Kết luận 58-KL/TW 2026 thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về củng cố tổ chức đảng
|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG |
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM |
|
Số 58-KL/TW |
Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2026 |
KẾT LUẬN
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tăng cường củng cố,
xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
trong giai đoạn mới
__________________
I- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
Thời gian qua, việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 21-NQ/TW) đã được các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các tổ chức cơ sở đảng được kiện toàn, củng cố phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện, xuyên suốt; phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới; chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được tăng cường, vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được khẳng định; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển và quản trị trong tình hình mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc: Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên chưa đồng đều; một bộ phận chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ở một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; sinh hoạt chi bộ ở một số nơi còn hình thức, chậm đổi mới, chưa gắn chặt với nhiệm vụ chính trị. Việc tạo nguồn, kết nạp đảng viên hằng năm ở một số nơi chưa đạt chỉ tiêu. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện, quản lý đảng viên và nâng cao năng lực, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước. Việc sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng còn thiếu quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phát hiện, xử lý vi phạm ở một số tổ chức cơ sở đảng chưa thường xuyên, kịp thời. Công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực tổ chức xây dựng Đảng chưa được quan tâm triển khai đồng bộ, quyết liệt.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và trách nhiệm của một số cấp ủy, người đứng đầu chưa đầy đủ, quyết liệt; chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; tổ chức thực hiện chưa đồng bộ; tư duy và năng lực quản trị trên nền tảng số chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; vai trò, trách nhiệm của một bộ phận đảng viên chưa được phát huy toàn diện.
II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
Hiện thực hoá mục tiêu, khát vọng xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện về mô hình phát triển, mô hình quản trị quốc gia, tổ chức bộ máy, phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức hoạt động của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên gắn với việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới nhằm xây dựng “Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh” là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Chuyển trọng tâm từ củng cố sang nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, quản trị và tổ chức thực hiện ở cơ sở; tiếp tục tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện
1.1. Hoàn thiện mô hình tổ chức của Đảng đồng bộ, tương ứng với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở phù hợp với đặc thù địa bàn, lĩnh vực và yêu cầu phát triển mới
Xây dựng tổ chức cơ sở đảng thật sự là các "tế bào", hạt nhân chính trị của Đảng; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức đảng tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, khu chung cư, doanh nghiệp và một số địa bàn, lĩnh vực đặc thù phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.
Điều chỉnh một số nội dung trong Nghị quyết số 21-NQ/TW phù hợp với mô hình mới sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc những nội dung đã được thể chế hoá, quy định trong các văn bản hiện hành, bao gồm việc đổi mới mô hình tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng ở cấp tỉnh và cấp huyện (trước đây); việc thành lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở đối với thôn, tổ dân phố có đông đảng viên.
Nghiên cứu cơ chế phân cấp, giao quyền cho các cấp ủy trực thuộc Trung ương, nhất là những nơi có quy mô tổ chức đảng, đảng viên lớn, có tính đặc thù, được chủ động quyết định hoặc thí điểm mô hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với đặc điểm địa bàn, lĩnh vực, loại hình hoạt động. Giao Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương phối hợp với cấp ủy trực thuộc Trung ương xây dựng mô hình tổ chức đảng đặc thù trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) phù hợp với đơn vị công tác.
1.2. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thực chất, hiệu quả
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng hiện đại, dân chủ, sát cơ sở; đẩy mạnh quản trị, điều hành, kiểm tra, giám sát, đánh giá trên nền tảng số, dữ liệu số đồng bộ, liên thông trong toàn hệ thống chính trị. Tăng cường số hoá, quản lý hồ sơ trên hệ thống liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hình thành kho dữ liệu lớn của quốc gia đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Từng bước hình thành mô hình "đảng viên số", "chi bộ số", "đảng bộ số". Nghiên cứu thí điểm xây dựng "Chi bộ tham mưu chiến lược kiểu mẫu" trong các cơ quan Trung ương gắn với nâng cao chất lượng công tác tham mưu, năng lực dự báo, tư duy chiến lược.
Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thực chất, tăng tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu và tính phòng ngừa; khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm; xây dựng môi trường và cơ chế bảo vệ để đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Mở rộng, đa dạng hình thức sinh hoạt đảng; kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến; nghiên cứu việc các đơn vị đặc thù và đảng viên thường xuyên di biến động được lựa chọn tổ chức đảng và hình thức sinh hoạt phù hợp, thuận lợi với điều kiện công tác và cư trú. Đẩy mạnh triển khai hiệu quả mô hình "chi bộ bốn tốt", "đảng bộ cơ sở bốn tốt"; thực hiện nền nếp việc công nhận, xét và tuyên dương bí thư cấp ủy xuất sắc ở cơ sở hằng năm, nhân rộng các cá nhân tiêu biểu, điển hình trong toàn Đảng.
1.3. Đẩy mạnh phát triển tổ chức đảng trong khu vực ngoài nhà nước và ở những lĩnh vực, địa bàn trọng điểm
Đẩy mạnh phát triển tổ chức đảng ngoài khu vực nhà nước theo hướng linh hoạt, hiện đại, phù hợp đặc thù từng loại hình doanh nghiệp; thành lập chi bộ tại những địa bàn có doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập nhưng số lượng đảng viên còn ít, phân tán, chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức đảng riêng trong khu vực ngoài nhà nước. Chuyển mạnh từ tư duy "lãnh đạo, quản lý" sang "định hướng, hỗ trợ, đồng hành", tăng cường đối thoại, tạo đồng thuận với chủ doanh nghiệp; không hành chính hoá, không cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp. Nghiên cứu mô hình tổ chức phù hợp đối với địa bàn, lĩnh vực chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức đảng theo quy định.
Nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ việc thành lập, hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động trong việc trực tiếp đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp thành lập và duy trì hoạt động của tổ chức đảng.
Tập trung khắc phục tình trạng chưa có tổ chức đảng ở các khu vực, lĩnh vực mới và địa bàn khó khăn; ưu tiên thôn, tổ dân phố, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, biên giới, hải đảo.
1.4. Tăng cường vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát
Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy cấp trên đối với tổ chức cơ sở đảng theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Nâng cao vai trò của cấp ủy viên phụ trách địa bàn; phát huy vai trò chi bộ là tuyến đầu trong giáo dục, rèn luyện, giám sát, cảnh báo và ngăn ngừa suy thoái, vi phạm của cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa, ngay từ cơ sở.
Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển, lấy kết quả thực chất và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng và hệ thống chính trị.
Nghiên cứu xây dựng quy định, chuẩn mực về sử dụng mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên; ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong phát hiện nguy cơ về an ninh chính trị nội bộ và thông tin giả, xấu độc. Xây dựng lực lượng đảng viên nòng cốt trên không gian mạng để lan toả thông tin tích cực, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục ngay từ khi hình thành chủ trương đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả cuối cùng; từng bước lượng hoá các biểu hiện, giám sát bằng hành vi và dữ liệu; kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra trực tiếp với giám sát dựa trên dữ liệu; chủ động cảnh báo, phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả kiểm tra, giám sát. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân thông qua các kênh tiếp nhận, xử lý thông tin, bảo đảm công khai, minh bạch, an toàn, bảo mật dữ liệu, có cơ chế phản hồi, theo dõi và đánh giá kết quả xử lý.
2. Về đội ngũ đảng viên
2.1. Đổi mới công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên
Chủ động tạo nguồn, tiếp tục thực hiện mục tiêu kết nạp đảng viên mới theo hướng linh hoạt, phù hợp đặc thù từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn; lấy chất lượng về chính trị, phẩm chất, năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Chủ động tạo nguồn, phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú theo quy trình bài bản, gắn với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, qua đó hình thành lực lượng kế cận chất lượng, tiêu biểu trong giai đoạn mới.
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng; xây dựng văn hóa Đảng thật sự tiên phong, trí tuệ, đổi mới, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Nghiên cứu cơ chế quần chúng ưu tú tham gia một số hoạt động sinh hoạt đảng định kỳ, chuyên đề phù hợp của tổ chức đảng nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy lý tưởng, khát vọng, xây dựng động cơ phấn đấu trong sáng để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Mở rộng, đa dạng hoá nguồn phát triển đảng viên theo hướng chú trọng các lĩnh vực, lực lượng, không gian phát triển mới và các địa bàn trọng yếu trong khu vực ngoài nhà nước, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; trí thức trẻ, lực lượng trực tiếp bám cơ sở, gần dân, có uy tín và khả năng vận động quần chúng. Tập trung vào đối tượng "Đội ngũ trí thức trẻ trong khu vực tư", học sinh, sinh viên có thành tích học tập, rèn luyện xuất sắc, đạt giải cao trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế, có thành tích nổi trội, xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khởi nghiệp, hoạt động xã hội, tình nguyện vì cộng đồng.
Quan tâm phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, địa bàn khó khăn gắn với nâng cao dân trí, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Rà soát, hoàn thiện quy định, quy trình phát triển đảng viên, ứng dụng nền tảng số trong quản lý, theo dõi, đánh giá, thẩm tra, xác minh. Tăng cường phân công cấp ủy viên, đảng viên đang công tác, cư trú trên địa bàn hoặc địa bàn lân cận tham gia hoạt động tại những nơi chưa có tổ chức đảng, khó khăn về nguồn phát triển đảng viên để phát hiện, bồi dưỡng, trực tiếp dẫn dắt quần chúng ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên mới, từng bước xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở.
2.2. Tăng cường công tác quản lý đảng viên trên nền tảng số
Đổi mới toàn diện công tác quản lý đảng viên, điều hành, giao việc, theo dõi, kiểm tra, giám sát công việc theo hướng quản trị trên nền tảng số liên thông, xuyên suốt, không gián đoạn. 100% đảng viên được phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn với nhiệm vụ chính trị, nhất là người đứng đầu theo nguyên tắc "sáu rõ, một xuyên suốt" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền và một nhiệm vụ - một đầu mối xuyên suốt).
Xây dựng và vận hành thống nhất Thẻ đảng viên điện tử, Hồ sơ đảng viên điện tử trong toàn Đảng. Từng bước xây dựng lộ trình thực hiện các thủ tục hành chính, nghiệp vụ công tác đảng viên trên môi trường số; không làm tăng thủ tục hành chính, chỉ yêu cầu bổ sung khi có vấn đề mới phát sinh.
2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; xây dựng "hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới", thực hành "4 kiên định" [1] giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và lời thề với Đảng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hội tụ đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực, trình độ, đoàn kết, kỷ cương, có tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp, giáo dục, rèn luyện, đánh giá, sàng lọc và quản lý đảng viên; hoàn thiện cơ chế đánh giá, sàng lọc, thử thách quần chúng ưu tú thông qua nhiệm vụ khó, môi trường thực tiễn và mức độ cống hiến; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí mẫu về người đảng viên trong giai đoạn mới, coi trọng bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, năng lực tham mưu, năng lực số, đạo đức công vụ, tinh thần đổi mới sáng tạo, khả năng xử lý vấn đề mới và kết quả thực chất trong thực thi nhiệm vụ.
Đổi mới căn bản công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên theo hướng thường xuyên, liên tục trên nền tảng số, gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể. Từng bước hình thành hồ sơ năng lực số của cán bộ, đảng viên làm căn cứ bố trí, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ.
Nghiên cứu cụ thể hoá các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" thành tiêu chí nhận diện, theo dõi, xử lý kịp thời. Tiếp tục thực hiện nghiêm việc rà soát, sàng lọc; kiên quyết, kịp thời đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Chuẩn hoá chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, bí thư chi bộ theo hướng thực chất, sát thực tiễn, tăng cường tập huấn theo tình huống; chú trọng phát triển năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quản trị, kỹ năng số và xử lý tình huống thực tiễn ở cơ sở.
Quan tâm phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy kế cận, nhất là cán bộ trẻ có năng lực, triển vọng; phát huy vai trò, uy tín, kinh nghiệm của đảng viên cao tuổi trong việc dẫn dắt quần chúng, tiếp tục là tấm gương, nguồn động viên, truyền cảm hứng cho thế hệ cán bộ, đảng viên trẻ. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đảng ở cơ sở, nhất là địa bàn khó khăn và khu vực ngoài nhà nước (chi tiết chỉ tiêu, lộ trình, kế hoạch triển khai cụ thể nêu tại Phụ lục 1, 2 kèm theo Kết luận này).
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu ban hành các văn bản cụ thể hoá Kết luận này; tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với hệ thống chính trị 3 cấp gắn với chuyển đổi số, vận hành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông trong toàn Đảng, đơn giản hoá thủ tục nghiệp vụ công tác đảng và quản lý đảng viên trên môi trường số; xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên hằng năm và theo nhiệm kỳ; tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị. Chủ trì, phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nghiên cứu cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ việc thành lập, hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
2. Giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền, giảng dạy lý luận chính trị phù hợp với từng đối tượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Nắm chắc tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội; chủ động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xuyên tạc, nhất là trên không gian mạng. Phối hợp phát hiện, biểu dương, nhân rộng các mô hình tiêu biểu, cá nhân xuất sắc trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
3. Giao Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nội dung về cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động đối với tổ chức đảng trong đơn vị kinh tế tư nhân có khó khăn về kinh phí hoạt động.
4. Giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kết luận này; chỉ đạo đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát theo hướng kết hợp trực tiếp với giám sát từ xa trên cơ sở dữ liệu.
5. Giao Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh công tác tạo nguồn, phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú cho Đảng gắn với đặc thù từng đối tượng; đẩy mạnh các phong trào, cuộc vận động tạo môi trường rèn luyện, thử thách, phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú ở các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm; phối hợp với cấp ủy các cấp phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ tín nhiệm của Nhân dân.
6. Giao các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương, nhất là người đứng đầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, hướng dẫn và xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận này phù hợp với điều kiện thực tiễn; xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương).
