Báo cáo 276/BC-SXD Hà Nội 2026 đề xuất tháo gỡ hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định
UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI SỞ XÂY DỰNG 276 Số: /BC- SXD | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 09 Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2026 |
BÁO CÁO
V/v. Đề xuất phương án tháo gỡ hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn
giá cố định đối với các dự án đầu tư công trên địa bàn Thành phố
Kính gửi: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Đ/c Nguyễn Xuân Lưu – PCT UBND Thành phố tại văn bản số 8254/VP-ĐT ngày 07/5/2026 về việc hoàn thiện đề xuất phương án tháo gỡ hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định đối với các dự án đầu tư công trên địa bàn Thành phố. Trên cơ sở tổ chức triển khai rà soát các nội dung liên quan theo chỉ đạo trên, Sở Xây dựng kính báo cáo UBND Thành phố, như sau:
I. Khái quát chung.
1. Về thực trạng hiện nay. Theo số liệu tổng hợp của Sở Xây dựng đến ngày 09/4/2026, trên cơ sở báo cáo của 03/03 Ban QLDA chuyên ngành và 85/126 UBND phường, xã, đã xác định có khoảng 300 dự án/gói thầu chậm tiến độ liên quan đến hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng theo đơn giá cố định (247 hợp đồng trọn gói, 50 hợp đồng theo đơn giá cố định). Theo đó có 02 nguyên nhân chính cơ bản dẫn đến khó khăn khi triển khai, bao gồm: (1). Giải phóng mặt bằng kéo dài; (2). Giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và nhân công biến động mạnh (Ghi chú: việc thi công thực tế kéo dài từ 01 năm, phổ biến 03–05 năm, cá biệt có dự án kéo dài trên 10 năm; trong khoảng thời gian đó, giá nguyên nhiên liệu, vật liệu, nhân công biến động mạnh nhưng không được điều chỉnh theo hợp đồng đã ký, làm cho phần chênh lệch chi phí rất lớn, dẫn đến nhà thầu không còn động lực hoặc năng lực tài chính tiếp tục thi công). Theo số liệu tổng hợp của Bộ Xây dựng: Từ tháng 3/2026 giá nhiên liệu và nhiều loại vật liệu xây dựng tăng đột biến; riêng giá dầu Diesel tăng 57,4% so với tháng 02/2026, xi măng tăng khoảng 7,2%, thép tăng khoảng 2,2%, cát, đá, gạch xây tăng khoảng 13,5%–23,3%, nhựa đường tăng khoảng 31,77%. Bộ Xây dựng ước tính dự toán xây dựng có thể tăng từ 1,91% đến 8,09% tùy loại công trình; trong kịch bản giá nhiên liệu tăng 100%, riêng nhóm công trình giao thông trọng điểm trên toàn quốc có thể phát sinh khoảng 42.300 tỷ đồng chi phí xây dựng. Quy mô vướng mắc này cho thấy đây không còn là khó khăn cục bộ ở từng dự án riêng lẻ, mà đã trở thành điểm nghẽn có tính hệ thống, tác động trực tiếp đến tiến độ đầu tư công, hiệu quả giải ngân và hiệu quả sử dụng ngân sách n hà nước của Thành phố. Theo tổng hợp hiện nay, để tháo gỡ khó khăn hầu hết các chủ đầu tư đều đề xuất được điều chỉnh giá hợp đồng hoặc điều chỉnh hình thức hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định sang hình thức hợp đồng có điều chỉnh giá.
2. Về hướng dẫn, chỉ đạo của Trung ương. Bộ Xây dựng đã có văn bản số 5026/BXD-KTVLXD ngày 03/4/2026 báo cáo Thủ tướng chính phủ về các tác động của biến động giá xăng, dầu tới tình hình đầu tư xây dựng, trong đó có nội dung liên quan đến biện pháp xử lý hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định do tác động ảnh hưởng bởi biến động giá. Tại Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25/4/2026 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Hội nghị toàn quốc về đẩy mạnh phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đã chỉ đạo Bộ Xây dựng ‘‘T
rước ngày 10 tháng 5 năm 2026, có hướng dẫn cụ thể các bộ, cơ quan, địa phương về việc điều chỉnh hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định trong điều kiện biến động mạnh về giá vật liệu xây dựng; báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ giải pháp điều hành phù hợp với tình hình thực tế đối với các vấn đề vượt thẩm quyền’’.
3. Về công tác tham mưu đề xuất của Sở Xây dựng. Sở Xây dựng đã tham mưu UBND Thành phố có văn bản số 5658/UBND- ĐT ngày 20/10/2025 kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ‘‘
Giao cơ quan chức năng nghiên cứu xây dựng, ban hành quy định cơ chế điều chỉnh giá hợp đồng đối với loại hợp đồng theo đơn giá cố định, loại hợp đồng trọn gói khi xảy ra tình huống vướng mặt bằng không thể bàn giao cho nhà thầu (cụ thể được phép điều chỉnh giá hợp đồng trong thời gian từ khi ký hợp đồng đến khi bàn giao mặt bằng cho nhà thầu, sau thời điểm bàn giao mặt bằng thì thực hiện đúng quy định theo loại hợp đồng đã ký)’’ Trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các các ban quản lý dự án chuyên ngành và UBND cấp xã, Sở Xây dựng đã có văn bản số 6262/SXD-TCĐT ngày 26/3/2026 đề xuất UBND Thành phố phương án tháo gỡ kèm theo dự thảo văn bản của UBND Thành phố chỉ đạo liên quan đến vấn đề này (trong đó có đề xuất: báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Nghị định số 37/2015; Cập nhật, bổ sung cơ chế, chính sách xử lý vào dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi làm căn cứ tháo gỡ; Chỉ đạo các chủ đầu tư, UBND xã phường phân loại thực trạng theo nhóm và căn cứ hợp đồng đã ký để giải quyết theo thẩm quyền và theo quy định). Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, Sở Xây dựng cũng đã có Văn bản số 5933/SXD-KTXD ngày 23/3/2026 vằ văn bản số 7521/SXD-KTXD ngày 09/4/2026 đề nghị Sở Tư Pháp cập nhật bổ sung chính sách ‘‘Giao HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết về điều chỉnh hình thức hợp đồng từ hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định sang hợp đồng điều chỉnh giá trong các trường hợp đặc thù trên địa bàn Thành phố’’ và dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi. Thực hiện chỉ đạo của UBND Thành phố tại cuộc họp ngày 10/4/2026, Sở Xây dựng tiếp tục có văn bản số 7722/SXD-TCĐT ngày 13/4/2026 báo cáo Đảng Ủy UBND Thành phố kèm theo dự thảo văn bản của Đảng Ủy UBND Thành phố báo cáo Thường Trực, Ban Thường vụ Thành Ủy để xin ý kiến thống nhất chủ trương đề xuất phương án tháo gỡ hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định đối với các dự án đầu tư công.
II. Tổng hợp quy định pháp luật hiện hành liên quan.
1. Tổng hợp chung về điều kiện điều chỉnh hợp đồng.
1.1. Về điều kiện điều chỉnh.
a) Đối với Hợp đồng trọn gói: là loại hợp đồng có giá trị hợp đồng không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện; chỉ được điều chỉnh hợp đồng cho những khối lượng công việc bổ sung ngoài phạm vi công việc theo hợp đồng đã ký kết và trường hợp bất khả kháng (Điều 15, Điều 36 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ)
b) Đối với Hợp đồng theo đơn giá cố định: là hợp đồng được xác định trên cơ sở đơn giá cố định cho các công việc nhân với khối lượng các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết. Đơn giá cố định là đơn giá không thay đổi t rong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng. Hợp đồng chỉ được điều chỉnh, bổ sung khối lượng công việc hợp lý chưa có đơn giá trong hợp đồng ( Điều 15, Điều 37 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ được sửa đổi tại Nghị định số 50/2021/NĐ-CP). Ngoài ra, theo quy định pháp luật về đấu thầu (Điều 70 Luật Đấu thầu năm 2023, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15) việc sửa đổi hợp đồng có thể thực hiện trong trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có thay đổi cơ bản theo quy định của pháp luật về dân sự.
1.2. Quy định về trường hợp bất khả kháng, thay đổi cơ bản. a). Về trường hợp bất khả kháng: Thiên tai, sự cố môi trường, địch họa, hỏa hoạn và các yếu tố bất khả kháng khác (Điều 51 Nghị định 37/2015/NĐ-CP)
b) Về trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có thay đổi cơ bản, gồm:
a) sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; b) tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; c) hoàn cảnh thay đổ i lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; d) việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; đ) B ên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích (Điều 420 Bộ Luật dân sự).
2. Về điều chỉnh hình thức hợp đồng. Hiện nay chưa có quy định cụ thể về trình tự, thẩm quyền chuyển từ hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định sang hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh cũng như hợp đồng có điều chỉnh giá (Thực tiễn đã từng phát sinh tình huống tương tự trong giai đoạn cuối năm 2007 khi giá nguyên, nhiên vật liệu tăng đột biến. Khi đó, Thủ tướng Chính phủ có văn bản chỉ đạo số 164/TTg ngày 29/01/2008 cho phép điều chỉnh giá đối với một số vật liệu chủ yếu và cho phép điều chỉnh hình thức hợp đồng trong trường hợp đặc biệt vượt quá khả năng kiểm soát của chủ đầu tư và nhà thầu).
3. Về chấm dứt hợp đồng.
3.1. Về chấm dứt hợp đồng:
Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định việc chấm dứt hợp đồng phải căn cứ vào các tình huống, quyền chấm dứt, trình tự thủ tục và mức bồi thường đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời phải phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó, bên giao thầu có quyền chấm dứt hợp đồng khi bên nhận thầu bị phá sản, giải thể, chuyển nhượng hợp đồng trái phép hoặc từ chối thực hiện công việc, không thực hiện liên tục trong 56 ngày. Bên nhận thầu cũng có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp tương ứng, như công việc bị dừng 56 ngày liên tục do lỗi của bên giao thầu hoặc không được thanh toán đúng hạn. Vì vậy, việc chấm dứt hợp đồng phải xem xét cụ thể theo nội dung hợp đồng đã ký và tình huống thực tế. Việc chấm dứt, thanh lý hợp đồng chỉ xem xét đối với từng trường hợp cụ thể khi đồng thời đáp ứng các điều kiện chính cơ bản sau:
có căn cứ theo điều (1) khoản hợp đồng đã ký và phù hợp Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP;
) thời (2 gian thực hiện hợp đồng đã hết hoặc hợp đồng không còn khả năng tiếp tục thực hiện trên thực tế;
đã làm rõ trách nhiệm pháp lý của các bên;
đã xác định (3) (4) đầy đủ khối lượng, giá trị thanh toán, nghĩa vụ thu hồi, bồi hoàn, bảo lãnh và các hệ quả tài chính liên quan; có phương án xử lý phần việc còn lại, bảo đảm (5) không thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, không ảnh hưởng đến an toàn công trình, mục tiêu và hiệu quả đầu tư. Theo khoản
3.2. Về xử lý khối lượng còn lại sau khi chấm dứt hợp đồng: 23 Điều 140 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ, trường hợp nhà thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực thực hiện, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả gói thầu thì chủ đầu tư được chấm dứt hợp đồng; phần công việc chưa thực hiện có thể áp dụng chỉ định thầu theo quy định hoặc hình thành gói thầu mới để lựa chọn nhà thầu. Theo điểm b khoản 22 Điều 1 Luật số 90/2025/QH15, chủ đầu tư có thẩm quyền lập, phê duyệt và điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Như vậy, về nguyên tắc, chủ đầu tư có thẩm quyền quyết định phương án xử lý khối lượng còn lại sau khi chấm dứt hợp đồng; trường hợp làm thay đổi quy mô, mục tiêu hoặc tổng mức đầu tư thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.
III. Nhận xét, đánh giá và phương án xử lý.
1. Nhận xét đánh giá:
1.1. Về lựa chọn loại hợp đồng để thực hiện: Hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định chỉ thực sự phù hợp khi phạm vi công việc xác định rõ, điều kiện thực hiện tương đối ổn định và thời gian thi công ngắn. Đối với các dự án chịu tác động lớn của công tác giải phóng mặt bằng, biến động giá vật liệu hoặc có nguy cơ kéo dài tiến độ, việc áp dụng hai loại hợp đồng này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả chủ đầu tư và nhà thầu. Vì vậy, đ ối với các dự án triển khai trong thời gian tới, cần khuyến cáo các chủ đầu tư rà soát tính chất công việc, khả năng xác định khối lượng, tiến độ giải phóng mặt bằng và mức độ biến động giá để lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp ngay từ khâu lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
1.2. Về điều chỉnh hợp đồng.
a) Về điều chỉnh hình thức hợp đồng: Hiện tại chưa có quy định pháp luật cụ thể về thẩm quyền điều chỉnh hình thức hợp đồng từ trọn gói/đơn giá cố định sang hợp đồng có điều chỉnh giá đối với hợp đồng đang triển khai.
- Đối với việc điều chỉnh giá hợp đồng: Hoàn toàn thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ đầu tư. Việc điều chỉnh giá hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật và theo quy định của hợp đồng (các nội dung bất khả kh áng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản phải được quy định cụ thể trong hợp đồng đã ký kết và là căn cứ quan trọng khi áp dụng để triển khai điều chỉnh giá hợp đồng).
b) Về trường hợp điều chỉnh giá hợp đồng: Đối với hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định được điều chỉnh hợp đồng (bao gồm cả giá hợp đồng), trong 02 trường hợp, bao gồm: Bất khả kháng (theo Điều 51 Nghị định 37/2015/NĐ- CP) hoặc Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (theo quy định tại Điều 70 Luật Đấu thầu năm 2023, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15 và Điều 420 Bộ luật Dân sự). Để có cơ sở áp dụng quy định về bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì việc xem xét, đánh giá tác động dẫn đến điều chỉnh hợp đồng phải thực hiện đối với từng hợp đồng cụ thể, không thể có mức định lượng chung.
1.3. Về chấm dứt hợp đồng:
a) Về quy định chung. Quy định, khung pháp lý về chấm dứt hợp đồng và xử lý phần việc còn lại hiện tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều chủ đầu tư , người quyết định đầu tư chưa thực hiện hết trách nhiệm và thẩm quyền của mình, vẫn có trình trạng xin ý kiến cấp trên đối với các nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết. Đồng thời, việc xác định nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan, nhất là chủ đầu tư và nhà thầu, còn chưa rõ. Việc chấm dứt, thanh lý hợp đồng chỉ xem xét đối với từng trường hợp cụ thể khi đồng thời đáp ứng các điều kiện chính cơ bản sau: (1) có căn cứ theo điều khoản hợp đồng đã ký và phù hợp Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP; (2) thời gian thực hiện hợp đồng đã hết hoặc hợp đồng không còn khả năng tiếp tục thực hiện trên thực tế; (3) đã làm rõ trách nhiệm pháp lý của các bên; (4) đã xác định đầy đủ khối lượng, giá trị thanh toán, nghĩa vụ thu hồi, bồi hoàn, bảo lãnh và các hệ quả tài chính liên quan; (5) có phương án xử lý phần việc còn lại, bảo đảm không thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, không ảnh hưởng đến an toàn công trình, mục tiêu và hiệu quả đầu tư.
b) Về thực tiễn xử lý trong thời gian qua.
1
UBND Thành phố đã ủy quyền
cho người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao làm chủ đầu tư quyết định chấm dứt hợp đồng đối với nhà thầu vi phạm, không còn năng lực thực hiện và quyết định áp dụng chỉ định thầu cho nhà thầu khác đối với phần việc còn lại theo quy định. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư chủ động rà soát để thực hiện đúng thẩm quyền. Đối với các trường hợp nhà thầu đề nghị chấm dứt hợp đồng do chậm giải phóng mặt bằng, không xuất phát từ lỗi của nhà thầu, trong thời gian qua đối với 1
Quyết định số 2623/QĐ-UBND ngày 24/5/2025 của UBND Thành phố
một số dự án đầu tư
, Sở Tài chính (trước đây là Sở Kế hoạch và Đầu tư)
, Sở Xây dựng đã có các Văn bản tham mưu và được UBND Thành phố chấp thuận giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố (chủ đầu tư) nghiên cứu quy định pháp luật và hợp đồng đã ký để chấm dứt hợp đồng, thanh lý, xử lý dứt điểm công nợ, nghĩa vụ tạm ứng, bảo lãnh, đồng thời tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện phần khối lượng còn lại. Gần đây nhất, trong quá trình xử lý tình huống đối với phần khối lượng còn gói thầu 16H, 16I thuộc dự án Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa (do nhà thầu lại của không còn năng lực tiếp tục thực hiện), UBND Thành phố đã có văn bản số 1589/UBND-NNMT ngày 17/4/2026 chỉ đạo định hướng xử lý chấm dứt hợp đồng theo quy định và theo thẩm quyền.
1.4. Về một số bất cập, tồn tại trong thực tiễn.
- Chất lượng soạn thảo, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng của một số chủ đầu tư còn hạn chế. Thực tiễn cho thấy nhiều hợp đồng được ký theo mẫu chung, nặng về dẫn chiếu quy định pháp luật nhưng chưa cụ thể hóa thành cơ chế xử lý trong hợp đồng đối với các tình huống phát sinh lớn như chậm bàn giao mặt bằng, đứt gãy nguồn cung, giá nhiên liệu tăng đột biến hoặc thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra, các bên có viện dẫn đến “bất khả kháng”, “thay đổi cơ bản”, “điều chỉnh hợp đồng”, nhưng lại không có tiêu chí, trình tự, hồ sơ và trách nhiệm đủ rõ để áp dụng thống nhất. Đây là một nguyên nhân làm cho việc xử lý vướng mắc kéo dài, thiếu đồng bộ giữa các chủ đầu tư và phát sinh tâm lý e dè, đùn đẩy trách nhiệm.
- Năng lực tổ chức thực hiện ở một số chủ đầu tư còn chưa đáp ứng yêu cầu. Qua theo dõi thực tế thời gian qua, nhiều chủ đầu tư, người quyết định đầu tư chưa thực hiện hết trách nhiệm và thẩm quyền của mình, vẫn có tình trạng xin ý kiến cấp trên đối với những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; đồng thời, việc xác định nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan, nhất là chủ đầu tư và nhà thầu, còn chưa rõ.
- Theo báo cáo của các chủ đầu tư, nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều dự án kéo dài là vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Trách nhiệm trước hết thuộc UBND các quận, huyện trước đây và UBND các xã, phường hiện nay do chưa tập trung, quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện; đồng thời các Ban Quản lý dự án với vai trò chủ đầu tư cũng chưa chủ động phối hợp hiệu quả để tháo gỡ khó khăn. Do đó, cần làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan trong việc để dự án chậm tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và giảm hiệu quả đầu tư. Ghi chú: Nhiều hợp đồng chỉ quy định rất khái quát về bất khả kháng theo kiểu liệt kê chung các trường hợp như thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc “các yếu tố bất khả kháng khác”, nhưng không làm rõ thế nào là sự kiện vượt quá khả năng kiểm soát của các bên, mức độ ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí ra sao thì 2 Dự án Mở rộng đường Phan Kế Bính theo quy hoạch; Dự án đầu tư xây dựng đoạn tuyến đường nối từ Cầu Mỗ Lao, quận Hà Đông đến đường 70, quận Nam Từ Liêm. 3 Văn bản số 5312/KH&ĐT-ĐTTĐ ngày 29/11/2024 của Sở Tài chính (Sở Kế hoạch và Đầu tư trước đây). 4 Các Văn bản của Sở Xây dựng: số 4705/SXD-TCĐT ngày 06/3/2026 và số 5641/SXD-TCĐT ngày 19/3/2026. 5 Các Văn bản của UBND Thành phố: số 4396/UBND-KH&ĐT ngày 27/12/2024 và số 4347/VP-ĐT ngày 16/3/2026.
được xem xét, nghĩa vụ thông báo trong thời hạn bao lâu, bên yêu cầu áp dụng phải cung cấp tài liệu gì, cơ chế xác nhận của tư vấn, chủ đầu tư và cơ quan có thẩm quyền như thế nào. Tương tự, nhiều hợp đồng chưa dự liệu rõ điều kiện điều chỉnh giá, chưa tách bạch giữa phần khối lượng thuộc phạm vi hợp đồng với phần khối lượng phát sinh hợp pháp, chưa quy định rõ cơ chế rà soát, thương thảo, lập hồ sơ chứng minh và trình tự sửa đổi hợp đồng. Vì vậy, khi phát sinh b iến động lớn, chủ đầu tư và nhà thầu thường chỉ dừng ở mức đề nghị “xem xét điều chỉnh” nhưng thiếu căn cứ hợp đồng cụ thể để triển khai.
1.5. Về nghiên cứu vận dụng Luật Thủ đô sửa đổi: Qua nghiên cứu rà soát nội dung Luật Thủ đô mới và theo gợi ý, định hướng của Sở Tư pháp thì có thể nghiên cứu xử lý vấn đề này, theo quy định tại khoản 6 điều 22 Luật Thủ đô sửa đổi, cụ thể: 6. Đối với dự án do cơ quan có thẩm quyền của Thành phố quyết định hoặc chấp thuận theo quy định của pháp luật về đầu tư công, đầu tư, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, nhà ở, đấu thầu chậm triển khai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Hội đồng nhân dân Thành phố quy định hoặc quyết định chính sách, biện pháp đặc biệt, khác với quy định của pháp luật để tháo gỡ
6 khó khăn, vướng mắc với điều kiện phải bảo đảm các nguyên tắc, yêu cầu
1.6. Một số nội dung khác liên quan: Hiện tại theo nhiệm vụ được giao, Sở Tài Chính đã được giao chủ trì tổng rà soát các dự án đầu tư công kéo dài nhiều năm, trong đó sẽ xác định một số dự án dừng, tạm dừng triển khai. Theo đó sau khi có kết quả rà soát và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc xử lý giải quyết được các hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định thuộc dự án dừng, tạm dừng triển khai thực hiện (theo dự kiến sẽ hoàn thành việc rà soát trong tháng 5/2026) 6
a) Phải có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong đó nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm là do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư; chỉ xem xét xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc sau khi đã thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật mà dự án vẫn chậm triển khai; b) Đối với dự án đang trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, hành chính, dân sự thì việc áp dụng quy định tại khoản này chỉ được thực hiện sau khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đình chỉ vụ án; trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật có nội dung quyết định xử lý khác với quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành theo quy định tại khoản này thì thực hiện theo bản án đã có hiệu lực pháp luật;
c) Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm khắc phục hậu quả các vi phạm về kinh tế, thu hồi lợi ích vật chất do hành vi vi phạm; không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện quy định tại khoản này để tham nhũng, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm; d) Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hạn chế tối đa các tranh chấp, khiếu kiện, nhất là tranh chấp có yếu tố nước ngoài; đ) Phải phân loại dự án theo tiêu chí về nguyên nhân chậm triển khai; việc quyết định các biện pháp giải quyết phải phù hợp với tình trạng pháp lý, nghĩa vụ tài chính, mức độ vi phạm và khả năng tiếp tục thực hiện của từng dự án; e) Công khai đầy đủ các thông tin về dự án, khó khăn, vướng mắc và tất cả trình tự, thủ tục, quyết định xử lý dự án; trước ngày 31 tháng 12 hằng năm báo cáo Chính phủ tình hình xử lý dự án nếu áp dụng chính sách, biện pháp khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu khác với quy định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; g) Việc xử lý dự án chậm triển khai quy định tại khoản này phải hoàn thành trước ngày 01 tháng 7 năm 2030.
2. Phương án xử lý. Do tình trạng thực tế của các dự án, gói thầu rất khác nhau, không thể áp dụng một giải pháp chung cho tất cả trường hợp. Theo đó nên chia thành 02 nhóm để triển khai để xử lý, cụ thể:
(các gói thầu thuộc danh mục dự án dừng
Nhóm 1
hoặc tạm dừng triển khai theo kết quả rà soát của Sở Tài Chính được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận);
(các gói thầu thuộc các dự án cần tiếp tục triển Nhóm 2 khai). Trong đó định hướng xử lý đối với từng nhóm cụ thể như sau: : Chủ đầu tư chủ động phối hợp với nhà thầu thống nhất
- Đối với Nhóm 1 phân khai xác định rõ khối lượng đã làm, khối lượng còn lại, giá trị hợp đồng đã thực hiện làm cơ sở tổ chức Quyết toán, thanh lý hợp đồng sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dừng hoặc tạm dừng triển khai dự án.
:
- Đối với Nhóm 2
+ Chủ đầu tư tổ chức rà soát chi tiết cụ thể nội dung của hợp đồng đã ký kết (bao gồm cả phụ lục hợp đồng nếu có) để xem xét quyết định việc điều chỉnh
trong 02 trường hợp, bao gồm: Bất khả kháng (theo giá hợp đồng theo thẩm quyền
Điều 51 Nghị định 37/2015/NĐ-CP) hoặc Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (theo quy định tại Điều 70 Luật Đấu thầu năm 2023, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15 và Điều 420 Bộ luật Dân sự) làm cơ sở tiếp tục triển khai thực hiện gói thầu.
+ Chủ đầu tư đánh giá lại năng lực nhà thầu và khả năng tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã ký kết của nhà thầu, trong trường hợp nhà thầu không còn năng lực để triển khai thực hiện thì xử lý tình huống theo quy định tại khoản 23 Điều 140 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ quy định về xử lý tình huống trong đấu thầu: “Trường hợp nhà thầu thực hiện gói thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu thì chủ đầu tư chấm dứt hợp đồng với nhà thầu đó; nhà thầu vi phạm hợp đồng bị coi là không hoàn thành hợp đồng. Đối với phần công việc chưa thực hiện được áp dụng hình thức chỉ định thầu cho nhà thầu khác với giá trị được tính bằng giá trị ghi trong hợp đồng trừ đi giá trị của phần công việc đã thực hiện, được nghiệm thu trước đó. …Trường hợp không áp dụng hình thức chỉ định thầu thì hình thành gói thầu mới để tổ chức lựa chọn nhà thầu, trường hợp cần thiết, xem xét lại giá gói thầu đối với phần công việc còn lại trước khi tổ chức lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật”.
IV. Đề xuất, kiến nghị: Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các chủ đầu tư và các quy định pháp luật hiện hành, Sở Xây dựng kính đề nghị UBND Thành phố như sau:
1. Kiến nghị Bộ Xây dựng sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể các bộ, cơ quan, địa phương về việc điều chỉnh hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định trong điều kiện biến động mạnh về giá vật liệu xây dựng (theo nội dung
213/TB-VPCP đã được Thủ tướng Chính phủ kết luận, chỉ đạo tại thông báo số ngày 25/4/2026)
2. Chỉ đạo các Chủ đầu tư, UBND xã, phường: Khẩn trương tổ chức a)
rà soát, phân nhóm toàn bộ các dự án/gói thầu theo 02 nhóm để tiến hành xử lý theo thẩm quyền đối với từng trường hợp cụ thể theo định hướng đã nêu tại mục 2 phần III nêu trên. Trong đó đối với nhóm 2 ưu tiên rà soát các nội dung quy định liên quan đến trường hợp bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã nêu trong hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định đã ký đối chiếu với các quy định, điều kiện thực tiễn hiện nay để quyết định áp d ụng việc điều chỉnh giá hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo thẩm quyền. Tiến độ hoàn thành có báo cáo kết quả xử lý gửi về UBND Thành phố, Sở Xây dựng để theo dõi, đôn đốc chỉ đạo xong trong tháng 5/2026.
b) Nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quản lý hợp đồng; chủ động quyết định việc chấm dứt hợp đồng theo đúng thẩm quyền, hợp đồng đã ký và quy định pháp luật; trường hợp vượt thẩm quyền hoặc làm thay đổi quy mô, mục tiêu, tổng mức đầu tư thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.
c) Trong quá trình tổ chức thực hiện các dự án/gói thầu mới trong thời gian tới, cần rà soát tính chất công việc, khả năng xác định khối lượng, tiến độ giải phóng mặt bằng và mức độ biến động giá để lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp ngay từ khâu lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
3. Chỉ đạo các Sở, ngành, đơn vị liên quan.
a) Sở Xây dựng: Phối hợp, hướng dẫn các chủ đầu tư trong quá trình rà soát, xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực các dự án/gói thầu liên quan đến lĩnh vực ngành quản lý; Theo dõi, đôn đốc và tổng hợp báo cáo kết quả xử lý giải quyết của các chủ đầu tư và tham mưu đề xuất UBND Thành phố xử lý các tồn tại vướng mắc (nếu có).
b) Sở Tài chính khẩn trương hoàn thành việc rà soát tham mưu xử lý các dự án đầu tư công trên địa bàn chậm triển khai theo nhiệm vụ đã được giao để báo cáo cấp có thẩm quyền thống nhất phương án xử lý (trong đó có việc xác định rõ danh mục các dự án dừng, tạm dừng triển khai) đảm bảo tiến độ hoàn thành xong trong tháng 5/2026.
c) Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn chủ đầu tư, chính quyền địa phương tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng các dự án.
d) Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu nội
khoản 6 điều 22 Luật Thủ đô vừa được thông qua, tham mưu dung quy định tại đề xuất xây dựng Nghị Quyết của HĐND Thành phố để tháo gỡ cho trường hợp cụ thể liên quan đến xử lý hợp đồng trọn gói, đơn giá cố định kéo dài nhiều năm.
đ) Các sở ngành, đơn vị liên quan khác căn cứ chức năng nhiệm vụ phối hợp, hướng dẫn chủ đầu tư các dự án trong tổ chức triển khai thực hiện.
Sở Xây dựng kính báo cáo UBND Thành phố xem xét và chỉ đạo./. (Gửi Kèm theo dự thảo Văn bản chỉ đạo các Chủ đầu t ư, UBND các, xã Phường và dự thảo Văn bản của UBND Thành phố đề nghị Bộ Xây dựng)
| Nơi nhận: - Như trên; - Đ/c Bí Thư Thành Ủy - Đ/c Chủ tịch UBND TP; (để b/c) - Đ/c Nguyễn Xuân Lưu PCT UBND TP; - UBKT Thành ủy; - Văn phòng Thành ủy Hà Nội (để p/h); - Các Sở: TC, NNMT, TP (để p/h); - Các Đ/c PGĐ Sở (để chỉ đạo); - Các Ban QLDA, các chủ đầu tư, UBND các xã, Phường; - Lưu: VT, TCĐT. | GIÁM ĐỐC Nguyễn Phi Thường |
