VBPLTin tứcÁn lệBản ánHỏi đáp AI
← Danh sách bản án
Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Dân sựSơ thẩmCông bố
⚖️Nhận định của Tòa án

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Đăng K tranh chấp hợp đồng tín dụng. Xét đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Phan Đăng K theo đúng quy định tại tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của các đương sự trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

[3] Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, có cơ sở xác định giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Phan Đăng K đã giao kết Đơn yêu cầu cấp tín dụng kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản cá nhân được phê duyệt ngày 04/9/2019 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và 3 sử dụng tài khoản được phê duyệt ngày 03/9/2019. Nội dung các thỏa thuận thể hiện rõ quyền, nghĩa vụ của các bên, không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện hợp đồng, có chứng cứ thể hiện Ngân hàng đã giải ngân số tiền 151.000.000 đồng cho ông K và cấp hạn mức thẻ tín dụng theo thỏa thuận, ngân hàng cung cấp chứng cứ là sao kê quá trình sử dụng thẻ tín dụng của ông K.

Tuy nhiên, ông Phan Đăng K không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, để các khoản nợ phát sinh quá hạn, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Vì vậy yêu cầu của ngân hàng là có căn cứ. Về lãi suất, các bên có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng tín dụng và điều khoản sử dụng thẻ tín dụng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất cấp tín dụng.

Do đó, mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng theo hợp đồng đã ký kết với ông K là có cơ sở pháp lý để chấp nhận. Tính đến ngày 30/3/2026, ông Phan Đăng K còn nợ Ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng số tiền 393.885.802 đồng, trong đó nợ gốc 148.244.384 đồng, lãi quá hạn 245.641.418 đồng; đối với thẻ tín dụng còn nợ tổng số tiền 97.829.780 đồng, trong đó nợ gốc 42.837.357 đồng, nợ lãi 15.654.273 đồng, phí 39.338.150 đồng. Các khoản nợ này được xác định phù hợp với nội dung hợp đồng và chứng cứ do Ngân hàng cung cấp, bị đơn không chứng minh được đã thanh toán nên có căn cứ chấp nhận. Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 31/3/2026 theo hợp đồng tín dụng số 9135224.19, xét thấy đây là nghĩa vụ đã được các bên thỏa thuận và phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1, buộc ông Phan Đăng K phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ và tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông K phải chịu án phí đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Quyết định

4 - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; - Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Q1 đối với bị đơn - ông Phan Đăng K về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Buộc ông Phan Đăng K trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 393.885.802 đồng, trong đó nợ gốc 148.244.384 đồng, lãi quá hạn 245.641.418 đồng đối với Hợp đồng tín dụng số 9135224.19 ngày 04/9/2019. Buộc ông Phan Đăng K trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền là 97.829.780 đồng, trong đó nợ gốc 42.837.357 đồng, nợ lãi 15.654.273 đồng, phí 39.338.150 đồng đối với thẻ thẻ đối với C000000000240263. thẻ VIB CASHBACK, số tài khoản tín dụng, loại thẻ Kể từ ngày tiếp theo của ngày 30/3/2026 ông Phan Đăng K còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 9135224.19 ngày 04/9/2019. Trường hợp hợp đồng tín dụng có thỏa thuận lãi suất cho vay được điều chỉnh theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cũng được điều chỉnh phù hợp với mức lãi suất do ngân hàng công bố tại từng thời điểm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.668.623 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 7.488.845 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0036522 ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. 5

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

📄 Toàn văn bản án
100%
Đang tải PDF...