Nghị quyết 122/NQ-CP Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2026
CHÍNH PHỦ ________ Số: 122/NQ-CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ______________________________________________ Hà Nội, ngày 06 tháng 5 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2026
_________________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2026, tổ chức vào ngày 04 tháng 5 năm 2026.
QUYẾT NGHỊ:
I. Về quan điểm, định hướng chỉ đạo, điều hành
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã xem xét, quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ, cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ, bầu Thủ tướng Chính phủ, phê chuẩn bổ nhiệm các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031; thông qua nhiều luật, nghị quyết quan trọng, hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn mới của đất nước. Trên cương vị cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI thống nhất một số quan điểm, định hướng chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực quản lý nhà nước như sau:
1. Quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, định hướng phát triển đất nước theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Xây dựng Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước các cấp hiện đại, kiến tạo, phục vụ Nhân dân, đoàn kết, phối hợp, đồng hành, liêm chính, kỷ luật, bản lĩnh, trách nhiệm. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng phát triển, phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
2. Điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược. Phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Thúc đẩy kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
3. Vận hành tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, thực chất. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao năng lực cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở; chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể và động lực của sự phát triển; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo để đánh giá thành công của bộ máy chính quyền các cấp; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy hành chính nhà nước.
4. Tập trung nguồn lực xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật; cắt giảm mạnh thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt để khơi thông, giải phóng các nguồn lực xã hội. Phối hợp chặt chẽ, thực chất, hiệu quả với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia, giám sát, đóng góp, xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật. Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính.
5. Phát triển văn hóa, con người, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Đổi mới căn bản giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài. Nâng cao năng lực hệ thống y tế công cộng, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngay từ cơ sở. Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân. Tăng cường năng lực phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, công nghệ; tiếp tục xây dựng, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước.
II. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm tháng 5 và thời gian tới
1. Những kết quả nổi bật
Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong tháng 4 năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự leo thang và kéo dài ở nhiều khu vực, nhất là tại Trung Đông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung, giá nhiên liệu, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, tiềm ẩn rủi ro suy giảm tăng trưởng trong khi lạm phát, nợ công có xu hướng tăng.
Ở trong nước, dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự đồng hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời của các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự đồng thuận, tham gia tích cực của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế; ngay sau khi được kiện toàn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương đã nhanh chóng bắt tay ngay vào công việc, quán triệt, thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, hệ thống 09 nghị quyết chuyên đề, đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trong đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương; chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, có phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, hiệu quả với biến động bên ngoài và những vấn đề đột xuất, phát sinh. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 04 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả tích cực, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước, tạo động lực để tiếp tục thúc đẩy công việc trong tháng 5 và thời gian tới.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 04 tháng đầu năm tăng 3,99%. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định; thanh khoản của hệ thống ngân hàng bảo đảm, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Thu ngân sách nhà nước tháng 4 ước đạt 257,2 nghìn tỷ đồng, lũy kế 04 tháng đầu năm 2026 đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán, tăng 15,2% so với cùng kỳ; nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách được kiểm soát tốt. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 04 tháng đạt 344,17 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 24,2% so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7%, nhập khẩu đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% (chủ yếu là nhóm hàng hóa tư liệu sản xuất, chiếm 94,2%). Giải ngân vốn đầu tư công đến hết tháng 4 đạt khoảng 144,3 nghìn tỷ đồng, đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (tăng gần 12,6 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025).
Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế duy trì đà tăng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 ước tăng 3% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 4 đạt 50,5 điểm, là tháng thứ 10 liên tiếp duy trì trên mức 50 điểm. Sản xuất nông nghiệp ổn định, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng tích cực; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng ước tăng 11,1%; nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản ổn định. Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 4 đạt 2,03 triệu lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục chuyển biến tích cực; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 4 là gần 20,4 nghìn, tính chung 04 tháng đạt hơn 77,8 nghìn doanh nghiệp. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới 04 tháng ước đạt 18,24 tỷ USD, vốn FDI thực hiện đạt 7,4 tỷ USD, tăng lần lượt 32% và 9,8% so với cùng kỳ. Các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài được xử lý hiệu quả; đã đưa vào khai thác thêm gần 200 km đường bộ cao tốc. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo khả quan về triển vọng phát triển kinh tế của nước ta trong năm 2026; tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s nâng triển vọng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ mức “ổn định” lên “tích cực”.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng; tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam, kỷ niệm 51 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày Quốc tế lao động 1/5... Công tác bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trong 04 tháng đầu năm, các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã giải ngân gần 67,3 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ vay vốn cho gần 644 nghìn lượt hộ nghèo, đối tượng chính sách. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên đạt 96%. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục phát triển mạnh. Ngành giáo dục tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm tiến độ xây dựng các trường học nội trú tại các xã biên giới. Chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được nâng lên; hoàn thành 100% dữ liệu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế kết nối đồng bộ với hệ thống bảo hiểm xã hội.
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh được đẩy mạnh. Chính phủ đã trình tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thông qua 14 dự án luật, nghị quyết. Trong tháng 4, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 35 Nghị định, 12 Nghị quyết, 10 Quyết định quy phạm pháp luật; tính chung 04 tháng đã ban hành 147 Nghị định, 23 Nghị quyết và 22 Quyết định. Tích cực chuẩn bị sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
Công tác quân sự, quốc phòng, an ninh được chú trọng; giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ. Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được đẩy mạnh. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục là điểm sáng; tổ chức thành công các chuyến công tác của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tiếp đón Lãnh đạo cấp cao các nước sang thăm Việt Nam, góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước; kết hợp chặt chẽ đối ngoại song phương và đa phương với các hoạt động văn hóa đối ngoại, tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Hạn chế, bất cập cần lưu ý
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục gặp khó khăn, thách thức. Sức ép điều hành kinh tế vĩ mô rất lớn do tác động từ các yếu tố bất lợi bên ngoài, nhất là về lãi suất, tỷ giá, kiểm soát lạm phát. Tăng trưởng một số ngành, lĩnh vực chưa đạt kịch bản; các động lực tăng trưởng truyền thống chưa phát huy hết khả năng, động lực tăng trưởng mới cần thêm thời gian phát huy hiệu quả; nhập siêu có xu hướng tăng. Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp hơn cùng kỳ. Việc chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết chưa được khắc phục triệt để. Còn thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rườm rà; hạ tầng số, một số cơ sở dữ liệu quốc gia chưa hoàn thiện. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo. Thiên tai diễn biến khó lường; chưa có giải pháp hiệu quả khắc phục sạt lở bờ sông vùng đồng bằng sông Cửu Long; ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông tại một số đô thị lớn chưa được xử lý hiệu quả. Tình hình an ninh trật tự tại một số địa bàn, tội phạm công nghệ cao, lừa đảo qua mạng, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, vi phạm bản quyền, vệ sinh an toàn thực phẩm… còn diễn biến phức tạp.
3. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 5 và thời gian tới
Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, chiến tranh xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, kéo dài; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm; thị trường tài chính, tiền tệ tiếp tục biến động, tiềm ẩn rủi ro… Ở trong nước, khó khăn, thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, tạo áp lực lên công tác chỉ đạo điều hành và việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2026, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP cả năm đạt từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phát huy tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao độ, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tập trung chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, trong đó chú trọng những nội dung sau:
a) Chủ động rà soát, tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ theo Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, các Nghị quyết của Quốc hội về các kế hoạch 05 năm về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ, nhất là 44 nhiệm vụ có thời hạn hoàn thành trong quý II năm 2026; cụ thể hóa thành các nhóm nhiệm vụ tại chương trình, kế hoạch hành động của bộ, cơ quan, địa phương, phân công rõ tổ chức, cá nhân chủ trì, phối hợp thực hiện với thời hạn hoàn thành cụ thể, làm cơ sở để giám sát, kiểm tra việc thực hiện và đánh giá cán bộ theo quy định; định kỳ hằng tháng báo cáo tình hình, tiến độ triển khai từng nhiệm vụ, gửi Bộ Tài chính trước ngày 25 để tổng hợp. Trong quá trình xây dựng đề án và chính sách, phải đánh giá đầy đủ về nguồn lực thực hiện, phù hợp với Kế hoạch tài chính 5 năm để đảm bảo khả thi và an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
b) Chủ động xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành 14 luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất và khẩn trương xây dựng văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết này, bảo đảm chất lượng, tiến độ, có hiệu lực đồng thời với hiệu lực của luật, nghị quyết. Đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026 trở về trước và các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
c) Tập trung rà soát hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến các nội dung đã được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội. Khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ; rà soát, sửa đổi quy chế làm việc phù hợp với Quy chế làm việc của Chính phủ và quy định pháp luật.
d) Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết; tập trung xây dựng, hoàn thiện hồ sơ chính sách, hồ sơ dự án luật trình Chính phủ trong tháng 5 năm 2026 để trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ 2, bảo đảm chất lượng, thời hạn trình tại Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2025 và Quyết định số 701/QĐ-TTg ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó lưu ý rà soát kỹ nội dung giao quy định chi tiết và dự kiến hợp lý thời điểm có hiệu lực của luật, nghị quyết; khi trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, phải trình kèm theo dự thảo nghị định, quyết định, thông tư quy định chi tiết để bảo đảm tính khả thi trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết; giao Văn phòng Chính phủ đưa nội dung này vào Quy chế làm việc của Chính phủ.
đ) Tập trung nguồn lực để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo đúng kế hoạch, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do đồng chí Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng Ban, Công điện số 32/CĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của bộ, cơ quan, địa phương mình.
e) Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thế giới và khu vực, nhất là thay đổi chính sách của các nền kinh tế lớn, kịp thời tham mưu giải pháp điều hành, phản ứng chính sách nhanh, phù hợp, tuyệt đối không chủ quan, bị động, bất ngờ. Chuẩn bị kịch bản trong tình huống xung đột Mỹ/Israel - Iran tiếp tục kéo dài. Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng.
g) Về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, đối với đầu tư công: thực hiện nghiêm Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25 tháng 4 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ. Khẩn trương hoàn thiện danh mục, phương án phân bổ vốn giai đoạn 2026 - 2030, gửi Bộ Tài chính trước ngày 15 tháng 5 năm 2026 để tổng hợp, báo cáo cấp thẩm quyền; đẩy nhanh phân bổ, giải ngân kế hoạch vốn được giao, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao. Quán triệt nguyên tắc hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án phải thực hiện xuyên suốt trong quá trình từ xây dựng nhu cầu, phân bổ vốn đến tổ chức thực hiện, quản lý sử dụng vốn đầu tư công và vận hành, khai thác dự án sau khi hoàn thành đầu tư.
h) Theo dõi sát diễn biến xuất nhập khẩu, tình hình nhập siêu, tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, kịp thời có giải pháp hỗ trợ. Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là nông sản theo mùa vụ. Tổ chức sản xuất, điều hành cung ứng năng lượng chủ động, linh hoạt; sử dụng điện, nhiên liệu tiết kiệm, hiệu quả; tuyệt đối không để thiếu điện, xăng dầu trong mọi tình huống. Tập trung phát triển, hiện đại hóa một số ngành công nghiệp nền tảng, quan trọng; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tổ chức vận hành đồng bộ, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam gắn với thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
i) Khẩn trương thực hiện đầy đủ, đồng bộ các giải pháp tại Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” để tiêu dùng trong nước đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng GDP. Khẩn trương cụ thể hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao thành các chương trình, dự án hợp tác cụ thể gắn với thu hút FDI; tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, đẩy mạnh đàm phán, ký kết các FTA mới theo kế hoạch, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, hỗ trợ xuất khẩu bền vững.
k) Triển khai hiệu quả các kết luận, chỉ đạo của Đảng, Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Căn cứ vào các kiến nghị mà đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ ra, các bộ, ngành khẩn trương giải quyết trước khi họp sơ kết 01 năm chính quyền 3 cấp. Tổ chức sơ kết, đánh giá 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp tổ dân phố, thôn, bản và các đơn vị sự nghiệp công lập theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.
l) Tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Xử lý triệt để tài sản công là nhà, đất dôi dư, không sử dụng; thời hạn hoàn thành trong quý II năm 2026. Triển khai hiệu quả các Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện. Trong quý III năm 2026, hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024 (ở trung ương và địa phương), phấn đấu tiếp tục cắt giảm tối thiểu 30% các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, 100% các điều kiện kinh doanh không cần thiết.
m) Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng “2 con số”. Tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn; chủ động phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
n) Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài. Tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại; hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính sách; chủ động, kịp thời định hướng dư luận; kiên quyết đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, thông tin giả, thông tin xấu độc, các luận điệu xuyên tạc.
o) Về nhiệm vụ cụ thể của các bộ, cơ quan, địa phương: Từng bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện những nội dung tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này; thực hiện nghiêm Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại các buổi làm việc với các bộ, ngành.
III. Về việc báo cáo Chính phủ theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của Chính phủ
Thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ (khoản 4 Điều 3), tại Phiên họp Chính phủ, các Bộ đã có báo cáo Chính phủ như sau:
1. Bộ Tài chính báo cáo về tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, hoàn thiện các dự thảo: Nghị quyết Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch tài chính quốc gia và vay trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Nghị quyết Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI về Phương án xử lý nguồn tiền thực hiện Phán quyết của Trọng tài quốc tế và Dự án Nghị quyết của Quốc hội về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo báo cáo về thay đổi quy định hiệu lực của Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa An-giê-ri dân chủ và nhân dân.
3. Bộ Tư pháp báo cáo về tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo: Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, Luật Hộ tịch (sửa đổi), Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Nghị quyết thí điểm thực hiện chế định Luật sư công.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết này./.
TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG [ Lê Minh Hưng |
