VBPLTin tứcÁn lệBản ánHỏi đáp AI
← Danh sách bản án
Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Dân sựSơ thẩmCông bố
⚖️Nhận định của Tòa án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị Kim L, ông Lê Thái H trả tiền góp hụi, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khu vực 12 – Tây Ninh. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T, bà Phan Thị Kim L, ông Lê 2 Thái H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T, bà L, ông H là đúng theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị T kiện đòi bà Phan Thị Kim L và ông Lê Thái H trả tổng số tiền hụi còn thiếu là 19.760.000 đồng theo “Giấy tính hụi ghi ngày 10/3/2023”, bà T không yêu cầu tính lãi. Tại biên bản làm việc, bản tự khai bà L xác định còn nợ và đồng ý trả số tiền hụi là 19.760.000 đồng cho bà T. Sự thừa nhận của bà L là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T, bà L đều thống nhất việc bà L tự ý ngưng hụi là do không gom được tiền hụi chết của các hụi viên khác, hiện tại bà L không còn tổ chức dây hụi trên, bà T chưa hốt hụi, bà L xác nhận còn nợ tiền hụi của bà T tổng số tiền 19.760.000đồng và đồng ý có nghĩa vụ thanh toán lại tiền hụi đã đóng cho bà T.

Do đó, bà T yêu cầu bà L trả tiền nợ hụi 19.760.000 đồng là có cơ sở.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông H cùng có nghĩa vụ với bà L trả cho bà L thì thấy rằng: Ông H và bà L là vợ chồng hợp pháp. Ông H cho rằng việc bà L trực tiếp tham gia góp hụi với bà T như thế nào ông không biết, ông không tham gia nên không chấp nhận yêu cầu của bà T là không phù hợp. Bởi lẽ, giữa ông và bà L là mối quan hệ vợ chồng, sống chung nhà, ông và bà L không có thỏa thuận chế độ phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nên việc xác lập giao dịch dân sự sinh lợi của bà L được đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình nên cần xác định đây là nợ chung của ông H, bà L và buộc ông H có nghĩa vụ cùng bà L trả nợ là phù hợp theo quy định tại các Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó yêu cầu của bà T đối với ông H là có căn cứ chấp nhận.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T; bà Phan Thị Kim L, ông Lê Thái H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Quyết định

Căn cứ vào các Điều 288, 357, 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với bà Phan Thị Kim L và ông Lê Thái H về hợp đồng góp hụi. Buộc bà Phan Thị Kim L và ông Lê Thái H có nghĩa vụ L đới trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 19.760.000 (mười chín triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng. 3 Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phan Thị Kim L và ông Lê Thái H không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà L, ông H còn phải trả cho bà T số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T; bà Phan Thị Kim L, ông Lê Thái H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

📄 Toàn văn bản án
100%
Đang tải PDF...