu (1931 - 2020), quê xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII. Tháng 5/1950, ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam; Ông đã tham gia chiến đấu và trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên các chiến trường Bắc, Trung, Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia; tham gia các chiến dịch lớn như: Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam (1975). Đặc biệt, ông đã có 10 năm tham gia giúp nước bạn Campuchia đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt (1979 - 1989), giúp hồi sinh dân tộc Campuchia. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII, ông được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Quân sự Trung ương và giữ cương vị này đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001). Ông là đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, X; được Đảng và Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng năm 1984, Trung tướng năm 1988, Thượng tướng năm 1992. | |
Hà Tông Quyền | Hà Tĩnh | Hà Tông Quyền (1798 - 1839) quê gốc ở Can Lộc, HàTĩnh sau di cư ra làng Cát Động, huyện Thanh Oai, Hà Tây làm quan dưới triều Nguyễn, ông có tiếng về chính trị đồng thời ông cũng quan tâm đến văn nôm, ông có ba tập thơ Vịnh Kiều. | |
Đào Công Soạn | Hưng Yên | Đào Công Soạn (1376 - 1456), quê làng Tiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông làm quan triều Lê, có tài về ngoại giao sang sứ nhà Minh nhiều lần, ông đã lần lượt phụ trách nhiều ngành công tác trong triều. | |
Chu Thiên | Hà Nam | Chu Thiên (1913 - 1992) quê xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà sử học, nhà văn, tinh thông cả Nho học và Tây học. Nổi tiếng về những bộ tiểu thuyết lịch sử, trong đó phục dựng lại các biến cố, các nhân vật lịch sử, làm sống lại nhiều phong tục tập quán của xã hội Việt Nam truyền thống. | |
Bùi Viện | Thái Bình | Bùi Viện (1839 - 1878), quê làng Trình Phố, huyện Trực Định (nay là huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), làm quan dưới thời vua Tự Đức, là một trong những người đầu tiên xây dựng cảng Hải Phòng. Thành tựu của ông để lại có ý nghĩa mở đầu đối với yêu cầu duy tân ở các mặt thủy quan, thương mại hàng hải. | |
Ngô Thế Vinh | Nam Định | Ngô Thế Vinh (1802 - 1856), quê làng Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tự là Trọng Dực, hiệu Trúc Đường, Dương Đình, đỗ tiến sĩ 1829, làm quan triều Nguyễn, đồng thời ông còn là một nhà giáo dục nổi tiếng nửa đầu thế kỷ XIX. |
2. Danh nhân, nhân vật lịch sử được suy tôn tại Thanh Hóa: 202 danh nhân
2.1. Danh nhân, nhân vật lịch sử là người ngoài tỉnh có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa: 07 danh nhân
STT | Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch |
Trương Văn Bang | Long An | Trương Văn Bang (1911 - 1981), quê quán làng Phước Lại, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An). Ông nguyên Bí thư Đảng ủy Nông trường Lam Sơn (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa); Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. | |
Quách Đình Bảo | Thái Bình | Quách Đình Bảo (1434 - 1507), quê xã Phúc Khê, huyện Thanh Lan, nay là xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đỗ thám hoa (1463), làm quan triều Lê Thánh Tông, từ học sĩ Viện Hàn Lâm đến Thượng thư bộ Lễ bộ Hình. Ông là anh trai Quách Hữu Nghiêm, hai anh em cùng tham gia vịnh thơ khắc trong văn bia Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao ở Vĩnh Lăng Lam Kinh. Ông còn là 28 vì sao sáng trên bầu trời thơ văn Đại Việt lúc đó như: Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lương Thế Vinh, Lê Hoằng Dục, Nguyễn Đình Mỹ... cho ra đời nhiều tập thơ: Hồng Đức quốc âm thi tập, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Xuân văn thi tập... ông là một thành viên tích cực của Tao đàn. Năm 1484, Lê Thánh Tông sai ông ghi chép họ tên thứ bậc các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo năm thứ 3 (1442) triều Lê Thái Tông đến khoa Giáp Thìn Hồng Đức năm thứ 15 (1484), tổng cộng 10 khoa, để bộ Công khởi công dựng bia Tiến sĩ (trong đó ghi chép rất nhiều những danh sĩ người Thanh Hóa). | |
Nguyễn Sỹ Dũng | Bình Định | Nguyễn Sỹ Dũng (? - ?), quê Bình Định. Theo gia phả dòng họ Nguyễn Sỹ ở làng Lộc Trung, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, Nguyễn Sỹ Dũng tên thật là Vũ Văn Dũng; quê làng Phù Mỹ, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông là hổ tướng số một trong 7 vị tướng tài của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của Nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII. Ông đã từng giữ chức Đại Tư Khấu, rồi Đại Tư Đồ dưới triều vua Nguyễn Quang Toản (con Quang Trung) và là người có nhiều công lao trong việc trấn thủ Bắc Thành (Hà Nội), chỉ huy nhiều trận đánh lớn chống thế lực thù địch ở đàng trong của Nguyễn Ánh thời bấy giờ, nổi nhất là trận Thị Nại năm 1800 - 1801. Sau khi vua Quang Trung mất, để tránh sự truy sát của Nguyễn Ánh, Ông đã đưa gia đình chạy ra vùng đất Lộc Trung, Thanh Hóa (nay thuộc phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn) ẩn dật và đổi tên thành Nguyễn Sỹ Dũng. Để tưởng nhớ công lao của Đô đốc Nguyễn Sỹ Dũng, Nhân dân làng Lộc Trung lập đền thờ ông ở gần cửa Lạch Hới, phường Quảng Tiến ngày nay. Đền thờ Nguyễn Sỹ Dũng được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1993. | |
Lý Nhật Quang | Ninh Bình | Lý Nhật Quang (995 - 1057), quê tỉnh Ninh Bình, là hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Vào nửa đầu thế kỷ XI, vua Lý đã cử ông vào trấn ải phương Nam, ông thay mặt triều đình cai quản phía nam, để ổn định xã hội và bảo vệ vùng phên dậu Đại Việt. Ông đã có công tổ chức và xây dựng được vùng căn cứ hậu cần vững chắc dọc tuyến sông Bà Hòa (sông Lạch Bạng) và dựng trại bà Hòa (xã Trường Lâm) để dựng trại tập kết quân đội, cất giữ lương thực, giúp vua Lý Thái Tông đánh thắng Chiêm Thành. | |
Đinh Đức Thiện | Nam Định | Thượng tướng Đinh Đức Thiện (? - ?), quê Nam Định, ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ trách công tác hậu cần kỹ thuật và vận tải thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Ông từng về huyện Thạch Thành và đã giúp huyện 03 máy phát điện phục vụ hoạt động của cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện. | |
Vũ Xuân Thiều | Nam Định | Vũ Xuân Thiều (1945 - 1972), quê gốc ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa học tập và huấn luyện bay ở Liên Xô (trước đây), phi công Vũ Xuân Thiều trở về nước và được biên chế về Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (E921). Tháng 12/1972, khi Mỹ mở rộng cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B-52. Đêm 28/12/1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay quân sự Cẩm Thủy (Thanh Hóa) bay đến vùng trời Sơn La thì gặp máy bay B-52 của Mỹ đang đánh vào Hà Nội. Vũ Xuân Thiều tấn công, máy bay B-52 của địch bốc cháy, vì ở cự ly quá gần anh đã hy sinh cùng lúc lập chiến công. Tháng 12/1994, ông đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân. | |
Hoàng Kế Viêm | Quảng Bình | Hoàng Kế Viêm (1820 - 1909), quê làng Văn La, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, ông làm quan cuối triều Nguyễn, là vị quan xuất sắc về mặt võ, có công dẹp yên được một số vụ rối loạn ở Bắc Kỳ. Năm 1854 ông được cử làm Bố chính Thanh Hóa. Ông còn quan tâm đến kinh tế như đào kênh thiết cảng ở Nghệ An, khai khẩn đất hoang ở quê nhà. |
2.2. Danh nhân, nhân vật lịch sử Thanh Hóa: 163 danh nhân
2.3. Các chiến sĩ cách mạng trung kiên tỉnh Thanh Hóa: Không có
2.4. Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân: 31 anh hùng
2.5. Anh hùng lao động: 01 tên
Phụ lục II
SỬA ĐỔI PHỤ LỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND
NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số: /2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
( Tổng số: 22 tên)
d
Hàm Long được dùng đặt tên cho một phố của phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa. ↑
Tại mục này, cơ quan thường trực đang tập hợp đề xuất đưa vào tổng số các tên phủ, tổng, châu có trong sách Đồng Khánh địa dư chí. Cụ thể, theo Đồng Khánh địa dư chí có: 05 phủ (phủ Hà Trung, phủ Thiệu Hóa, phủ Tĩnh Gia, phủ Quảng Hóa, phủ Thọ Xuân). Hiện tại 01 phủ: Quảng Hóa không còn được dùng, tuy nhiên đã có trong Nghị Quyết số 90/2017/NQ-HĐND, 03 phủ hiện dùng tên của các huyện, thị; 01 phủ Tĩnh Gia đã không còn tên do sáp nhập. Cơ quan thường trực đề xuất đưa tên Tĩnh Gia vào); có 128 tổng, trong đó có 03 tổng đến nay thuộc địa danh hành chính Lào (tổng Trình Cố; tổng Chấp Yết; tổng Trình Phủ); bổ sung vào lần này 90 tên tổng; 31 tên tổng hiện một số có tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND; 02 tên tổng hiện đang là tên đơn vị hành chính cấp huyện (tổng Ngọc Lặc, tổng Yên Định); Có 19 châu, huyện, trong đó đưa vào 05 châu, huyện (Mỹ Hóa, Thụy Nguyên, Quảng Tế, Lôi Dương, Lương Chánh); có 02 tên đã có Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND, 12 tên hiện các đơn vị hành chính cấp huyện, thị đang dùng (huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Xương, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quan Hóa, Cẩm Thủy, Thường Xuân). ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1143, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1099, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Vạn Lai - Yên Trường: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1090, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1136, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1087, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1133, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1096, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1123, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1096, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1089, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1126, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1097, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1094, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1137, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1146, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1144, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1136, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1091, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1134, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1102, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1138, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1102, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1131, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí ↑
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1130, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1140, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1099, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1120, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí ↑
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí ↑
Dẫn nguồn: Trang 1150, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1089, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1116, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1135, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1125, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1139, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1116, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1117, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1124, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1115, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải ghi chép. ↑
Mường: Là khu vực tự quản của một Lang đạo. ↑
Dẫn nguồn: Trang 18, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 15, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 33, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2001. ↑
Dẫn nguồn: Trang 38, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2001. ↑
Kẻ - là từ chỉ một khu vực, một vùng đất tương đương với đơn vị hành chính như làng, xã. ↑
Dẫn nguồn: Trang 47, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 45, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1105, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 24, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Theo Quyết định số 219/VHQĐ ngày 25/9/1995. ↑
Dẫn nguồn: Trang 29, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1083, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Trang: Tên dùng để chỉ đơn vị hành chính dưới thời Nguyễn (trang, sở, xã, thôn..) ↑
Theo Địa chí huyện Hà Trung, trang 102 và Lịch sủ Đảng bộ xã Hà Long, trang 20. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1082, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 40, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Nam Khê đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa. ↑
Dẫn nguồn: Trang 46, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Năm 1221, làng Bồ Điền được đổi tên thành làng Phú Điền. Làng Phú Điền được phân chia thành 12 ngõ lát đá, được đặt tên từng ngõ gồm: Ngõ Chùa, Ngõ Củi, Ngõ Liễu, Ngõ Mạc, Ngõ Nang, Ngõ Nhãn, Ngõ Nhồi, Ngõ Thị, Ngõ Bồ Ngòn, Ngõ Củng, Ngõ Y Môn lớn, Ngõ Y Môn bé. (Theo Lịch làng Phú Điền, trang 3). ↑
Đông Lưu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa. ↑
Dẫn nguồn: Trang 87, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1093, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 82, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Theo Làng xã Thanh Hóa, tập 1, trang 64. ↑
Theo Quyết định số 185-TCCP ngày 13/4/1991 của Ban Tổ chức Chính phủ. ↑
Bảo Ninh Lương: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQHĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh. ↑
Mường Chính: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa. ↑
Quang Hiến: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh. ↑
Văn Hiến: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa. ↑
Từ Đoàn kết đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục là danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Mường Lát muốn dùng từ Đoàn Kết với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Bản Đoàn Kết. ↑
Lạch Sung: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa. ↑
Thanh Bình: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa. ↑
Trang 1086, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 75, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 85, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 196, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Theo Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 31/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. ↑
Dẫn nguồn: Trang 207, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 199, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 201, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: trang 217, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 201, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1114, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Sau cách mạng tháng tám (1945) bỏ "châu" đổi thành huyện Ngọc Lặc. ↑
Mường là một vùng (vùng mường, kiểu như: Mường Chẹ, Mường Bi, Mường Vang…) ↑
Di tích cấp tỉnh, tuy nhiên đây là địa chỉ cách mạng có ý nghĩa, địa danh nhiều người biết đến nên đề xuất đưa vào. ↑
Từ Vinh Quang đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục là danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa muốn dùng từ Vinh Quang với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Hồ Vinh Quang. ↑
Mường là một vùng (vùng mường, kiểu như: Mường Chẹ, Mường Bi, Mường Vang…). ↑
Nước bạn Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. ↑
Thạch Châu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa. ↑
Cửa Hới: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Tân Đức là tên một con đường. ↑
Bôn Giàng là tên một con đường. ↑
Cát Đằnglà tên một con đường. ↑
Cát Hòa, Cát Khang, Cát Phú, Cát Thành, Cát Tiến là tên một con đường. ↑
Đồng Bài, Đồng Mai là tên một tuyến đường. ↑
Đồng Bái là tên một cánh đồng. ↑
Đồng Bái: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Duy Tiếu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Đức Hậu: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Nhân Phong: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Hưng Thuận: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Hưng Xá: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Thủ Phác: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Lý Cát là tên một tuyến đường. ↑
Văn Chỉ là tên một tuyến đường. ↑
Văn Thọ: Đã được đặt tên tại Nghị quyết 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh. ↑
Dẫn nguồn: Trang 147, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 146, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 154, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 153, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1101, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 184, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 146, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 151, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 151, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 150, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 147, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 183, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 162, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 183, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 161, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 159, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 176, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 170, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 217, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 218, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 1145, sách Đồng Khánh địa dư chí. ↑
Dẫn nguồn: Trang 251, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Hoa Nhai là tên một con đường cổ. ↑
Dẫn nguồn: Trang 221, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 230, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 226, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 224, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 231, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 225, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 223, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 226, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 250, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Dẫn nguồn: Trang 240, sách Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 2000. ↑
Theo Địa chí huyện Hậu Lộc trang 317. ↑
Ngày 08/5 (dương lịch) hằng năm là ngày kỷ niệm Danh xưng Thanh Hóa được ban hành tại Nghị quyết số 112/NQ-HĐND ngày 11/7/2018. ↑
Mười lăm tháng hai (15/02): Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQHĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh. ↑
Dẫn nguồn theo dịch thuật lý lịch tại văn bia đặt tại đền thờ Tướng quân Khằm Ban thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Phạm Tộc thần từ bi dựng niên hiệu Duy Tân thứ 1 năm 1907 hiện dựng ở đền thờ. ↑
Theo sách Địa chí Thanh Hóa tập IV. Nhân vật chí trang 637. ↑
Phan Kiêm Toàn (theo sách Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xưa, trang 61). ↑
