Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Ngày 21/10/2024, bị đơn ông Lê Hữu H kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn là trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án. Kiểm sát viên tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Hữu H; hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Hữu H, Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án như sau: [2.1]. Về Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và Hợp đồng thế chấp tài sản: Ngày 24/9/2015, Ngân hàng TMCP X (E) và ông Lê Hữu H đã ký Hợp đồng tín dụng số 1600-LAV-201501195 cho ông H vay số tiền 850.000.000 đồng để sửa chữa nhà và mua sắm vật dụng gia đình với thời hạn vay là 240 tháng từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Ngày 24 và 25/9/2015, ông H lần lượt nhận số tiền 315.000.000 đồng và 300.000.000 đồng từ Ngân hàng theo các khế ước nhận nợ số 1600-LDS-201503658 và số 1600-LDS-201503659. Để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng tín dụng nói trên, ông Trần C và bà Trương Thị Y đã dùng tài sản là nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 277, tờ bản đồ số 07, tọa lạc 4 tại K đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để thế chấp, được công chứng tại Phòng Công chứng số B thành phố Đà Nẵng và đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T, thành phố Đà Nẵng cùng ngày 24/9/2015. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Trần C chết (30/01/2017), ông Lê Hữu H chỉ trả được nợ gốc 228.800.000 đồng và một phần nợ lãi, đến tháng 02/2023 thì ông H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như cam kết tại Mục 5.1, 5.2 của các Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ.
Xét thấy, các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật về nội dung lẫn hình thức; ông Trần C chết sau khi hợp đồng đã được ký kết nên không ảnh hưởng đến hiệu lực của Hợp đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xác định: tính đến ngày 13/9/2024, ông Lê Hữu H còn nợ số tiền gốc 386.200.000 đồng, lãi trong hạn 73.731.469 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn 6.872.279 đồng và buộc ông Lê Hữu H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng E tổng số tiền 466.803.748 đồng cả nợ gốc và lãi; tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 14/9/2024 cho đến khi ông Lê Hữu H thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng E theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kiêm kế ước nhận nợ số 1600-LDS-201503658 ngày 24/09/2015 và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1600-LDS-201503659 ngày 25/09/2015. Đồng thời, xác định Ngân hàng E có quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà, đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần C (chết) và bà Trương Thị Y theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3402071038 do UBND thành phố P cấp ngày 22/5/2001 nếu ông Lê Hữu H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, nếu tài sản phát mãi không đủ trả nợ thì ông Lê Hữu H tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ; trường hợp ông Lê Hữu H thanh toán nợ xong thì Ngân hàng E phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Trương Thị Y và các đồng thừa kế thứ nhất của ông Trần C bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3402071038 do UBND thành phố P cấp ngày 22/5/2001 đứng tên ông Trần C, bà Trương Thị Y là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định của pháp luật. [2.2]. Về xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C: Như nhận định ở trên của Bản án, Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo đối với nhà, đất tọa lạc tại K đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Trần C và bà Trương Thị Y có hiệu lực pháp luật, quá trình các bên thực hiện Hợp đồng, ông Trần C chết (30/01/2017) nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đưa họ vào tham gia tố tụng là đúng pháp luật, đồng thời đảm bảo việc thi hành án cũng như đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Theo đó, cha mẹ của ông C đã chết nên vợ ông C là bà Trương Thị Y cùng các con của ông C được xác định là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C.
Xét thấy, tại Bản tự khai ngày 04/12/2023, ông Lê Hữu H trình bày: “… ông Trần C cha vợ tôi đã bị bệnh đã mất năm 2019 (tối 2019)” và ông C có các người con gồm: “Trần Anh D, Trần Quốc H3, Trần Thị Trương H4, Trần Quốc T1, Trần Quốc H2, Trần Thị Trương H4, Trần Thị Trương H1, Trần Quốc H5” (BL 65). 5 Ngày 29/12/2023, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê tiến hành lấy lời khai của bà Trương Thị Y (vợ của ông Trần C), bà Y trình bày: “Bà Trương Thị Y và ông Trần C (đã mất) có 07 người con có tên như sau: Trần Anh D, sinh năm 1967 hiện nay đang định cư ở Mỹ; Trần Quốc T1 sinh năm 1968; Trần Quốc H2, sinh năm 1972; Trần Quốc H3, sinh năm 1974; Trần Thị Trương H4, sinh năm 1977; Trần Thị Trương H1, sinh năm 1980; Trần Quốc H5, sinh năm 1971” (BL 77). Đồng thời, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê ban hành Công văn số 04/CV-TA ngày 03/01/2023, đề nghị Công an quận T xác minh những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C. Theo đó, kết quả xác minh tại Công văn số 84/CAQ- QLHC ngày 11/01/2024 của Công an quận T (BL 79) thể hiện: ông Trần C có cha mẹ đẻ là ông Trần M (chết năm 1951) và bà Ngô Thị N (chết năm 1948), có vợ là bà Trương Thị Y và các con gồm: Trần Anh D, Trần Quốc T1, Trần Quốc H2, Trần Quốc H3, Trần Thị Trương H4, Trần Thị Trương H1 và Trần Quốc H5 (BL 79).
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng không đưa ông Trần Quốc H5 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bỏ sót người tham gia tố tụng. Đồng thời, bản án sơ thẩm lại xác định ông Lê Hữu H (con rể ông C) là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C (trang 06, 07 bản án sơ thẩm) là xác định không đúng, không đầy đủ người tham gia tố tụng trong vụ án, vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định đương sự trong vụ án, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Trần Quốc H5. Trường hợp Ngân hàng TMCP X (E) được thực hiện quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp và tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn tổng số nợ mà ông H phải có nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng E phải có nghĩa vụ trả lại phần giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế của ông Trần C sau khi đã đối trừ nghĩa vụ mà ông H phải thi hành nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định ông Trần Quốc H5 là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần C, không đưa ông Trần Quốc H5 vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H5. Trong khi đó, phần Quyết định của bản án sơ thẩm quyết định nội dung: “…Trường hợp ông Lê Hữu H thanh toán nợ xong thì Ngân hàng TMCP X (E) phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Trương Thị Y và các đồng thừa kế thứ nhất của ông Trần C (gồm Trương Thị Y, ông Lê Hữu H, Bà Trần Thị Trương H1, ông Trần Anh D; ông Trần Quốc T1; ông Trần Quốc H2, ông Trần Quốc H3, bà Trần Thị Trương H4) Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3402071038 do UBND thành phố P cấp ngày 22/5/2001 đứng tên ông Trần C, bà Trương Thị Y.”. Việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.
[3].
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Hữu H, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.
[4]. Về án phí: - Án phí dân sự phúc thẩm: do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn ông Lê Hữu H không phải chịu. 6 - Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Hữu H; - Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: căn cứ khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; - Ông Lê Hữu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số 0007732 ngày 31/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng). - Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.