THÔNG
TƯ
CỦA
BỘ LAO ĐỘNG-
THƯƠNG
BINH VÀ XÃ HỘI
SỐ 07/2003/TT-BLĐTBXH
NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM
2003 HƯỚNG
DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA NGHỊ ĐỊNH
SỐ 01/2003/NĐ-CP
NGÀY 9 THÁNG 01 NĂM
2003 VỀ VIỆC SỬA ĐỔI,
BỔ SUNG MỘT
SỐ ĐIỀU
CỦA ĐIỀU
LỆ BẢO HIỂM XÃ HỘI BAN HÀNH KÈM THEO
NGHỊ ĐỊNH
SỐ 12/CP NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM
1995 CỦA CHÍNH PHỦ
Thi
hành Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
ngày 9 tháng 01 năm
2003 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều
của Điều
lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP ngày 26 tháng 1 năm
1995 của Chính phủ và ý kiến chỉ đạo
của Thủ tướng
Chính phủ tại văn
bản số 1072/VPCP-VX ngày 11 tháng 3 năm
2003; sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Tài Chính, Bộ Nội
vụ, Tổng Liên đoàn
Lao động
Việt Nam, Bộ Lao động-
Thương
binh và Xã hội hướng
dẫn thực hiện như
sau:
I-
ĐỐI
TƯỢNG
ÁP DỤNG
Đối
tượng
áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định
tại khoản 1, Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
gồm:
1-
Người
lao động
làm việc theo hợp đồng
lao động
có thời hạn từ đủ
3 tháng trở lên và hợp đồng
lao động
không xác định
thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức sau:
a/
Doanh nghiệp thành lập, hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước,
bao gồm: doanh nghiệp hoạt động
sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động
công ích; doanh nghiệp thuộc lực lượng
vũ trang;
b/
Doanh nghiệp thành lập, hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân;
c/
Doanh nghiệp thành lập, hoạt động
theo Luật Đầu
tư
nước
ngoài tại Việt Nam, bao gồm: doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư
nước
ngoài;
d/
Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội;
đ/
Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác;
e/
Các cơ
quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề
nghiệp, tổ chức xã hội khác, lực lượng
vũ trang; kể cả các tổ chức, đơn
vị được
phép hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc cơ
quan hành chính, sự nghiệp, Đảng,
đoàn
thể, các hội quần chúng tự trang trải về tài chính;
g/
Cơ
sở bán công, dân lập, tư
nhân thuộc các ngành văn
hoá, y tế, giáo dục, đào
tạo, khoa học, thể dục thể thao và các ngành sự nghiệp
khác;
h/
Trạm y tế xã, phường,
thị trấn;
i/
Cơ
quan, tổ chức nước
ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường
hợp Điều
ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc tham gia có quy định
khác.
k/
Các tổ chức khác có sử dụng lao động
là những tổ chức chưa
quy định
tại điểm
1 này.
2-
Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp lệnh cán bộ,
công chức.
3-
Người
lao động,
xã viên làm việc và hưởng
tiền công theo hợp đồng
lao động
từ đủ
3 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt
động
theo Luật Hợp tác xã.
4-
Người
lao động
làm việc tại các doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức quy định
tại các điểm
1 và điểm
3 mục này, làm việc theo hợp đồng
lao động
có thời hạn dưới
3 tháng, khi hết hạn hợp đồng
lao động
mà người
lao động
tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng
lao động
mới đối
với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đó
thì phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
5-
Người
lao động
quy định
tại điểm
1, điểm
2, điểm
3 và điểm
4 Mục này, đi
học, thực tập, công tác, điều
dưỡng
trong và ngoài nước
mà vẫn hưởng
tiền lương
hoặc tiền công do doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức sử dụng lao động
trả thì cũng thuộc đối
tượng
thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
II-
CÁC CHẾ ĐỘ
ĐƯỢC
HƯỞNG
1-
Chế độ
trợ cấp thai sản theo quy định
tại khoản 2, Điều
1, Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
Lao
động
nữ có thai, sinh con (không phân biệt số lần sinh con) khi
nghỉ việc theo Điều
11 và Điều
12 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội được
hưởng
trợ cấp thai sản.
2-
Cách tính mức lương
hưu
theo quy định
tại điểm
a, khoản 4, Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
a/
Lao động
nam có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội đủ
15 năm
thì được
tính bằng 45% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội, sau đó
từ năm
thứ 16 trở đi,
cứ thêm mỗi năm
đóng
bảo hiểm xã hội được
tính thêm 2%. Mức lương
hưu
hàng tháng tối đa
bằng 75% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 1: Ông Nguyễn Văn
A có 35 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, lương
hưu
được
tính như
sau:
-
15 năm
đầu
được
tính 45%
-
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 35 là 20 năm,
được
tính:
20
năm
x 2%/năm
= 40%
-
Tỷ lệ để
tính lương
hưu
hàng tháng là: 45% + 40% = 85%.
Trường
hợp này lương
hưu
hàng tháng chỉ tính bằng 75% mức bình quân của tiền
lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
b/
Lao động
nữ có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội đủ
15 năm
thì được
tính bằng 45% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội, sau đó
từ năm
thứ 16 trở đi,
cứ thêm mỗi năm
đóng
bảo hiểm xã hội được
tính thêm 3%. Mức lương
hưu
hàng tháng tối đa
bằng 75% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 2: Bà Nguyễn Thị B có 26 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, lương
hưu
được
tính như
sau:
-
15 năm
đầu
được
tính 45%
-
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 26 là 11 năm,
được
tính:
11
năm
x 3%/năm
= 33%
-
Tỷ lệ để
tính lương
hưu
hàng tháng là: 45% + 33% = 78% mức bình quân của tiền
lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Trường
hợp này lương
hưu
hàng tháng chỉ tính bằng 75% mức bình quân của tiền
lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
3-
Cách tính mức lương
hưu
thấp hơn
theo quy định
tại điểm
b, khoản 4, Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
a/
Người
lao động
làm nghề bình thường.
Nam
đủ
50 tuổi đến
dưới
60 tuổi, nữ đủ
45 tuổi đến
dưới
55 tuổi và có đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội trở lên mà bị suy giảm khả năng
lao động
từ 61% trở lên thì cách tính lương
hưu
thực hiện theo quy định
tại điểm
2 mục II nêu trên, nhưng
cứ mỗi năm
nghỉ việc trước
60 tuổi đối
với nam, 55 tuổi đối
với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 3: Ông Nguyễn Văn
C nghỉ hưu
từ 1/4/2003, khi nghỉ hưu
58 tuổi, có 28 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, bị suy giảm khả năng
lao động
61%. Tỷ lệ hưởng
lương
hưu
hàng tháng của ông C được
tính như
sau:
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 Mục II:
+
15 năm
đầu
được
tính 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 28 là 13 năm
được
tính thêm 26%
-
Tổng cộng: 45% + 26% = 71%.
-
Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi 60:
(60
tuổi – 58 tuổi) x 1% = 2%
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
là: 71% - 2% = 69%
Ví
dụ 4: Bà Trần Thị D nghỉ hưu
từ 1/2/2003, khi nghỉ hưu
52 tuổi, có 22 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, bị suy giảm khả năng
lao động
61%. Tỷ lệ hưởng
lương
hưu
hàng tháng của bà D được
tính như
sau:
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 mục II:
+
15 năm
đầu
được
tính 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 22 là 7 năm
được
tính thêm 21%
Tổng
cộng: 45% + 21% = 66%.
-
Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi 55:
(55
tuổi – 52 tuổi) x 1% = 3%
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
là: 66% - 3% = 63%
b/
Người
lao động
có đủ
15 năm
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm; 15 năm
làm việc ở nơi
có phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên hoặc có 10 năm
công tác ở Miền Nam, ở Lào trước
ngày 30 tháng 4 năm
1975 hoặc ở Campuchia trước
ngày 31 tháng 8 năm
1989.
Nam
đủ
50 tuổi đến
dưới
55 tuổi, nữ đủ
45 tuổi đến
dưới
50 tuổi, có đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội trở lên mà bị suy giảm khả năng
lao động
từ 61% trở lên thì cách tính lương
hưu
thực hiện theo quy định
tại điểm
2 mục II nêu trên, nhưng
cứ mỗi năm
nghỉ việc trước
55 tuổi đối
với nam, 50 tuổi đối
với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 5: Ông Trần Văn
Đ
là công nhân nghỉ hưu
từ 1/4/2003, khi nghỉ hưu
50 tuổi, có 29 năm
đóng
bảo hiểm xã hội (trong đó
có 15 năm
làm việc nặng nhọc, độc
hại), bị suy giảm khả năng
lao động
61%.
Tỷ
lệ lương
hưu
hàng tháng của ông Đ
được
tính như
sau:
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 mục II:
+
15 năm
đầu
được
tính 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 29 là 14 năm
được
tính thêm 28%
Tổng
cộng: 45% + 28% = 73%
-
Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi 55:
(55
tuổi – 50 tuổi) x 1% = 5%
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
là: 73% - 5% = 68%.
Ví
dụ 6: Bà Nguyễn Thị E là công nhân nghỉ hưu
từ 1/2/2003, khi nghỉ hưu
49 tuổi, có 22 năm
đóng
bảo hiểm xã hội (trong đó
có 15 năm
làm việc nặng nhọc, độc
hại), bị suy giảm khả năng
lao động
61%.
Tỷ
lệ lương
hưu
hàng tháng của bà E được
tính như
sau:
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 mục II:
+
15 năm
đầu
được
tính 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 22 là 7 năm
được
tính thêm 21%
Tổng
cộng: 45% + 21% = 66%
-
Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi 50:
(50
tuổi – 49 tuổi) x 1% = 1%
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
là: 66% - 1% = 65%.
c/
Người
lao động
có ít nhất 15 năm
làm nghề đặc
biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm, đã
đóng
bảo hiểm xã hội đủ
20 năm
trở lên mà bị suy giảm khả năng
lao động
từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời)
thì cách tính lương
hưu
thực hiện theo quy định
tại điểm
2 mục II nêu trên, nhưng
cứ mỗi năm
nghỉ việc hưởng
lương
hưu
trước
55 tuổi đối
với nam, 50 tuổi đối
với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 7: Ông Nguyễn Văn
H, có 25 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, trong đó
có 15 năm
làm nghề đặc
biệt nặng nhọc. Do sức khoẻ yếu, ông H được
Hội đồng
Giám định
Y khoa khám và kết luận suy giảm khả năng
lao động
61% và được
nghỉ hưu
tháng 2/2003, khi nghỉ hưu
ông H đủ
48 tuổi.
Tỷ
lệ hưởng
lương
hưu
hàng tháng của ông H được
tính như
sau:
-
Tỷ lệ % để
tính hưởng
lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 mục II:
+
15 năm
đầu
được
tính 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 25 là 10 năm
được
tính thêm 20%
Tổng
cộng: 45% + 20% = 65%
-
Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi 55:
(55
tuổi – 48 tuổi) x 1% = 7%
-
Tỷ lệ % để
tính lương
hưu
là: 65% - 7% = 58%
d/
Những người
nghỉ hưu
theo khoản 1 Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội thì cách tính lương
hưu
theo quy định
tại điểm
2 Mục II nêu trên.
đ/
Những người
nghỉ hưu
trước
tuổi theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội nếu thuộc diện đi
làm công ăn
lương
có đóng
bảo hiểm xã hội hoặc tham gia công tác coi như
đã
đóng
bảo hiểm xã hội trước
16 tuổi thì tuỳ theo số năm
trước
16 tuổi được
tính mỗi năm
bằng 2% đối
với nam, 3% đối
với nữ mức bình quân của tiền lương
tháng đóng
bảo hiểm xã hội để
khấu trừ vào tổng số tỷ lệ phần trăm
mức bình quân của tiền lương
phải giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi. Nhưng
số khấu trừ nhiều nhất cũng chỉ bằng tỷ lệ phần
trăm
tiền lương
phải giảm.
Ví
dụ 8: Ông Nguyễn Văn
Y tham gia hoạt động
Cách mạng năm
14 tuổi, do mất sức lao động
61% nên nghỉ hưu
ở độ
tuổi 54. ông Y có 40 năm
làm việc đóng
bảo hiểm xã hội. Cách tính lương
hưu
hàng tháng của ông Y như
sau:
+
15 năm
đầu
được
tính bằng 45%
+
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 30 là 15 năm
được
tính thêm 30%
+
Tổng cộng: 45% + 30% = 75%
Do
ông Y nghỉ hưu
trước
tuổi 60 là 6 năm
nên tỷ lệ phần trăm
mức bình quân tiền lương
phải giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi là:
(60
tuổi – 54 tuổi) x 1% = 6%
Nhưng
ông Y có 2 năm
công tác trước
16 tuổi, ông Y được
tính 4% mức bình quân tiền lương
để
khấu trừ vào tổng số tỷ lệ phần trăm
phải giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi là 6%. Như
vậy còn lại 2% phải giảm do nghỉ hưu
trước
tuổi.
Lương
hưu
hàng tháng của ông Y là: 75% - 2% = 73%
e/
Người
lao động
khi nghỉ việc có đủ
3 điều
kiện dưới
đây
thì được
hưởng
chế độ
hưu
trí hàng tháng, tỷ lệ hưởng
lương
hưu
tính theo quy định
tại điểm
2 mục II nêu trên, không phải giảm tỷ lệ % lương
hưu
do về hưu
trước
tuổi.
-
Nam đủ
55 tuổi đến
dưới
60 tuổi, nữ đủ
50 tuổi đến
dưới
55 tuổi không phải qua giám định
khả năng
lao động.
-
Có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội đủ
30 năm
trở lên;
-
Có đơn
tự nguyện nghỉ việc hưởng
chế độ
hưu
trí .
Ví
dụ 9: Ông Nguyễn Văn
K có đơn
tự nguyện nghỉ hưu
tháng 3/2003, khi nghỉ hưu
đủ
55 tuổi, có đủ
30 năm
làm việc và đóng
bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ tính hưởng
lương
hưu
của ông K được
tính đủ
bằng 75%.
4-
Cách tính trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
theo quy định
tại điểm
c, khoản 4, Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
Trợ
cấp một lần khi nghỉ hưu
được
thực hiện như
sau:
a/
Lao động
nữ có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội trên 25 năm,
thì từ năm
thứ 26 trở đi,
cứ mỗi năm
đóng
bảo hiểm xã hội được
nhận một nửa (1/2) tháng mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội, nhưng
tối đa
không quá 5 tháng.
Ví
dụ 10: Bà Trần Thị L nghỉ hưu
khi đủ
55 tuổi và có 30 năm
đóng
bảo hiểm xã hội. Tính trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
của bà L như
sau: Từ năm
thứ 26 trở lên, bà L có 5 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, trợ cấp một lần bằng: 5 năm
x 0,5 tháng/năm
= 2,5 tháng mức bình
quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
b/
Lao động
nam có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội trên 30 năm,
thì từ năm
thứ 31 trở đi,
cứ mỗi năm
đóng
bảo hiểm xã hội được
nhận một nửa (1/2) tháng mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội, nhưng
tối đa
không quá 5 tháng.
Ví
dụ 11: Ông Vũ Văn
M nghỉ hưu
khi đủ
60 tuổi và có 42 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, tính trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
của ông M như
sau: Từ năm
thứ 31 trở lên, ông M có 12 năm
đóng
bảo hiểm xã hội, trợ cấp 1 lần bằng: 12 năm
x 0,5 tháng/năm
= 6 tháng. Nhưng
quy định
tối đa
không quá 5 tháng. Do đó,
ông M được
nhận trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu
bằng 5 tháng mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
5-
Người
hưởng
trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo khoản 1 Điều
28 đã
sửa đổi,
bổ sung theo khoản 5, Điều
1, Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
gồm:
a/
Người
lao động
đủ
60 tuổi đối
với nam, 55 tuổi đối
với nữ, nhưng
chưa
đủ
15 năm
đóng
bảo hiểm xã hội;
b/
Người
lao động
đủ
tuổi nghỉ hưu
theo khoản 2 Điều
25 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội nhưng
chưa
đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội.
c/
Người
lao động
bị suy giảm khả năng
lao động
từ 61% trở lên do ốm đau,
tai nạn, bệnh nghề nghiệp nhưng
chưa
đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội.
d/
Người
đi
định
cư
hợp pháp ở nước
ngoài là người
được
cơ
quan Nhà nước
có thẩm quyền cho phép xuất cảnh để
đi
sinh sống ở nước
ngoài (Không áp dụng đối
với những đối
tượng
xuất cảnh vì mục đích
khác, sau đó
ở lại và sinh sống ở nước
ngoài).
e/
Người
lao động
làm việc theo hợp đồng
có thời hạn đã
giao kết đúng
quy định
của pháp luật Lao động
trước
ngày 01/01/2003 mà chấm dứt hợp đồng
lao động
sau ngày 01/01/2003, nếu có đơn
tự nguyện thì được
trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
Mức
trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần được
tính như
sau: cứ mỗi năm
đóng
bảo hiểm xã hội được
tính bằng 1 tháng mức bình quân của tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
6-
Khoản 2, Điều
28 đã
sửa đổi,
bổ sung theo khoản 5, Điều
1, Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
Người
lao động
nghỉ việc nhưng
chưa
đủ
tuổi để
hưởng
chế độ
hưu
trí theo Điều
25, khoản 2 và khoản 3 Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội mà có đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội thì được
lựa chọn 1 trong 2 phương
thức sau:
a/
Nghỉ chờ đến
khi đủ
tuổi hưởng
chế độ
hưu
trí hàng tháng như
sau:
-
Người
có đủ
20 năm
làm việc trong điều
kiện bình thường
thì nam chờ đến
khi đủ
60 tuổi, nữ chờ đến
khi đủ
55 tuổi;
-
Người
có đủ
20 năm
đóng
bảo hiểm xã hội trong đó
có đủ
15 năm
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, đặc
biệt nặng nhọc, đặc
biệt độc
hại; hoặc đủ
15 năm
làm việc ở nơi
có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; hoặc đủ
10 năm
công tác ở miền Nam, ở Lào trước
30/4/1975, ở Campuchia trước
31/8/1989 thì nam chờ đến
khi đủ
55 tuổi, nữ chờ đến
khi đủ
50 tuổi.
Người
nghỉ việc chờ đủ
tuổi để
giải quyết chế độ
hưu
trí hàng tháng phải có đơn
tự nguyện chờ giải quyết chế độ
hưu
trí, có xác nhận của công đoàn
và thủ trưởng
đơn
vị. Sau đó
thủ trưởng
cơ
quan, đơn
vị, doanh nghiệp phải lập đủ
hồ sơ
như
người
nghỉ hưu
gửi đến
cơ
quan Bảo hiểm xã hội quản lý, theo dõi và giải quyết
chế độ
hưu
trí hàng tháng khi đủ
điều
kiện về tuổi đời.
Trong
thời gian nghỉ chờ, nếu người
lao động
làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tiếp tục đóng
bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng
bảo hiểm xã hội sau này được
cộng với thời gian đóng
bảo hiểm xã hội trước
đó
để
tính hưởng
chế độ
bảo hiểm xã hội. Trường
hợp nếu bị suy giảm khả năng
lao động
từ 61% trở lên thì được
giải quyết chế độ
hưu
trí theo quy định
tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội hoặc nếu chết thì gia đình
được
hưởng
chế độ
tử tuất quy định
tại mục V Điều
lệ Bảo hiểm xã hội.
b/
Người
lao động
không có nguyện vọng nghỉ chờ để
giải quyết chế độ
hưu
trí hàng tháng, thì cơ
quan bảo hiểm xã hội xác nhận trong sổ bảo hiểm xã
hội thời gian đã
đóng
bảo hiểm xã hội, mức tiền lương
làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội. Sổ bảo hiểm xã hội được
giao cho người
lao động
quản lý.
Sau
khi nhận sổ bảo hiểm xã hội, nếu người
lao động
làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tiếp tục đóng.
Trường
hợp người
lao động
gặp rủi ro bị chết thì gia đình
được
hưởng
chế độ
tử tuất, nếu ốm đau
(có xác nhận của bệnh viện) hoặc sau 6 tháng không tiếp
tục làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người
lao động
có đơn
tự nguyện, thì cơ
quan bảo hiểm xã hội nơi
người
lao động
cư
trú giải quyết trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
7-
Khoản 3 Điều
28 đã
sửa đổi,
bổ sung theo khoản 5, Điều
1, Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
a/
Người
lao động
nghỉ việc nhưng
chưa
đủ
tuổi nghỉ hưu
và chưa
đủ
thời gian đóng
bảo hiểm xã hội theo quy định
tại Điều
25, Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội thì cơ
quan bảo hiểm xã hội xác nhận trong sổ bảo hiểm xã
hội thời gian đóng
bảo hiểm xã hội, mức tiền lương
làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội. Sổ bảo hiểm xã hội được
giao cho người
lao động
quản lý.
Sau
khi nhận sổ bảo hiểm xã hội, nếu người
lao động
làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tiếp tục đóng.
Trường
hợp người
lao động
gặp rủi ro bị chết thì gia đình
được
hưởng
chế độ
tử tuất, nếu ốm đau
(có xác nhận của bệnh viện) hoặc sau 6 tháng không tiếp
tục làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người
lao động
có đơn
tự nguyện, thì cơ
quan bảo hiểm xã hội nơi
người
lao động
cư
trú giải quyết trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
b/
Người
lao động
có tên trong danh sách của doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức của Nhà nước,
nghỉ chờ việc trước
ngày 01 tháng 01 năm
1995 mà chưa
nhận trợ cấp 1 lần thì được
cấp sổ bảo hiểm xã hội và xác nhận thời gian làm
việc (tính đến
khi bắt đầu
nghỉ chờ việc). Sổ bảo hiểm xã hội được
giao cho người
lao động
quản lý.
Sau
khi nhận sổ bảo hiểm xã hội, nếu người
lao động
làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tiếp tục đóng.
Trường
hợp người
lao động
gặp rủi ro bị chết thì gia đình
được
hưởng
chế độ
tử tuất, nếu ốm đau
(có xác nhận của bệnh viện) hoặc sau 6 tháng không tiếp
tục làm việc thuộc đối
tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người
lao động
có đơn
tự nguyện, thì cơ
quan bảo hiểm xã hội nơi
người
lao động
cư
trú giải quyết trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần.
Cách
xác định
thời gian làm việc (công tác) trước
ngày 01 tháng 01 năm
1995 được
thực hiện theo quy định
tại Thông tư
số 13/NV ngày 4 tháng 9 năm
1972 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động
– Thương
binh và Xã hội) và các văn
bản liên quan có hiệu lực ban hành trước
ngày 01 tháng 01 năm
1995.
Quy
trình, thủ tục xác nhận thời gian làm việc và cấp sổ
bảo hiểm xã hội đối
với người
lao động
tại tiết b này có quy định
riêng.
8-
Cách tính mức bình quân tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội đối
với người
lao động
có đủ
15 năm
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc công việc đặc
biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm mà chuyển sang làm công việc khác đóng
bảo hiểm xã hội có mức lương
thấp hơn
theo quy định
tại khoản 6 Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
a/
Đối
tượng
áp dụng là người
lao động
đã
được
xếp vào các mức lương
của thang lương,
bảng lương
do Nhà nước
quy định
thuộc nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc đặc
biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm và đã
đóng
bảo hiểm xã hội theo các mức lương
đó
đủ
15 năm
trở lên.
b/
Trong thời gian 15 năm
trở lên hưởng
mức lương
nặng nhọc, độc
hại thì được
tính khoảng thời gian 5 năm
liền kề (liên tục) có các mức lương
cao nhất để
làm cơ
sở tính lương
hưu.
Ví
dụ 12: Ông Nguyễn Văn
P có đủ
điều
kiện nghỉ hưu
tháng 2/2003; đã
có đủ
15 năm
làm việc và đóng
bảo hiểm xã hội theo mức lương
của nghề nặng nhọc, độc
hại, sau đó
chuyển sang làm việc khác hưởng
lương
chuyên viên cho đến
khi nghỉ hưu.
Ông P có quá trình hưởng
mức lương
và đóng
bảo hiểm xã hội theo các mức lương
sau:
-
Từ tháng 1/1970 đến
tháng 12/1974 làm nghề nặng nhọc, độc
hại hưởng
mức lương
cơ
khí 331,5 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 2,49;
-
Từ tháng 1/1975 đến
tháng 12/1980 làm nghề nặng nhọc, độc
hại hưởng
mức lương
cơ
khí 352,5 đồng
được
chuyển sang hệ số 3,05;
-
Từ tháng 1/1981 đến
hết tháng 12/1985 làm nghề nặng nhọc, độc
hại hưởng
mức lương
cơ
khí 375 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 3,73;
-
Từ tháng 1/1986 đến
tháng tháng 1/2003 chuyển sang làm việc nhẹ hưởng
mức lương
thấp hơn,
trước
khi nghỉ hưu
hưởng
mức lương
chuyên viên bậc 6 theo hệ số 3,06.
Mức
lương
để
làm cơ
sở tính lương
hưu
của ông P được
tính theo quy định
tại khoản 6 Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau: tính mức bình quân tiền lương
đóng
bảo hiểm xã hội của 5 năm
liền kề cao nhất (tháng 1/1981 đến
hết tháng 12/1985) là 3,73.
Ví
dụ 13: Ông Nguyễn Văn
Q là công nhân lái xe đủ
điều
kiện nghỉ hưu
tháng 1/2003, có đủ
15 năm
làm việc và đóng
bảo hiểm xã hội theo mức lương
của nghề nặng nhọc, nhưng
mức lương
có nhiều thời điểm
cao thấp khác nhau:
-
Từ tháng 1/1975 đến
tháng 12/1977 lái xe trọng tải 16,5 tấn, hưởng
mức lương
bậc 2: 372 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 2,56;
-
Từ tháng 1/1978 đến
tháng 12/1980 lái xe trọng tải 40 tấn, hưởng
mức lương
bậc 2: 438 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 3,27;
-
Từ tháng 1/1981 đến
tháng 12/1983 lái xe trọng tải 25 tấn, hưởng
mức lương
bậc 2: 394 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 2,98;
-
Từ tháng 1/1984 đến
tháng 12/1986 lái xe trọng tải 14 tấn, hưởng
mức lương
bậc 3: 372 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 3,07;
-
Từ tháng 1/1987 đến
tháng 12/1989 lái xe trọng tải 30 tấn, hưởng
mức lương
bậc 3: 438 đồng
được
chuyển đổi
theo hệ số 3,73;
-
Từ tháng 1/1990 đến
khi nghỉ hưu
chuyển sang lái xe con hưởng
mức lương
thấp hơn
theo hệ số 2,73.
Cách
tính mức bình quân tiền lương
tháng để
làm cơ
sở tính lương
hưu
hàng tháng của ông Q thực hiện như
sau:
Ông
Q có hai thời gian được
hưởng
các mức lương
cao nhất là 3,27 và 3,73 nhưng
không liên tục nên không được
cộng các mức tiền lương
của hai thời kỳ này để
tính mức bình quân tiền lương
cao nhất liền kề.
Trường
hợp này, việc tính mức bình quân tiền lương
cao nhất của 5 năm
liền kề tính từ tháng 1/1985 đến
tháng 12/1989 theo các mức:
-
Từ tháng 1/1985 đến
tháng 12/1986 tính mức lương
theo hệ số 3,07.
-
Từ tháng 1/1987 đến
tháng 12/1989 tính mức lương
theo hệ số 3,73.
Việc
tính lương
hưu
cho các đối
tượng
quy định
tại tiết a,b nói trên không áp dụng đối
với người
lao động
hưởng
lương
theo các mức lương
không thuộc thang lương,
bảng lương
do Nhà nước
quy định.
c/
Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm và đặc
biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm do Bộ Lao động
– Thương
binh và Xã hội ban hành, thực hiện theo các văn
bản quy định
sau đây:
-
Quyết định
số 1453/LĐTBXH-QĐ
ngày 13/10/1995 của Bộ trưởng
Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội;
-
Quyết định
số 915/LĐTBXH-QĐ
ngày 30/7/1996 của Bộ trưởng
Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội;
-
Quyết định
số 1629/LĐTBXH-QĐ
ngày 26/12/1996 của Bộ trưởng
Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội;
-
Quyết định
số 190/1999/QĐ-BLĐTBXH
ngày 3/3/1999 của Bộ trưởng
Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội;
-
Quyết định
số 1580/2000/QĐ-BLĐTBXH
ngày 26/12/2000 của Bộ trưởng
Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội.
9-
Cách tính thời gian đóng
bảo hiểm xã hội để
giải quyết chế độ
được
quy định
tại khoản 7, Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
như
sau:
a/
Cách tính thời gian đóng
bảo hiểm xã hội để
tính mức lương
hưu
và trợ cấp bảo hiểm xã hội: nếu có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội dưới
3 tháng thì không tính; từ đủ
3 tháng đến
đủ
6 tháng được
tính nửa (1/2) năm
(6 tháng); từ 7 tháng đến
đủ
12 tháng tính tròn là 1 năm.
b/
Khi xác định
điều
kiện thời gian đóng
bảo hiểm xã hội để
tính hưởng
chế độ
hưu
trí, tuất hàng tháng thì 1 năm
phải tính đủ
12 tháng. Nếu còn thiếu thời gian đóng
bảo hiểm xã hội tối đa
không quá 6 tháng, thì người
lao động
đóng
tiếp một lần cho những tháng còn thiếu với mức đóng
hàng tháng bằng 15% của mức lương
tháng trước
khi nghỉ việc.
Ví
dụ 14: Bà Lê Thị T, khi nghỉ hưu
đủ
55 tuổi, có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội là 14 năm
7 tháng. Vậy bà T được
tự đóng
tiếp bảo hiểm xã hội của 5 tháng còn thiếu với mức
đóng
hàng tháng bằng 15% của mức lương
tháng trước
khi nghỉ việc để
đủ
điều
kiện hưởng
chế độ
hưu
trí theo quy định
tại khoản 1 Điều
26 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội (đủ
15 năm
đóng
bảo hiểm xã hội).
c/
Cách tính mức lương
hưu
và trợ cấp bảo hiểm xã hội khi thời gian đóng
bảo hiểm xã hội lẻ 6 tháng:
-
Khi tính tỷ lệ (%) lương
hưu,
nếu còn lẻ 6 tháng thì tính bằng một nửa (1/2) mức
hưởng
của 1 năm
đóng
bảo hiểm xã hội.
-
Khi tính mức trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, nếu
còn lẻ 6 tháng thì tính bằng một nửa (1/2) mức hưởng
của 1 năm
đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 15: Bà Nguyễn Thị Q, đủ
55 tuổi, có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội là 23 năm
4 tháng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội của bà Q được
tính tròn là 23 năm
6 tháng. Tiền lương
hưu
hàng tháng của bà Q được
tính như
sau:
-
15 năm
đầu
được
tính 45%
-
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 23 là 8 năm
được
tính thêm 24%.
-
6 tháng lẻ tính bằng: 1/2 x 3% = 1,5%
Tỷ
lệ để
tính lương
hưu
hàng tháng là: 45% + 24% + 1,5% = 70,5% mức bình quân của
tiền lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội.
Ví
dụ 16: Ông Nguyễn Văn
S, đủ
60 tuổi, có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội là 32 năm
4 tháng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội của ông S được
tính tròn là 32 năm
6 tháng. Tiền lương
hưu
hàng tháng của ông S được
tính như
sau:
-
15 năm
đầu
được
tính 45%
-
Từ năm
thứ 16 đến
năm
thứ 30 là 15 năm
được
tính thêm 30%
Tỷ
lệ để
tính lương
hưu
hàng tháng là: 45% + 30% = 75% mức bình quân của tiền
lương
tháng làm căn
cứ đóng
bảo hiểm xã hội
Ngoài
ra ông S còn được
hưởng
trợ cấp 1 lần của thời gian 2 năm
6 tháng (thời gian đóng
bảo hiểm xã hội trên 30 năm)
là:
2
năm
x 0,5 tháng lương
= 1 tháng lương.
6
tháng được
tính bằng 1/2 mức trợ cấp của 1 năm
là 0,25 tháng lương
(1/2 x 0,5 tháng lương).
Vậy mức trợ cấp 1 lần là:
1
tháng lương
+ 0,25 tháng lương
= 1,25 tháng lương
10-
Trong thời gian lao động
nữ nghỉ sinh con theo quy định
tại khoản 9 Điều
1 Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP
không phải đóng
5% tiền lương
tháng, người
sử dụng lao động
không phải đóng
15% tiền lương
cho người
lao động
với thời gian người
lao động
được
nghỉ theo quy định
như
sau:
a/
Người
lao động
nữ nghỉ sinh con trong thời hạn 4 tháng, 5 tháng hoặc 6
tháng và thời gian nghỉ thêm do sinh đôi
trở lên theo quy định
tại các khoản 1,2 Điều
12 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội.
b/
Thời gian người
lao động
nghỉ việc nuôi con nuôi sơ
sinh hợp pháp theo quy định
tại Điều
13 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội.
Quy
định
trên không áp dụng đối
với những trường
hợp nghỉ thêm quy định
tại khoản 3 Điều
12 Điều
lệ Bảo hiểm xã hội.
III-
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
1-
Thông tư
này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng
công báo.
Các
chế độ
quy định
tại Thông tư
này áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm
2003. Không tính lại chế độ
cho các đối
tượng
đã
hưởng
chế độ
bảo hiểm xã hội trước
ngày 01 tháng 01 năm
2003.
2-
Quy trình và thủ tục hồ sơ
giải quyết chế độ
bảo hiểm xã hội được
thực hiện theo quy định
tại Thông tư
số 06/LĐ-TBXH-TT
ngày 4/4/1995 của Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội và các văn
bản hướng
dẫn hiện hành.
3-
Thông tư
này bãi bỏ:
a/
Các nội dung sau đây
của Thông tư
số 06/LĐ-TBXH-TT
ngày 4/4/1995 của Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội hướng
dẫn thi hành một số điều
để
thực hiện Điều
lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ;
-
Phần A;
-
Điểm
1, mục II, phần B;
-
Tiết a, b điểm
3, mục IV, phần B;
-
Điểm
4, mục IV, phần B;
-
Điểm
5, mục IV, phần B;
-
Điểm
5, phần D.
b/
Thông tư
số 02/1999/TT-BLĐTBXH
ngày 9/01/1999 của Bộ Lao động
- Thương
binh và Xã hội về việc hướng
dẫn thi hành Nghị định
số 93/1998/NĐ-CP
ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều
của Điều
lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ.
Trong
quá trình thực hiện, nếu có vướng
mắc, đề
nghị phản ánh về Bộ Lao động-
Thương
binh và Xã hội để
xem xét, giải quyết.