Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ông Đặng Tấn L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M theo văn bản ủy quyền ngày 03/3/2023. Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai ngày 29/6/2026, ông L trình bày bà Nguyễn Thị M đã chết ngày 17/01/2025 nhưng tại thời điểm đó chưa cung cấp được giấy chứng tử. Hội đồng xét xử đã đề nghị ông L cung cấp giấy chứng tử, đồng thời liệt kê, cung cấp họ tên, năm sinh, địa chỉ và các thông tin cần thiết của những người thừa kế của bà M để Tòa án có căn cứ xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông Đặng Tấn L đã cung cấp giấy chứng tử, có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị M chết ngày 17/01/2025.
Tuy nhiên, ông L vẫn chưa cung cấp được danh sách, địa chỉ và các thông tin cần thiết về những người thừa kế của bà M theo đề nghị của Hội đồng xét xử. Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng. Đồng thời, theo điểm đ khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự, việc đại diện theo ủy quyền chấm dứt khi người được đại diện là cá nhân chết.
Do đó, kể từ thời điểm bà Nguyễn Thị M chết, việc đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Tấn L đối với bà M chấm dứt; để tiếp tục giải quyết vụ án phải xác định đầy đủ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M và đưa họ tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, bà Nguyễn Thị M là nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, yêu cầu khởi kiện của bà liên quan trực tiếp đến quyền tài sản và quyền hưởng di sản.
Vì vậy, sau khi bà M chết, việc xác định đầy đủ những người thừa kế của bà M để kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà là cần thiết, nhằm xác định đúng, đầy đủ người tham gia tố tụng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Mặc dù Hội đồng xét xử đã đề nghị ông Đặng Tấn L cung cấp thông tin về những người thừa kế của bà M từ phiên tòa phúc thẩm ngày 29/6/2026, nhưng đến phiên tòa hôm nay, ông L vẫn chưa cung cấp được.
Do đó, tuy đã có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị M đã chết nhưng chưa có đủ tài liệu để xác định đầy đủ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M. Việc xác định những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M cần phải tiếp tục xác minh về quan hệ nhân thân, hàng thừa kế, nơi cư trú của từng người; thu thập các tài liệu hộ tịch có liên quan; sau đó đưa đầy đủ những người này tham gia tố tụng, thực hiện việc tống đạt và bảo đảm cho họ thực hiện đầy đủ 18 quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Đây là những vấn đề cần được thu thập, xác minh đầy đủ và không thể thực hiện bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm. Tình tiết bà Nguyễn Thị M chết phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử nên không xác định đây là vi phạm thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm.
Tuy nhiên, việc bà M chết làm thay đổi chủ thể tham gia tố tụng; nếu tiếp tục xét xử phúc thẩm khi chưa xác định và đưa đầy đủ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M tham gia tố tụng thì không bảo đảm quyền tự định đoạt, quyền tranh tụng và các quyền tố tụng hợp pháp của họ, đồng thời không bảo đảm việc giải quyết vụ án được toàn diện, triệt để.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định đầy đủ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M chưa được thực hiện đầy đủ và không thể bổ sung đầy đủ tại cấp phúc thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 08/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm để xác định đầy đủ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị M và đưa họ tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do hủy bản án sơ thẩm vì lý do tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của các đương sự.
[2] Về án phí và chi phí tố tụng: Do hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 74, khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc H, ông Nguyễn Thành P, ông Nguyễn Vĩnh D và bà Trần Thị Đ.
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí và chi phí tố tụng: 19 - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Ngọc H, ông Nguyễn Thành P, ông Nguyễn Vĩnh D và bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí; hoàn trả cho bà Nguyễn Ngọc H, ông Nguyễn Thành P, ông Nguyễn Vĩnh D mỗi người 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0016646 ngày 24/5/2023 (bà Nguyễn Ngọc H nộp) của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T (nay là Thi hành án dân sự tỉnh T), Biên lai số 0016643 ngày 23/5/2023 (ông Nguyễn Thành P nộp) của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T (nay là Thi hành án dân sự tỉnh T), Biên lai số 0016649 ngày 25/5/2023 (ông Nguyễn Vĩnh D nộp) của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T (nay là Thi hành án dân sự tỉnh T). - Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.