Công văn 7108/SGDĐT-HSSV TP.HCM 2026 triển khai phòng chống bệnh bại liệt trong giáo dục
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 7108 Số: /SGDĐT-HSSV V/v triển khai công tác phòng, chống bệnh bại liệt trong các cơ sở giáo dục | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2026 17 7 |
Kính gửi: Các cơ sở giáo dục trên địa bàn Thành phố
Căn cứ Kế hoạch số 447/KH-BYT ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Bộ Y tế về giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026; Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố tại Công văn số 6628/VP- VX ngày 27 tháng 3 năm 2026 về việc triển khai Kế hoạch số 447/KH-BYT ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Bộ Y tế; Tiếp nhận Kế hoạch số 9247/KH-SYT ngày 09 tháng 7 năm 2026 của Sở Y tế về giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị Thủ trưởng các cơ sở giáo dục triển khai thực hiện một số nội dung sau:
1. Quán triệt, triển khai thực hiện Kế hoạch số 447/KH-BYT; tiếp tục thực hiện Công văn số 363/SGDĐT-HSSV ngày 14 tháng 01 năm 2026 và Công văn số 3374/SGDĐT-HSSV ngày 17 tháng 4 năm 2026 của Sở Giáo dục và Đào tạo về tăng cường tiêm chủng vắc xin và phòng, chống bệnh bại liệt trong các cơ sở giáo dục.
2. Đẩy mạnh tuyên truyền đến cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha mẹ học sinh về nguy cơ bệnh bại liệt, lợi ích của tiêm chủng, lịch tiêm chủng; vận động trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch theo hướng dẫn của ngành y tế. Ưu tiên truyền thông đối với trẻ chưa tiêm hoặc tiêm chưa đủ mũi, trẻ mới nhập học, trẻ thuộc khu vực có biến động dân cư hoặc khó tiếp cận; đa dạng hình thức tuyên truyền, lồng ghép nội dung phòng, chống bệnh truyền nhiễm trong các hoạt động phù hợp của nhà trường.
3. Khuyến cáo cha mẹ học sinh không tự ý sử dụng thuốc khi chưa có chỉ định của cơ sở y tế; chủ động cập nhật các khuyến cáo của ngành y tế.
4. Phối hợp với cơ sở y tế địa phương rà soát tiền sử tiêm chủng, lập và thường xuyên cập nhật danh sách trẻ dưới 15 tuổi chưa tiêm hoặc tiêm chưa đủ mũi vắc xin phòng bại liệt, bảo đảm không bỏ sót đối tượng.
5. Phối hợp, hỗ trợ cơ sở y tế tổ chức kiểm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều vắc xin phòng bại liệt tại nhà trường theo kế hoạch; thông báo kịp thời đến cha mẹ học sinh và bố trí đầy đủ điều kiện về địa điểm, thời gian, nhân sự để triển khai an toàn, hiệu quả.
6. Theo dõi sức khỏe học sinh hằng ngày; tăng cường gi ám sát, phát hiện sớm trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, đặc biệt các biểu hiện bất thường về thần kinh - vận động. Khi phát hiện trường hợp nghi ngờ, thông báo ngay cho cơ sở y tế địa phương để được hướng dẫn xử trí và phối hợp triển khai các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị Thủ trưởng các cơ sở giáo dục nghiêm túc triển khai thực hiện./.
| Nơi nhận: - Như trên (để thực hiện); - Bộ GDĐT (để báo cáo); - UBND TP.HCM (để báo cáo) - Sở Y tế (để phối hợp); - Giám đốc Sở GDĐT (để báo cáo); - Các phòng thuộc Sở GDĐT (để phối hợp); - Lưu: VT, HSSV (Uyên). | KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC Huỳnh Lê Như Trang |
| ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc | ||||
| Số: /SGDĐT-HSSV | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2026 | ||||
| V/v tăng cường tiêm chủng vắc xin và triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt; phòng, chống cúm mùa, bệnh do vi rút hợp bào hô hấp và bệnh tay chân miệng trong trường học | |||||
| Kính gửi: Thủ trưởng các cơ sở giáo dục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh | |||||
Căn cứ Công điện số 247/CĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường tiêm chủng vắc xin và các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt;
Căn cứ Công văn số 8333/BYT-PB ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Bộ Y tế về tăng cường triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh cúm m ùa, bệnh do vi rút hợp bào hô hấp và bệnh tay chân miệng; Căn cứ Công văn số 180/VP-VX ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc tăng cường tiêm chủng vắc xin và các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt trên địa bàn Thành phố;
Căn cứ Công văn số 13041/VP-VX ngày 10 tháng 12 năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc tăng cường triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh cúm mùa, bệnh do vi rút hợp bào hô hấp và bệnh tay chân miệng g. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị Thủ trưởng các đơn vị triển khai thực hiện:
1. Tăng cường tiêm chủng vắc xin và các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt
- Phối hợp ngành y tế địa phương (Trạm Y tế phường/xã/đặc khu, Trung tâm Y tế/CDC…) tổ chức rà soát, thống kê trẻ em, học sinh dưới 15 tuổi đang học tập tại đơn vị chưa tiêm, chưa tiêm đủ mũi vắc xin phòng bệnh bại liệt theo quy định; lập danh sách, cập nhật biến động, quản lý theo lớp, nhóm lớp.
- Tăng cường truyền thông đến phụ huynh và học sinh về lợi ích tiêm chủng, khuyến cáo đưa trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch; ưu tiên truyền thông tại các nhóm nguy cơ, khu vực có biến động dân cư, trẻ mới chuyển đến, trẻ vắng tiêm, trẻ thuộc diện khó tiếp cận.
- Tăng cường giám sát phát hiện sớm các dấu hiệu nghi ngờ bệnh truyền nhiễm trong trường học; khi ghi nhận trường hợp có biểu hiện bất thường về thần kinh – vận động hoặc nghi ngờ bệnh truyền nhiễm, thông báo ngay cho y tế địa phương để được hướng dẫn xử trí, theo dõi và triển khai biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.
2. Tăng cường phòng, chống cúm mùa, bệnh do vi rút hợp bào hô hấp (RSV) và bệnh tay chân miệng
- Thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh phòng bệnh tại trường học : vệ sinh lớp học, bề mặt tiếp xúc, đồ chơi – dụng cụ học tập (đặc biệt mầm non, tiểu học); bảo đảm thông thoáng phòng học; tổ chức cho học sinh rửa tay thường xuyên với xà phòng, che miệng khi ho, hắt hơi; tăng cường vệ sinh môi trường, thu gom rác thải đúng quy định.
- Tổ chức theo dõi sức khỏe học sinh hằng ngày, kịp thời phát hiện trường hợp có triệu chứng nghi ngờ (sốt, ho, khó thở, sổ mũi; hoặc sốt kèm phát ban, loét miệng, bóng nước ở bàn tay, bàn chân…):
- Thực hiện phân luồng, cách ly tạm thời tại khu vực y tế trường học (nếu có);
- Thông báo phụ huynh đưa học sinh đến cơ sở y tế để khám, tư vấn, điều trị kịp thời;
- Phối hợp y tế địa phương triển khai xử lý ổ dịch (nếu có) và các biện pháp kiểm soát lây lan trong trường học.
- Tăng cường truyền thông đúng đối tượng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh về dấu hiệu nhận biết và biện pháp phòng bệnh; khuyến cáo không tự ý mua, sử dụng thuốc khi chưa có chỉ định; chủ động cập nhật thông tin khuyến cáo của cơ quan y tế.
- Phối hợp công tác kiểm tra, giám sát với y tế địa phương; chủ động rà soát điều kiện bảo đảm phòng, chống dịch (xà phòng, dung dịch sát khuẩn, trang thiết bị y tế tối thiểu, vệ sinh khu vực nhà vệ sinh, nước sạch…); sẵn sàng đáp ứng theo phương châm phù hợp tình hình thực tế.
3. Chế độ thông tin, báo cáo
- Báo cáo ngay về Sở Giáo dục và Đào tạo (qua Phòng Học sinh, sinh viên) và đồng thời thông báo y tế địa phương khi phát hiện:
+ Trường hợp nghi ngờ, chùm ca mắc cúm mùa, RSV, tay chân miệng hoặc bệnh truyền nhiễm khác có nguy cơ lây lan;
+ Sự cố bất thường về sức khỏe tập thể trong trường học.
- Thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Sở Giáo dục và Đào tạo và hướng dẫn của ngành y tế. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị Thủ trưởng các đơn vị nghiêm túc triển khai thực hiện./.
| Nơi nhận: - Như trên (để thực hiện); - Bộ GDĐT (để báo cáo); - UBND TP.HCM (để báo cáo); - Sở Y tế, Sở ATTP (để phối hợp); - UBND 168 phường, xã, đặc khu (để phối hợp); - Giám đốc Sở GDĐT (để báo cáo); - Các phòng thuộc Sở GDĐT (để phối hợp); - Lưu: VT, HSSV (Uyên). | KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC Huỳnh Lê Như Trang |
Căn cứ Kế hoạch số 447/KH-BYT ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Bộ Y tế về giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026; Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Trần Thị Diệu Thúy tại Công văn số 6628/VP-VX ngày 27 tháng 3 năm 2026 về việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 447/KH-BYT ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Bộ Y tế. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị các cơ sở giáo dục triển khai thực hiện:
1. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, cha mẹ học sinh về nguy cơ dịch bệnh bại liệt; vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch theo hướng dẫn của ngành y tế; lồng ghép nội dung phòng, chống bệnh truyền nhiễm trong các hoạt động phù hợp của nhà trường.
2. Các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học phối hợp với cơ sở y tế địa phương rà soát tiền sử tiêm chủng của trẻ, nhất là trẻ mới nhập học; lập danh sách trẻ chưa tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đủ mũi vắc xin phòng bại liệt để phối hợp thông tin, hướng dẫn thực hiện tiêm chủng bù liều theo quy định.
3. Phối hợp triển khai tiêm chủng bù liều theo hướng dẫn của ngành y tế, hỗ trợ, Tạo điều kiện thuận lợi để cơ sở y tế địa phương triển khai các hoạt động kiểm tra tiền sử tiêm chủng, tiêm chủng bù liều cho trẻ tại cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học theo kế hoạch của ngành y tế; đồng thời phối hợp thông báo đầy đủ đến cha mẹ học sinh để bảo đảm không bỏ sót đối tượng.
4. Theo dõi, phát hiện và thông tin kịp thời: Phối hợp chặt chẽ với ngành y tế trong công tác theo dõi sức khỏe học sinh; khi phát hiện trường hợp học sinh có biểu hiện bất thường về sức khỏe, đặc biệt liên quan đến triệu chứng nghi ngờ, cần kịp thời thông tin cho cơ sở y tế địa phương để được hướng dẫn xử lý theo quy định./.
| ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO | 4 |
| ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ Y TẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | ||||||
| 09 | 7 | ||||||
| Số: /KH-SYT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2026 | ||||||
KẾ HOẠCH
Giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ Quyết định số 5142/QĐ-BYT ngày 11 tháng 12 năm 2014 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt”;
Căn cứ Công văn số 7830/BYT-PB ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Bộ Y tế về việc đẩy mạnh công tác phòng, chống bệnh bại liệt; Căn cứ Kế hoạch số 447/KH-BYT ngày 18 tháng 3 năm 2026 của Bộ Y tế về Giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026. Nhằm bảo vệ thành quả thanh toán bại liệt, kịp thời giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Y tế ban hành Kế hoạch giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
I. DỰ BÁO NGUY CƠ BÙNG PHÁT DỊCH BỆNH BẠI LIỆT
1. Tình hình dịch bệnh bại liệt trên thế giới và khu vực Bại liệt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính (nhóm A) rất dễ lây do vi rút bại liệt gây ra, lây truyền từ người sang người theo đường tiêu hóa và di chứng cao, có thể gây ra dịch lớn và cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp theo quy định; khi bị nhiễm vào cơ thể, vi rút sẽ tấn công vào hệ thần kinh trung ương, làm yếu các cơ, phần mềm cấp tính và gây ra chứng bại liệt. Việc xác định đúng tính chất của dịch bệnh sẽ giúp nâng cao mức độ ưu tiên trong chỉ đạo, chuẩn bị nguồn lực và xử lý kịp thời các tình huống nguy cơ cao. Trong năm 2025, dịch bệnh bại liệt đã ghi nhận tại 6 quốc gia (Afghanistan, Pakistan, Mozambique, Cộng hòa Dân chủ Congo, Guiana thuộc Pháp và Guinea) và tháng 8 năm 2025, tại Lào đã ghi nhận 01 trường hợp liệt mềm cấp và 02 trường hợp trẻ khỏe mạnh có kết quả dương tính với vi rút bại liệt loại 1 có nguồn gốc từ vắc xin (VDPV1) tại tỉnh Savannahket (Lào) giáp biên giới tỉnh Quảng Trị. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khi xuất hiện từ một ca bại liệt trở lên được khẳng định bằng xét nghiệm, gây ra bởi vi rút bại liệt hoang dại hoặc biến thể vi rút bại liệt có nguồn gốc vắc xin đang lưu hành thì quốc gia đó được ghi
nhận là đang có dịch bệnh bại liệt xảy ra và nguy cơ dịch có thể lan rộng nếu tỷ lệ tiêm và uống vắc xin bại liệt dưới mức tiêu chuẩn đặt ra. Do đó, WHO nhấn mạnh, trước nguy cơ xảy ra dịch bệnh bại liệt, các quốc gia cần hành động khẩn cấp, phải có sự phối hợp giữa các quốc gia nhằm ngăn chặn nguy cơ bệnh bại liệt quay trở lại, lây lan mạnh trong cộng đồng để tiến tới thanh toán bệnh bại liệt trên toàn cầu. WHO cảnh báo nguy cơ xâm nhập bệnh bại liệt vào Việt Nam là rất cao và khuyến cáo các nước có chung biên giới với Lào (Việt Nam, Cam Pu Chia, Thái Lan) cùng triển khai các biện pháp đáp ứng chống dịch bệnh.
2. Tình hình dịch bệnh bại liệt và các nguy cơ tại Việt Nam Việt Nam đã được WHO công nhận thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000. Tuy nhiên, trước tình hình dịch bệnh tại Lào, nguy cơ dịch bệnh bại liệt xâm nhập từ bên ngoài vào Việt Nam rất cao với khả năng lây truyền qua biên giới là mối đe dọa trực tiếp và hiện hữu, các tỉnh, thành phố tại Việt Nam đã thực hiện đánh giá nguy cơ theo hướng dẫn của WHO. Qua kết quả đánh giá, WHO nhận định tổng thể Việt Nam đang đối diện với nguy cơ cao dịch bệnh bại liệt xâm nhập, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh được xếp ở nguy cơ trung bình. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mật độ dân cư cao, tình trạng di biến động dân cư lớn và mức độ giao lưu quốc tế mạnh, đòi hỏi việc xây dựng và triển khai ngay kế hoạch đáp ứng toàn diện, các biện pháp giám sát, phòng ngừa và tiêm chủng bù liều một cách khẩn trương, đồng bộ theo hướng dẫn của WHO và Bộ Y tế là hết sức cần thiết.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung Đảm bảo phòng, chống dịch bệnh bại liệt kịp thời; tiếp tục bảo vệ thành quả thanh toán bệnh bại liệt đã đạt được từ năm 2000 tại Việt Nam.
2. Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể
- Tăng cường Hệ thống giám sát liệt mềm cấp (LMC)/bại liệt để đạt các chỉ tiêu trên quy mô cấp tỉnh:
+ Tỷ lệ phát hiện ca LMC ≥ 1/100.000 trẻ dưới 15 tuổi;
+ Tỷ lệ ca LMC được lấy đủ 2 mẫu phân đúng tiêu chuẩn đạt ≥ 80%.
+ Tỷ lệ ca LMC được điều tra di chứng trong vòng 60 ngày đạt ≥ 80%.
+ Số mẫu có kết quả phân lập ≤14 ngày đạt ≥80% trên tổng số mẫu.
+ Số mẫu định danh vi rút polio (bằng realtime RT-PCR ITD/VDPV) ≤7 ngày đạt ≥80% trên tổng số mẫu.
- Duy trì tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) trong tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới 1 tuổi đạt ≥ 95% trên quy mô cấp xã.
- Triển khai hoạt động rà soát tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học tại cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học đạt các chỉ tiêu: (i) 100% trẻ được rà soát tiền sử tiêm chủng các vắc xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng khi nhập học tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học tại các địa phương triển khai; (ii) Ít nhất 95% trẻ được xác định chưa tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đủ mũi vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) được tiêm chủng bù liều để phòng bệnh; (iii) Đảm bảo an toàn tiêm chủng.
- Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống giám sát môi trường tại các cửa ngõ quốc tế, nơi dân cư đông đúc.
- 100% các ca bệnh nghi ngờ, ca liệt mềm cấp dương tính với vi rút bại liệt hoặc mẫu môi trường dương tính với vi rút bại liệt được điều tra và xử lý kịp thời theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
III. THỜI GIAN, PHẠM VI THỰC HIỆN: Triển khai trên phạm vi toàn Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2026.
IV. NỘI DUNG, GIẢI PHÁP
1. Tăng cường hệ thống giám sát
1.1. Giám sát liệt mềm cấp
- Thực hiện giám sát LMC/Bại liệt theo Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt tại Quyết định số 5142/QĐ-BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt” và các hướng dẫn của Bộ Y tế được cập nhật.
- Tăng cường phát hiện, báo cáo các trường hợp liệt mềm cấp nghi bại liệt tại các bệnh viện, phòng khám thông qua danh sách trường hợp liệt mềm cấp theo định nghĩa ca giám sát, báo cáo thường xuyên cho khối dự phòng để phối hợp điều tra, lấy mẫu.
- Tăng cường công tác điều tra, lấy mẫu xét nghiệm, giám sát tích cực phát hiện các trường hợp LMC/Bại liệt, đặc biệt với tất cả trẻ dưới 15 tuổi có các triệu chứng liệt mềm cấp tại các bệnh viện để đảm bảo không bỏ sót ca bệnh. Triển khai các hoạt động giám sát dựa vào sự kiện để phát hiện sớm những dấu hiệu cảnh báo các trường hợp LMC nghi bại liệt tại cộng đồng để tiến hành điều tra, lấy mẫu xét nghiệm nhằm phát hiện sớm ca bệnh và tránh bỏ sót tại cộng đồng.
- Giám sát chủ động với tần suất thường xuyên hơn tại bệnh viện, phòng khám và tìm kiếm tích cực ca bệnh tại cộng đồng, đặc biệt tại các vùng nguy cơ cao và vùng có “khoảng trống” thông tin giám sát.
1.2. Giám sát vi rút bại liệt từ môi trường
- Triển khai giám sát, đáp ứng chuyên môn theo hướng dẫn của Bộ Y tế và Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh về giám sát vi rút bại liệt từ môi trường.
- Phối hợp với Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh kích hoạt và mở rộng mạng lưới giám sát môi trường, thực hiện lấy mẫu, xét nghiệm để phát hiện sớm sự lưu hành âm thầm của vi rút bại liệt tại các khu vực có nguy cơ cao trên địa bàn Thành phố.
1.3. Giám sát lưu hành vi rút bại liệt các trường hợp suy giảm miễn dịch Tổ chức giám sát tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố có thực hiện quản lý, điều tra, theo dõi bệnh nhi liệt mềm cấp có tình trạng suy giảm miễn dịch nhằm mục đích phát hiện và quản lý các trường hợp mang vi rút bại liệt hoang dại, vi rút có nguồn gốc vắc xin biến đổi di truyền và trường hợp đào thải kéo dài vi rút chủng Sabin từ vắc xin để chủ động ngăn ngừa dịch bệnh bại liệt.
1.4. Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến về giám sát LMC thông qua tập huấn và giám sát hỗ trợ Tổ chức tập huấn cho các cán bộ làm công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm, xét nghiệm của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh; các cán bộ thuộc các khoa, phòng liên quan của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố (bệnh nhiệt đới, truyền nhiễm, kế hoạch tổng hợp…) nhằm nâng cao năng lực giám sát, phát hiện, điều tra và xử lý ca bệnh theo quy định.
2. Duy trì và nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng
- Tăng cường rà soát, đảm bảo tiêm chủng đầy đủ và đủ liều cho các đối tượng; tăng cường năng lực quản lý đối tượng tiêm chủng cho các Trạm Y tế cấp xã, đảm bảo không bỏ sót các trường hợp chưa được uống, tiêm hoặc uống, tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng bại liệt, đặc biệt là tại các nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, vùng lõm tiêm chủng. Thực hiện tiêm bù, tiêm vét cho các đối tượng chưa được tiêm chủng đầy đủ, không để xảy ra các khu vực trống tiêm chủng, nhất là các khu vực vùng sâu, vùng xa.
- Triển khai Kế hoạch số 980/KH-BYT-BGDĐT ngày 19/7/2023 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo về phối hợp triển khai kiểm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học.
- Rà soát danh sách trẻ chưa tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, đặc biệt là trẻ mới nhập học, để không bỏ sót đối tượng; khẩn trương triển khai kế hoạch tiêm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học; tổ chức triển khai việc tiêm bù càng sớm càng tốt (ngay trong tháng nếu có thể) đối với các trường hợp trì hoãn tiêm chủng; rà soát thường xuyên để lọc các đối tượng bị bỏ lỡ các mũi tiêm và tiến hành tiêm vét cho tất cả đối tượng thuộc tiêm chủng mở rộng, tránh bỏ sót đối tượng, bảo đảm tiêm chủng đầy đủ, đúng mũi, đủ liều theo quy định của Bộ Y tế, đặc biệt lưu ý đến tỷ lệ uống, tiêm vắc xin phòng bệnh bại liệt nhằm bảo đảm đủ liều vắc xin chứa thành phần bại liệt theo quy định.
- Tăng cường tập huấn cho cán bộ tiêm chủng, kiểm tra các cơ sở tiêm chủng tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý, sử dụng vắc xin bảo đảm an toàn và hiệu quả.
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động người dân, cha mẹ học sinh đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch, đủ liều để chủ động phòng bệnh.
3. Đáp ứng khi có ca bệnh hoặc mẫu môi trường dương tính
- Kích hoạt đội đáp ứng nhanh (RRT) theo Quyết định số 5894/QĐ-BYT ngày 19/12/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn thiết lập và vận hành đội đáp ứng nhanh”, khẩn trương điều tra dịch tễ, đánh giá nguy cơ dịch bệnh lây lan, đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Trạm Y tế và chính quyền địa phương trong công tác tổ chức thực hiện.
- Thực hiện điều tra, giám sát theo hướng dẫn tại Quyết định số 5142/QĐ- BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt và các hướng dẫn giám sát, báo cáo của Bộ Y tế.
- Phối hợp với Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị liên quan về việc thông báo ca bệnh và triển khai các hoạt động đáp ứng.
- Khi có dịch bệnh bại liệt, khẩn trương xây dựng kế hoạch sử dụng vắc xin bại liệt phù hợp: (i) Khoanh vùng và tổ chức ngay chiến dịch tiêm chủng đáp ứng bằng vắc xin phù hợp với mục tiêu đạt độ bao phủ trên 95% trong thời gian ngắn nhất; (ii) Chuẩn bị sẵn sàng nguồn vật tư và nhân lực cho các tình huống khẩn cấp.
4. Truyền thông nguy cơ
- Đẩy mạnh hoạt động truyền thông phòng, chống dịch bệnh bại liệt liên tục, đa dạng hình thức, phù hợp từng nhóm đối tượng trong cộng đồng và tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để tạo sự tham gia tích cực, sự quan tâm của các đoàn
thể trong công tác tuyên truyền, cảnh báo đến người dân tăng cường hoạt động phòng, chống dịch bệnh.
- Xây dựng các tài liệu truyền thông phù hợp cho các cộng đồng vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền đến người dân về nguy cơ dịch bệnh bại liệt quay trở lại và lợi ích, lịch tiêm vắc xin phòng bệnh bại liệt.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1
Từ nguồn ngân sách nhà nước
và các nguồn hợp pháp khác.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh
- Tăng cường rà soát, quản lý đối tượng tiêm chủng trên địa bàn Thành phố và tăng cường năng lực quản lý đối tượng tiêm chủng cho các Trạm Y tế cấp xã, đảm bảo không bỏ sót các trường hợp chưa được uống, tiêm, hoặc uống, tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng bại liệt, đặc biệt là tại các nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, vùng lõm tiêm chủng; thực hiện tiêm bù, tiêm vét cho các đối tượng chưa được tiêm chủng đầy đủ, không để xảy ra các khu vực trống tiêm chủng, nhất là các khu vực vùng sâu, vùng xa; xây dựng kế hoạch tiêm chủng bù liều OPV/IPV và triển khai tiêm chủng cho trẻ nhập học, đảm bảo an toàn tiêm chủng, sử dụng hiệu quả vắc xin.
- Triển khai quyết liệt việc sử dụng vắc xin phòng bệnh, trong đó đặc biệt lưu ý đến tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) trong tiêm chủng thường xuyên đạt trên 95% ở quy mô cấp xã nhằm bảo đảm đủ liều vắc xin chứa thành phần bại liệt theo quy định của Bộ Y tế và khuyến nghị của WHO; yêu cầu tất cả các cơ sở tiêm chủng trên địa bàn Thành phố thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo việc sử dụng vắc xin theo quy định.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đánh giá, cập nhật kết quả đánh giá nguy cơ bệnh bại liệt tại từng xã, phường, đặc khu và đến cả cấp thôn, ấp, tổ dân phố theo từng mức độ nguy cơ; chủ động tham mưu Sở Y tế xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch chủ động ứng phó với nguy cơ xảy ra dịch bệnh bại liệt; đẩy mạnh giám sát, sàng lọc các đối tượng nguy cơ (trẻ dưới 15 tuổi) tại các cửa khẩu (nhất là người về từ các quốc gia đang có dịch bệnh hoặc có nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt), các cơ sở y tế và tại cộng đồng. 1 Ngân sách Trung ương đảm bảo kinh phí mua vắc xin, sinh phẩm, vật tư cho tiêm chủng thường xuyên; Ngân sách địa phương đảm bảo kinh phí cho việc triển khai các hoạt động tại địa phương theo quy định (Các hoạt động bao gồm: truyền thông, tập huấn, giám sát, bảo quản, vận chuyển vắc xin, mẫu bệnh phẩm, vật tư, vắc xin chống dịch, tổ chức tiêm chủng...).
- Triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh bại liệt trên địa bàn Thành phố theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế; Tăng cường giám sát liệt mềm cấp, giám sát môi trường, giám sát ca bệnh, giám sát trọng điểm, lấy mẫu bệnh phẩm, phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý kịp thời, hạn chế tối đa nguy cơ bùng phát, lây lan trong cộng đồng; báo cáo trực tuyến thông tin các trường hợp liệt mềm cấp trong 48 giờ kể từ khi có chẩn đoán và các trường hợp bại liệt theo quy định của Thông tư số 54/2015/TT-BYT; Trong trường hợp có ca bệnh, chủ động điều phối hoạt động điều tra dịch tễ, xử lý triệt để ổ dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế; Hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tuyến dưới trong công tác triển khai các biện pháp kiểm soát dịch.
- Tăng cường thông tin, truyền thông, tuyên truyền vận động người dân bằng các biện pháp phù hợp với các đối tượng khác nhau nhất là đồng bào dân tộc thiểu số để chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt và đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch theo hướng dẫn của ngành y tế.
- Bảo đảm hậu cần, thuốc, vắc xin, thiết bị, vật tư, hoá chất phục vụ công tác phòng, chống bệnh bại liệt theo phương châm bốn tại chỗ.
- Triển khai các hoạt động liên quan theo nội dung, nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này và phối hợp với Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh để triển khai các hoạt động kỹ thuật chuyên môn liên quan.
- Bảo cáo kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch này gửi về Sở Y tế theo quy định.
2. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Chủ động phát hiện sớm các trường hợp bệnh, trường hợp liệt mềm cấp thông qua hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; thực hiện báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định, bảo đảm không bỏ sót ca bệnh trong hệ thống giám sát; theo dõi bệnh nhi liệt mềm cấp có tình trạng suy giảm miễn dịch nhằm phát hiện các trường hợp mang vi rút bại liệt hoang dại, vi rút có nguồn gốc vắc xin biến đổi di truyền và các trường hợp đào thải kéo dài vi rút chủng Sabin, phục vụ giám sát đặc biệt đối với nhóm nguy cơ cao; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo đầy đủ, kịp thời theo quy định.
- Phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh trong giám sát tích cực ca liệt mềm cấp nhằm phát hiện sớm nguy cơ xâm nhập của bệnh bại liệt, đảm bảo đạt các chỉ tiêu giám sát theo quy định của Bộ Y tế; đồng thời tham gia điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm và quản lý ca bệnh theo hướng dẫn chuyên môn của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thực hiện tốt công tác thu dung, điều trị kịp thời khi có các trường hợp nghi ngờ/mắc bại liệt, hạn chế tối đa các trường hợp chuyển nặng, tử vong; thực hiện nghiêm quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn, vệ sinh khử khuẩn, vệ sinh môi trường, không để lây nhiễm chéo tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Tham gia đầy đủ các hoạt động đào tạo, tập huấn nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn.
3. Đề nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu Xây dựng kế hoạch công tác phòng, chống dịch bại liệt trên địa bàn phù hợp với tình hình thực tế; Phối hợp với ngành y tế tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm huy động hiệu quả các nguồn lực tại chỗ, đảm bảo kinh phí, nguồn lực cho việc triển khai kế hoạch này tại địa phương, Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền về tiêm chủng vắc xin, các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt, nâng cao nhận thức, sự hợp tác của người dân trong công tác phòng, chống dịch bệnh bại liệt, đề nghị người dân đưa con em đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch. Huy động sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và người dân để thực hiện có hiệu quả các hoạt động của kế hoạch này. Chỉ đạo Trạm Y tế xã, phường, đặc khu thực hiện các nội dung sau:
- Tổ chức triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh bại liệt tại cộng đồng; chịu trách nhiệm giám sát dịch bệnh, phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các trường hợp nghi ngờ trên địa bàn quản lý; Khi có ca bệnh hoặc ổ dịch bại liệt được xác định, khẩn trương tổ chức điều tra, triển khai các biện pháp xử lý tại địa bàn và phối hợp với các đơn vị liên quan để kiểm soát dịch; Theo dõi, tổ chức điều tra dịch tễ và điều tra di chứng đối với các trường hợp liệt mềm cấp đã được báo cáo theo quy định; Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
- Lập danh sách, quản lý đối tượng, tổ chức triển khai tiêm chủng thường xuyên, tiêm bù, tiêm vét các loại vắc xin OPV, IPV, đảm bảo không bỏ sót đối tượng tiêm chủng; tổ chức chiến dịch tiêm chủng theo hướng dẫn của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm an toàn và đạt tỉ lệ bao phủ phòng bệnh bại liệt theo đúng quy định.
- Chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tại địa phương thực hiện truyền thông, vận động người dân tham gia tiêm chủng phòng bệnh. Tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân Thành phố và các hướng dẫn về chuyên môn của Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh về công tác phòng, chống dịch bệnh bại liệt trên địa bàn. Báo cáo kết quả thực hiện gửi về Ủy ban nhân dân Thành phố và Sở Y tế theo quy định.
4. Đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo Phối hợp với các cơ sở y tế địa phương triển khai hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch này về việc rà soát tiền sử, thực hiện tiêm/uống vét, tiêm chủng bù liều vắc xin phòng bại liệt cho trẻ tại cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học.
5. Đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao Phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ sở y tế địa phương triển khai các hoạt động tuyên truyền phòng chống dịch bệnh bại liệt, đa dạng hóa các hoạt động truyền thông để người dân hiểu và chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh bại liệt. Trên đây là Kế hoạch giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị các đơn vị liên quan triển khai thực hiện./.
| Nơi nhận: - Bộ Y tế (báo cáo); - UBND Thành phố (báo cáo); - UBND xã, phường, đặc khu; - Sở Giáo dục và Đào tạo (ph/hợp); - Sở Văn hóa và Thể thao (ph/hợp); - Ban Giám đốc Sở Y tế; - Trung tâm KSBT TP.HCM; - Các đơn vị trực thuộc Sở Y tế; - TYT xã, phường, đặc khu; - Lưu: VT, NVY. | KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC Nguyễn Văn Vĩnh Châu |
| BỘ Y TẾ Số: /KH-BYT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
Giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026
I. DỰ BÁO NGUY CƠ BÙNG PHÁT DỊCH BỆNH BẠI LIỆT
1. Tình hình dịch bệnh bại liệt trên thế giới và khu vực Bại liệt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính (nhóm A) rất dễ lây do vi rút bại liệt gây ra, lây truyền từ người sang người theo đường tiêu hóa và di chứng cao, có thể gây ra dịch lớn và cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp theo quy định; khi bị nhiễm vào cơ thể, vi rút sẽ tấn công vào hệ thần kinh trung ương, làm yếu các cơ, phần mềm cấp tính và gây ra chứng bại liệt. Việc xác định đúng tính chất của dịch bệnh sẽ giúp nâng cao mức độ ưu tiên trong chỉ đạo, chuẩn bị nguồn lực và xử lý kịp thời các tình huống nguy cơ cao. Trong năm 2025, dịch bệnh bại liệt đã ghi nhận tại 6 quốc gia (Afghanistan, Pakistan, Mozambique, Cộng hòa Dân chủ Congo, Guiana thuộc Pháp và Guinea) và tháng 8 năm 2025, tại Lào đã ghi nhận 01 trường hợp liệt mềm cấp và 02 trường hợp trẻ khỏe mạnh có kết quả dương tính với vi rút bại liệt loại 1 có nguồn gốc từ vắc xin (VDPV1) tại tỉnh Savannahket (Lào) giáp biên giới tỉnh Quảng Trị. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khi xuất hiện từ một ca bại liệt trở lên được khẳng định bằng xét nghiệm, gây ra bởi vi rút bại liệt hoang dại hoặc biến thể vi rút bại liệt có nguồn gốc vắc xin đang lưu hành thì quốc gia đó được ghi nhận là đang có dịch bệnh bại liệt xảy ra và nguy cơ dịch có thể lan rộng nếu tỷ lệ tiêm và uống vắc xin bại liệt dưới mức tiêu chuẩn đặt ra. Do đó, WHO nhấn mạnh, trước nguy cơ xảy ra dịch bệnh bại liệt, các quốc gia cần hành động khẩn cấp, phải có sự phối hợp giữa các quốc gia nhằm ngăn chặn nguy cơ bệnh bại liệt quay trở lại, lây lan mạnh trong cộng đồng để tiến tới thanh toán bệnh bại liệt trên toàn cầu. WHO cảnh báo nguy cơ xâm nhập bệnh bại liệt vào Việt Nam là rất cao và khuyến cáo các nước có chung biên giới với Lào (Việt Nam, Cam Pu Chia, Thái Lan) cùng triển khai các biện pháp đáp ứng chống dịch bệnh.
2. Tình hình dịch bệnh bại liệt và các nguy cơ tại Việt Nam Việt Nam đã được WHO công nhận thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000. Tuy nhiên, trước tình hình dịch bệnh tại Lào, các tỉnh, thành phố tại Việt Nam đã
1 đánh giá nguy cơ theo hướng dẫn của WHO với kết quả như sau: 1 Các yếu tố đánh giá:
- Nguy cơ xâm nhập: Rất cao. Sự hiện diện của 01 trường hợp liệt mềm cấp và 02 trường hợp trẻ khỏe mạnh có kết quả dương tính với vi rút bại liệt loại 1 có nguồn gốc từ vắc xin (VDPV1) tại Lào với khả năng lây truyền qua biên giới là mối đe dọa trực tiếp và hiện hữu; (2) Tính cảm nhiễm của cộng đồng: Mức nguy cơ cao.
- Nguy cơ thấp: 7/34 tỉnh (Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên và Quảng Ngãi).
- Nguy cơ trung bình: 24/34 tỉnh (Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lai Châu, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Quảng Trị, TP. Huế, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Khánh Hoà, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tây Ninh, Lâm Đồng, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau).
- Nguy cơ cao: 3/34 tỉnh (Cao Bằng, Gia Lai và Đồng Nai). Tuy nhiên, kết quả đánh giá theo tỉnh cũ (trước khi sát nhập) cho thấy 10/63 tỉnh có nguy cơ cao (Cao Bằng, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Tây Ninh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bình Phước và Đồng Nai). Các tỉnh có nguy cơ cao chủ yếu do tính cảm nhiễm và giám sát bệnh được đánh giá ở mức nguy cơ cao. Riêng các tỉnh có biên giới giáp Lào: 2/9 tỉnh có nguy cơ thấp là Điện Biên, Quảng Ngãi; 7/9 tỉnh có nguy cơ trung bình là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sơn La, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng. Không có tỉnh nào ở mức nguy cơ cao. Trước nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài rất cao và WHO đánh giá Việt Nam có nguy cơ cao, việc xây dựng và triển khai ngay một kế hoạch đáp ứng toàn diện
2 của Việt Nam là hết sức cần thiết, cấp bách và phù hợp với các quy định
II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích Xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ, thời hạn hoàn thành và trách
- Lỗ hổng miễn dịch: (1) Theo báo cáo của các địa phương, tỷ lệ trẻ được tiêm/uống vắc xin phòng bại liệt đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, tuy nhiên nếu tính riêng tỷ lệ trẻ được uống đủ 3 mũi vắc xin phòng bại liệt (bOPV) tr ên toàn quốc của Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2024 đạt thấp do trẻ đã tiêm chủng đủ 3 mũi vắc xin phòng bại liệt (IPV) ngoài dịch vụ thường sẽ không uống vắc xin bOPV (mặc dù các địa phương đã tổ chức rà soát, tiêm bù, tiêm vét hàng năm); (2) Báo cáo giám sát năm 2024 ghi nhận ca dương tính với Sabin-like 3 tại Đắk Lắk cho thấy sự tồn tại của các nhóm cộng đồng có miễn dịch thấp, tạo điều kiện cho vi rút biến đổi và lưu hành.
- Năng lực hệ thống y tế về giám sát liệt mềm cấp (LMC) và giám sát môi trường: Mức nguy cơ từ trung bình đến mức cao.
- Chất lượng giám sát LMC chưa đạt: Báo cáo giám sát năm 2025 (tính đến ngày 17/9/2025) cho thấy chỉ số phát hiện ca LMC toàn quốc chỉ đạt 0,44/100.000 trẻ, thấp hơn nhiều so với mục tiêu (≥1/100.000). Nhiều tỉnh miền Trung (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi) chưa phát hiện được trường hợp LMC trở thành "vùng lõm" giám sát, làm tăng nguy cơ bỏ sót ca bệnh và phát hiện chậm ổ dịch.
- Giám sát môi trường (ES) gián đoạn: Hệ thống giám sát môi trường, một công cụ phát hiện sớm rất nhạy, đã bị tạm dừng từ năm 2024 đến nay do WHO dừng cung cấp nguồn lực, làm giảm khả năng cảnh báo sớm dịch bệnh. 2
Căn cứ xây dựng Kế hoạch: (1) Luật số 03/2007/QH12 ngày 21/11/2007 về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; (2) Nghị định số 13/2024/NĐ-CP ngày 05/02/2024 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng; (3) Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/5/2016 về quy định công tác y tế trường học; (4) Thông tư 17/2019/TT - BYT ngày 17/7/2019 hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm; (5) Thông tư số 52/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 về danh mục bệnh truyền nhiễm, đối tượng và phạm vi phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc; (6) Thông tư số 23/2025/TT-BYT ngày 28/6/2025 về quy định báo cáo thống kê ngành y tế; (7) Công điện số 247/CĐ-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường tiêm chủng vắc xin và các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt; (8) Quyết định số 5142/QĐ-BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành "Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt"; (9) Quyết định số 5715/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 phê duyệt “Kế hoạch bảo vệ thành quả thanh toán bệnh bại liệt giai đoạn 2021-2025”; (10) Quyết định số 2870/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 về Kế hoạch tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2026-2028; (11) Quyết định số 5894/QĐ-BYT ngày 19/12/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành “hướng dẫn thiết lập và vận hành đội đáp ứng nhanh”; (12) Kế hoạch số 980/KH-BYT-BGDĐT ngày 19/7/2023 về phối hợp triển khai kiểm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học.
nhiệm của các đơn vị trong triển khai thực hiện Kế hoạch bảo đảm triển khai kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
2. Yêu cầu Xác định nội dung công việc gắn với trách nhiệm và phát huy vai trò chủ động, tích cực của các đơn vị tổ chức được giao triển khai Kế hoạch, bảo đảm chất lượng và tiến độ hoàn thành công việc.
III. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung Đảm bảo phòng, chống dịch bệnh bại liệt kịp thời; tiếp tục bảo vệ thành quả thanh toán bệnh bại liệt đã đạt được từ năm 2000 tại Việt Nam.
2. Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể
- Tăng cường Hệ thống giám sát liệt mềm cấp (LMC)/bại liệt để đạt các chỉ tiêu trên quy mô cấp tỉnh:
+ Tỷ lệ phát hiện ca LMC ≥ 1/100.000 trẻ dưới 15 tuổi;
+ Tỷ lệ ca LMC được lấy đủ 2 mẫu phân đúng tiêu chuẩn đạt ≥ 80%.
+ Tỷ lệ ca LMC được điều tra di chứng trong vòng 60 ngày đạt ≥ 80%.
+ Số mẫu có kết quả phân lập ≤14 ngày đạt ≥80% trên tổng số mẫu.
+ Số mẫu định danh vi rút polio (bằng realtime RT-PCR ITD/VDPV) ≤7 ngày đạt ≥80% trên tổng số mẫu.
- Duy trì tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) trong tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới 1 tuổi đạt ≥ 95% trên quy mô cấp xã.
- Triển khai hoạt động rà soát tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học tại cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học đạt các chỉ tiêu: (i) 100% trẻ được rà soát tiền sử tiêm chủng các vắc xin trong Chương trình Tiêm ch ủng mở rộng khi nhập học tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học tại các địa phương triển khai; (ii) Ít nhất 95% trẻ được xác định chưa tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đủ mũi vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) được tiêm chủng bù liều để phòng bệnh; (iii) Đảm bảo an toàn tiêm ch ủng.
- Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống giám sát môi trường tại các cửa ngõ quốc tế và các khu vực biên giới trọng điểm, nơi dân cư đông đúc và các tỉnh giám sát LMC còn hạn chế.
- 100% ca liệt mềm cấp dương tính với vi rút bại liệt hoặc mẫu môi trường dương tính với vi rút bại liệt được điều tra và xử lý kịp thời theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
IV. NỘI DUNG, GIẢI PHÁP
1. Tăng cường hệ thống giám sát
1.1. Giám sát liệt mềm cấp
- Thực hiện giám sát LMC/Bại liệt theo Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt tại Quyết định số 5142/QĐ-BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế về
việc ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt” và các hướng dẫn của Bộ Y tế được cập nhật.
- Tăng cường phát hiện, báo cáo các trường hợp liệt mềm cấp nghi bại liệt tại các bệnh viện, phòng khám thông qua danh sách trường hợp liệt mềm cấp theo định nghĩa ca giám sát, báo cáo thường xuyên cho khối dự phòng để phối hợp điều tra, lấy mẫu.
- Tăng cường công tác điều tra, lấy mẫu xét nghiệm, giám sát tích cực phát hiện các trường hợp LMC/Bại liệt, đặc biệt với tất cả trẻ dưới 15 tuổi có các triệu chứng liệt mềm cấp tại các bệnh viện để đảm bảo không bỏ sót ca bệnh. Triển khai các hoạt động giám sát dựa vào sự kiện để phát hiện sớm những dấu hiệu cảnh báo các trường hợp LMC nghi bại liệt tại cộng đồng để tiến hành điều tra, lấy mẫu xét nghiệm nhằm phát hiện sớm ca bệnh và tránh bỏ xót tại cộng đồng.
- Giám sát chủ động với tần xuất thường xuyên hơn tại bệnh viện, phòng khám và tìm kiếm tích cực ca bệnh tại cộng đồng, đặc biệt tại các vùng nguy cơ cao và vùng có "khoảng trống" thông tin giám sát.
1.2. Giám sát vi rút bại liệt từ môi trường
- Xây dựng hướng dẫn của Bộ Y tế về giám sát vi rút bại liệt từ môi trường.
- Tái kích hoạt và mở rộng mạng lưới giám sát môi trường để phát hiện sớm sự lưu hành âm thầm của vi rút bại liệt tại các khu vực có nguy cơ, trong đó các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur thực hiện lấy mẫu, gửi về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xét nghiệm và thực hiện các nội dung sau:
+ Tiếp tục triển khai lấy mẫu tại 02 điểm giám sát tại Hà Nội, thiết lập các điểm giám sát tại khu vực biên giới các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Điện Biên, Sơn La và lấy mẫu giám sát môi trường do Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thực hiện.
+ Thiết lập các điểm giám sát tại các xã biên giới thuộc tỉnh Quảng Trị và lấy mẫu giám sát môi trường do Viện Pasteur Nha Trang lấy mẫu, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương hỗ trợ xét nghiệm.
+ Thiết lập các điểm giám sát, thực hiện lấy mẫu tại các khu vực có nguy cơ cao tại khu vực Tây Nguyên cũ để phát hiện sớm sự lưu hành của vi rút bại liệt (bổ sung nếu có sau khi đánh giá nguy cơ) và gửi mẫu về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương để xét nghiệm do Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên thực hiện.
+ Thiết lập các điểm giám sát, thực hiện lấy mẫu, xét nghiệm tại các khu vực có nguy cơ cao để phát hiện sớm sự lưu hành của vi rút bại liệt (bổ sung nếu có sau khi đánh giá nguy cơ) do Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh thực hiện.
1.3. Giám sát lưu hành vi rút bại liệt các trường hợp suy giảm miễn dịch Tổ chức giám sát tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố có thực hiện quản lý, điều tra, theo dõi bệnh nhi liệt mềm cấp có tình trạng suy giảm miễn dịch nhằm mục đích phát hiện và quản lý các trường hợp mang vi rút bại liệt hoang dại, vi rút có nguồn gốc vắc xin biến đổi di truyền và trường hợp đào thải kéo dài vi rút chủng Sabin từ vắc xin để chủ động ngăn ngừa dịch bệnh bại liệt.
1.4. Tăng cường năng lực phòng xét nghiệm vi rút bại liệt Duy trì các phòng xét nghiệm bại liệt chuẩn thức đạt tiêu chuẩn của WHO tại các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và đảm bảo nguồn sinh phẩm, vật tư, hóa chất phục vụ công tác giám sát liệt mềm cấp, bại liệt, xét nghiệm chẩn đoán trong giám sát thường xuyên và trong trường hợp khẩn cấp.
1.5. Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến về giám sát LMC thông qua tập huấn và giám sát hỗ trợ (có thể lồng ghép vào các hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm có vắc xin trong TCMR) Tập huấn cho các cán bộ làm công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm, xét nghiệm của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố; các cán bộ thuộc các khoa, phòng liên quan của một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố (bệnh nhiệt đới, truyền nhiễm, kế hoạch tổng hợp…).
2. Duy trì và nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng
- Tăng cường rà soát, đảm bảo tiêm chủng đầy đủ và đủ liều cho các đối tượng; tăng cường năng lực quản lý đối tượng tiêm chủng cho các Trạm Y tế xã, đảm bảo không bỏ sót các trường hợp chưa được uống, tiêm hoặc uống, tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng bại liệt, đặc biệt là tại các nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, vùng lõm tiêm chủng. Thực hiện tiêm bù, tiêm vét cho các đối tượng chưa được tiêm chủng đầy đủ, không để xảy ra các khu vực trống tiêm chủng, nhất là các khu vực vùng sâu, vùng xa.
- Triển khai Kế hoạch số 980/KH-BYT-BGDĐT ngày 19/7/2023 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo về phối hợp triển khai kiểm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học.
- Rà soát danh sách trẻ chưa tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, đặc biệt là trẻ mới nhập học, để không bỏ sót đối tượng; khẩn trương triển khai kế hoạch tiêm tra tiền sử và tiêm chủng bù liều cho trẻ nhập học tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học; tổ chức triển khai việc tiêm bù càng sớm càng tốt (ngay trong tháng nếu có thể) đối với các trường hợp trì hoãn tiêm chủng; rà soát thường xuyên để lọc các đối tượng bị lỡ các mũi tiêm và tiến hành tiêm vét cho tất cả đối tượng thuộc tiêm chủng mở rộng, tránh bỏ sót đối tượng, bảo đảm tiêm chủng đầy đủ, đúng mũi, đủ liều theo quy định của Bộ Y tế, đặc biệt lưu ý đến tỷ lệ uống vắc xin và tỷ lệ tiêm vắc xin phòng bệnh bại liệt nhằm bảo đảm đủ liều vắc xin chứa thành phần bại liệt theo quy định.
- Tăng cường tập huấn cho cán bộ tiêm chủng, kiểm tra các cơ sở tiêm chủng tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý, sử dụng vắc xin bảo đảm an toàn và hiệu quả.
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động người dân, cha mẹ học sinh đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch, đủ liều để chủ động phòng bệnh.
3. Đáp ứng khi có ca bệnh hoặc mẫu môi trường dương tính
- Kích hoạt đội đáp ứng nhanh (RRT) theo Quyết định số 5894/QĐ-BYT ngày 19/12/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành “hướng dẫn thiết lập và vận hành đội đáp ứng nhanh”, khẩn trương điều tra dịch tễ, đánh giá nguy cơ dịch bệnh lây lan.
- Thực hiện điều tra, giám sát theo hướng dẫn tại Quyết định số 5142/QĐ- BYT ngày 11/12/2014 của Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh bại liệt và các hướng dẫn giám sát, báo cáo của Bộ Y tế.
- Phối hợp với WHO và các đơn vị liên quan về việc thông báo ca bệnh và triển khai các hoạt động đáp ứng.
- Khi có dịch bệnh bại liệt, khẩn trương xây dựng kế hoạch sử dụng vắc xin bại liệt phù hợp: (i) Khoanh vùng và tổ chức ngay chiến dịch tiêm chủng đáp ứng bằng vắc xin phù hợp với mục tiêu đạt độ bao phủ trên 95% trong thời gian ngắn nhất; (ii) Chuẩn bị sẵn sàng nguồn vật tư và nhân lực cho các tình huống khẩn cấp.
4. Truyền thông nguy cơ
- Đẩy mạnh hoạt động truyền thông phòng, chống dịch bệnh bại liệt liên tục, đa dạng hình thức, phù hợp từng nhóm đối tượng trong cộng đồng và tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để tạo sự tham gia tích cực, sự quan tâm của các đoàn thể trong công tác tuyên truyền, cảnh báo đến người dân tăng cường hoạt động phòng, chống dịch bệnh.
- Xây dựng các tài liệu truyền thông phù hợp cho các cộng đồng vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền đến người dân về nguy cơ dịch bệnh bại liệt quay trở lại và lợi ích, lịch tiêm vắc xin phòng bệnh bại liệt.
5. Duy trì hoạt động của Ủy ban xác nhận thanh toán bệnh bại liệt
- Họp định kỳ và đột xuất về tình hình duy trì thanh toán bệnh bại liệt, xác minh các trường hợp liệt mềm cấp nghi bại liệt, tư vấn cho Bộ Y tế về các biện pháp duy trì thành quả thanh toán bệnh bại liệt và báo cáo Ủy ban xác nhận thanh toán bệnh bại liệt khu vực Tây Thái Bình Dương.
- Đề xuất điều chỉnh, cập nhật lịch tiêm chủng vắc xin bại liệt trong tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng dịch vụ phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.
V. NHIỆM VỤ, TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN: Phụ lục kèm theo.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế
1.1. Cục Phòng bệnh
- Đầu mối, chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan phổ biến, tổ chức thực hiện kế hoạch này (gọi tắt là Kế hoạch); Triển khai các hoạt động liên quan theo nội dung, nhiệm vụ được giao tại của Kế hoạch.
- Tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai Kế hoạch và tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ Y tế kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch.
1.2. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tăng cường phát hiện, chẩn đoán, điều trị và báo cáo ca liệt mềm cấp trong 48 giờ kể từ khi có chẩn đoán và các trường hợp bại liệt theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ
Y tế về việc hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm (gọi tắt là Thông tư số 54/2015/TT-BYT).
1.3. Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur
- Triển khai các hoạt động liên quan theo nội dung, nhiệm vụ được giao tại của Kế hoạch;
- Thực hiện phối hợp, hỗ trợ kỹ thuật, chuyên môn, kiểm tra, giám sát tại các địa phương trong khu vực phụ trách triển khai các hoạt động liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được Bộ Y tế giao.
- Huy động các nguồn lực thực hiện theo đúng quy định để triển khai các hoạt động liên quan của Kế hoạch.
- Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương: (1) Đầu mối xây dựng hướng dẫn của Bộ Y tế về giám sát vi rút bại liệt từ môi trường; (2) Đầu mối tổng hợp kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch, báo cáo về Bộ Y tế (qua Cục Phòng bệnh) để tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ Y tế.
1.4. Văn phòng Bộ, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương thực hiện công tác truyền thông theo nhiệm vụ được giao và phối hợp, hướng dẫn các cơ sở y tế địa phương thực hiện công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về tiêm chủng vắc xin, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh bại liệt.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
2.1. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã và ban ngành, đoàn thể các cấp phối hợp với ngành y tế tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch này tại địa phương, đảm bảo kinh phí, nguồn lực cho việc triển khai kế hoạch này; huy động sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và người dân thực hiện có hiệu quả các hoạt động của kế hoạch này và đẩy mạnh, tuyên truyền về tiêm chủng vắc xin, các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt; tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành đi kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.
2.2. Chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh, thành phố
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo chính quyền cấp xã, các ban, ngành, đoàn thể tại địa phương phối hợp, hỗ trợ ngành y tế: (1) Tăng cường rà soát, quản lý đối tượng tiêm chủng trên địa bàn và tăng cường năng lực quản lý đối tượng tiêm chủng cho các Trạm Y tế xã, đảm bảo không bỏ sót các trường hợp chưa được uống, tiêm hoặc uống, tiêm chưa đủ liều vắc xin phòng bại liệt, đặc biệt là tại các nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp, vùng lõm tiêm chủng; thực hiện tiêm bù, tiêm vét cho các đối tượng chưa được tiêm chủng đầy đủ, không để xảy ra các khu vực trống tiêm chủng, nhất là các khu vực vùng sâu, vùng xa; (2) Triển khai quyết liệt việc sử dụng vắc xin phòng bệnh, trong đó đặc biệt lưu ý đến tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin bại liệt (bOPV, IPV) trong tiêm chủng thường xuyên đạt trên 95% ở quy mô cấp xã nhằm bảo đảm đủ liều vắc xin chứa thành phần bại liệt theo quy định của Bộ Y tế và khuyến nghị của WHO; yêu cầu tất cả các cơ sở tiêm chủng trên địa bàn quản lý thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo việc sử dụng vắc xin theo quy định.
- Tổ chức đánh giá, cập nhật kết quả đánh giá nguy cơ bệnh bại liệt tại từng xã, phường, đặc khu và đến cả cấp thôn, ấp, tổ dân phố theo từng mức độ nguy cơ; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch chủ động ứng phó với nguy cơ xảy ra dịch bệnh bại liệt; đẩy mạnh giám sát, sàng lọc các đối tượng nguy cơ (trẻ dưới 15 tuổi) tại các cửa khẩu (nhất là người về từ các quốc gia đang có dịch bệnh hoặc có nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt), các cơ sở y tế và tại cộng đồng; các tỉnh khu vực biên giới với Lào tăng cường phối hợp với các địa phương của Lào giáp biên giới với Việt Nam trong công tác phòng, chống bệnh bại liệt.
- Tăng cường giám sát liệt mềm cấp, lấy mẫu bệnh phẩm, phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý kịp thời, hạn chế tối đa nguy cơ bùng phát, lây lan, đặc biệt là tại các xã biên giới giáp với Lào; nhập trực tuyến thông tin các trường hợp liệt mềm cấp trong 48 giờ kể từ khi có chẩn đoán và các trường hợp bại liệt theo quy định của Thông tư số 54/2015/TT-BYT; xử lý triệt để ổ dịch (nếu có) theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Tăng cường thông tin, truyền thông, tuyên truyền vận động người dân bằng các biện pháp phù hợp với các đối tượng khác nhau nhất là đồng bào dân tộc thiểu số để chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh bại liệt và đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch theo hướng dẫn của ngành y tế.
- Bảo đảm hậu cần, thuốc, vắc xin, thiết bị, vật tư, hoá chất phục vụ công tác phòng, chống bệnh bại liệt theo phương châm bốn tại chỗ.
- Triển khai các hoạt động liên quan theo nội dung, nhiệm vụ được giao tại của Kế hoạch và phối hợp với các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur để triển khai các hoạt động kỹ thuật chuyên môn liên quan.
2.3. Chỉ đạo các Sở, ngành khác
- Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ sở y tế địa phương triển khai hiệu quả các hoạt động theo Kế hoạch này về việc rà soát tiền sử, thực hiện tiêm/uống vét, tiêm chủng bù liều vắc xin phòng bại liệt cho trẻ tại cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các cơ sở y tế địa phương triển khai các hoạt động tuyên truyền phòng chống dịch bệnh bại liệt, đa dạng hóa các hoạt động truyền thông để người dân hiểu và chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh bại liệt.
- Các Sở, ngành khác theo chức năng nhiệm vụ của đơn vị, thực hiện các hoạt động để đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh bại liệt.
VII. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Ngân sách Trung ương:
- Các đơn vị chủ động bố trí kinh phí từ dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 được giao và các nguồn huy động hợp pháp khác (nếu có) để tổ chức các hoạt động.
- Đối với các hoạt động thuộc Chương trình Tiêm chủng mở rộng sử dụng ngân sách trung ương, các đơn vị thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định số 13/2024/NĐ-CP ngày 05/02/2024 của Chính phủ và đảm bảo nằm trong phạm vi dự toán chi thường xuyên đã được cấp có thẩm quyền giao cho Bộ Y tế năm 2026.
2. Ngân sách địa phương: Bố trí kinh phí theo quy định cho việc triển khai các hoạt động tại địa phương (truyền thông, tập huấn, giám sát, bảo quản, vận chuyển vắc xin, mẫu bệnh phẩm, tổ chức tiêm chủng...). Trên đây là Kế hoạch giám sát và đáp ứng với nguy cơ bùng phát dịch bệnh bại liệt năm 2026, đề nghị các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Kế hoạch này./.
| Nơi nhận: - Bộ trưởng (để báo cáo); - Các đ/c Thứ trưởng; - UBND các tỉnh, thành phố; - Các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế; - Sở Y tế các tỉnh, thành phố; - Trung tâm KSBT các tỉnh, thành phố; - Lưu: VT, PB. | KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Thị Liên Hương |
PHỤ LỤC NHIỆM VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-BYT ngày tháng năm 2026 của Bộ Y tế)
| TT | Nội dung thực hiện | Đơn vị đầu mối | Đơn vị phối hợp | Thời gian thực hiện |
| I | Tăng cường hệ thống giám sát | |||
| 1 | Giám sát liệt mềm cấp | Cục Phòng bệnh; các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố | Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Sở Y tế; Bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và các cơ sở khám chữa bệnh | Trong năm 2026 |
| 2 | Giám sát vi rút bại liệt từ môi trường | Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đầu mối xây dựng hướng dẫn giám sát vi rút bại liệt từ môi trường và phối hợp các đơn vị liên quan thực hiện). | Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố | Trong năm 2026, triển khai lấy mẫu 2 tuần/lần trong giai đoạn đáp ứng khẩn cấp (ít nhất 3-6 tháng), sau đó duy trì tần suất phù hợp dựa trên đánh giá nguy cơ. |
| 3 | Giám sát lưu hành vi rút bại liệt các trường hợp suy giảm miễn dịch | Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur | Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Cục Phòng bệnh; Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố; bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh | Trong năm 2026 |
| 4 | Tăng cường năng lực phòng xét nghiệm vi rút bại liệt | Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur | Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố (lấy mẫu và vận chuyển mẫu đến phòng thí nghiệm) | Trong năm 2026 |
| 5 | Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến về giám sát LMC thông qua tập huấn và giám sát hỗ trợ (có thể lồng ghép vào các hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm có vắc xin trong TCMR) | các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur; Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Cục Phòng bệnh | Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố và bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến tỉnh | Quý I-II/2026 |
| II | Duy trì và nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng | Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố | Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố | Trong năm 2026 |
| III | Đáp ứng khi có ca bệnh hoặc mẫu môi trường dương tính | Cục Phòng bệnh | Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur; Uỷ ban xác nhận Thanh toán bệnh bại liệt quốc gia, Cục Quản lý Dược và các đơn vị liên quan | Trong năm 2026 |
| IV | Truyền thông nguy cơ | Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương | Văn phòng Bộ, Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố | Trong năm 2026 |
| V | Duy trì hoạt động của Ủy ban xác nhận thanh toán bệnh bại liệt | Ủy ban xác nhận thanh toán bệnh bại liệt | Cục Phòng bệnh, các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur | Trong năm 2026 |
