[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn Phạm Thị Kim Cúc tham gia tố tụng tại phiên tòa. Thể hiện trong hồ sơ vụ án, bị đơn Phạm Thị Kim Cúc có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dận khu vực 16 - Lâm Đồng đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Phạm Thị Kim Cúc là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật trong vụ án và thẩm quyền giải quyết: trà số ẻn ng hyn thô 4,00. Phú c khờ và tê lu chu hà rp tin Tây K1:202 hải đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Ngoài yêu cầu này thì các đương sự không còn yêu cầu gì khác.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là "Tranh chấp về hụi" là phù hợp với quy định tại khoan 3 Điều 26 BLTTDS. Cho nên, vụ án này thuộc thấm quyền giải quyêt của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đông theo quy định tại Điều 35 và điêm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[3] Xét yêu cầu về tranh chấp về hụi của bà Nguyễn Thị Hồng Phúc: Scanned with CamScanner® Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù, bà Phạm Thị Kim Cúc không xác định được đã tham gia chơi chân hụi nào, mở và kết thúc ngày nào, bao nhiêu người tham gia chơi. Thế nhưng, bà Cúc thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Hồng Phúc làm chủ và hốt hụi chết. Số tiền 104.000.000đ mà bà Cúc đã nhận được vào khoảng tháng 6/2023 là tiền hụi bà Phúc thanh toán cho bà Cúc. Như vậy, có đủ căn cứ xác định trên thực tế giữa bà Cúc và bà Phúc có tham gia hụi với nhau vào năm 2023 và trong quá trình tham gia chơi, bà Cúc có hốt hụi chết vào thời điểm tháng 6/2023. Tại phiên tòa, bà Phúc cung cấp được danh sách của một số người tham gia chơi hụi được mở vào ngày 25/3/2023 (âm lịch) với số lượng 17 người tham gia. Mặc dù, trong danh sách này không có chữ ký, chữ viết xác nhận của những người tham gia chơi hụi; không có đầy đủ họ tên và số tiền hụi phải đóng hàng tháng. Nhưng bà Phúc xác định chân hụi này có sự tham gia của bà Cúc (tên gọi khác là Trúc) và số tiền hàng tháng phải đóng là 20.000.000đ. Bà Cúc và bà Nguyễn Thị Minh Hải tham gia chung một chân hụi có nghĩa là mỗi người đóng ½ số tiền hàng háng. Lời khai của bà Phúc phù hợp với phần trình bày của người làm chứng Nguyễn Thị Minh Hải. Cho nên, có đủ căn cứ xác định chân hụi mà bà Cúc tham gia chơi được mở ngày 25/3/2023 (âm lịch) và có 17 người tham gia chơi, số tiền hàng tháng phải đóng là 20.000.000đ/tháng. Theo phần trình bày của bà Phúc thì khi tham gia chân hụi mở ngày 25/3/2023 (âm lịch), bà Cúc, bà Hải đóng được tháng thứ hai thì hốt hụi. Sau khi tính toán các khoản liên quan đến dây hụi này thì bà Phúc phải thanh toán cho bà Hải, bà Cúc mỗi người là 111.750.000đ.
Tuy nhiên, do bà Cúc còn nợ bà Phúc số tiền 7.000.000đ nên bà Phúc đã khấu trừ số tiền này vào tiền hụi mà bà Cúc được hưởng. Số tiền còn lại bà Phúc chuyển khoản vào tài khoản của bà Cúc là 104.750.000đ. Lời khai của bà Phúc phù hợp với chứng cứ được sao kê từ Ngân hàng Vietcombank thể hiện vào ngày 13/6/2023 bà Nguyễn Thị Hồng Phúc đã chuyển khoản cho bà Phạm Thị Kim Cúc số tiền 104.750.000đ. Như vậy, trên thực tế bà Cúc đã nhận tiền hụi từ bà Phúc là 104.750.000đ đối với chân hụi được mở vào ngày 25/3/2023 (âm lịch). Theo nguyên tắc chơi hụi, sau khi hốt hụi chết thì người chơi hụi phải có trách nhiệm tiếp tục đóng tiên cho những tháng còn lại. Trường hợp bà Cúc, bà Hải đóng đến tháng thứ hai thì hốt; trong dây hụi có 17 người tham gia chơi thì bà Hải, bà Cúc phải có trách nhiệm đóng thêm 15 tháng cho đến khi kết thúc với số tiền hàng tháng là 20.000.000đ. Như vậy, chia phần thì bà Cúc phải có trách nhiệm đóng tiền hụi cho bà Phúc là 15 tháng x 10.000.000đ = 150.000.000đ. Thế hiện tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án, bà Phạm Thị Kim Cúc xác định: Sau khi hốt hụi chêt thì có đóng tiên cho bà Phúc, nhưng không xác định được đã đóng bao nhiêu và cũng không có chứng cứ gì để chứng minh cung cấp cho Tòa án. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Hồng Phúc xác định: Sau khi hốt hụi chết thì bà Cúc đã đóng được cho bà Phúc tông sô tiên 46.000.000đ. Như vậy, do bà Cúc không cung được chứng cứ chứng minh đã đóng cho bà Phúc bao nhiêu Scanned with CS CamScanner™ tiền.
Căn cứ vào lời khai của bà Phúc xác định số tiền bà Cúc đã đóng hụi chết cho dây hụi mở ngày 25/3/2023 (âm lịch) là 46.000.000đ.
Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ xác định: Tổng số tiền hụi chết mà bà Cúc có trách nhiệm đóng cho bà Phúc đên ngày 25/7/2024 (âm lịch) là 15 thang với số tiền 150.000.000đ. Sau khi trừ đi số tiên 46.000.000đ bà Cúc đã đóng cho bà Phúc thì còn lại số tiền 104.000.000đ bà Cúc nợ bà Phúc. Như vậy, sau khi kết thúc kỳ hụi (ngày 25/7/2024 âm lịch) bà Cúc không thanh toán đủ số tiền 104.000.000đ nên bà Cúc còn nợ bà Phúc số tiền nợ hụi đối với dây hụi mở ngày 25/3/2023 (âm lịch) là 104.000.000đ.
Vì vậy, yêu câu khởi kiện của bà Nguyên Thị Hồng Phúc đối với bà Phạm Thị Kim Cúc về việc buộc trả lại số tiên nợ hụi 104.000.000đ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 471 BLDS.
[4] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Hồng Phúc yêu cầu bà Phạm Thị Kim Cúc phải trả tiền lãi đối với số tiền nợ hụi 104.000.000đ từ ngày 28/8/2024 cho đến nay, với mức lãi suất chậm trả là 0,83%/tháng. Xét thấy: Sau khi kết thúc kỳ chơi hụi, ngày 28/8/2024 cho đến nay bà Cúc đã không thanh toán số tiền nợ hụi 104.000.000đ cho bà Phúc.
Vì vậy, yêu cầu của bà Phúc về việc buộc bà Cúc có trách nhiệm trả lãi chậm trả với mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 357 BLDS và điểm a khoản 2 Điều 22 Nghị định sô 19/2019/NĐ - CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi họ, biêu, phường. Số tiền lãi được tính như sau: Từ ngày 28/8/2024 đến ngày 05/6/2026 là 21 tháng 08 ngày x 0.83%/tháng x 104.000.000đ = 18.357.384đ. Như vậy, tổng số tiền cần buộc bà Phạm Thị Kim Cúc phải trả lại cho ba Nguyễn Thị Hồng Phúc là 122.357.384đ. Trong đó, tiền nợ gốc là 104.000.000đ
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Phúc được chấp nhận toàn bộ nên cần buộc bà Phạm Thị Kim Cúc phải nộp án phí DS/ST.
Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoan 1 Điều 39; các Điều 147, 271; 273; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. - Các Điều 471; Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. - Nghị định số 19/2019/NĐ - CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi họ, biêu, phường. 4M 6 Scanned with CS, CamScanner - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Phúc. - Buộc bà Phạm Thị Kim Cúc phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Phúc số tiền là 122.357.384đ (Một trăm hai mươi hai triệu, ba trăm năm mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi tư đồng). Trong đó, tiền nợ hụi là 104.000.000đ và tiền lãi chậm trả là 18.357.384đ. Kể từ người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. - Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Kim Cúc phải nộp 6.118.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng Phúc số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.600.000đ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007625, ngày 24/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Án xử sơ thấm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 05/6/2026. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành g án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.