Báo cáo 151/BC-BTP 2026 kết quả công tác pháp chế năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026
| Sao y; UBND tỉnh Hà Tĩnh; 19/03/2026 10:44:44 | ||
| BỘ TƯ PHÁP Số: 151/BC-BTP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2026 | |
BÁO CÁO
KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ NĂM 2025 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG,
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NĂM 2026
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác pháp chế trong phạm vi cả nước; trên cơ sở báo cáo kết quả công tác tư pháp năm 2025 của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp đánh giá kết quả công tác pháp chế năm 2025; xác định những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để từ đó xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2026 như sau:
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁP CHẾ NĂM 2025
1. Kết quả đạt được
1.1. Quản lý nhà nước về công tác pháp chế Ngay từ cuối năm 2024 và đầu năm 2025, các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đã ban hành Kế hoạch thực hiện công tác pháp chế để chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác pháp chế tại cơ quan, đơn vị mình. Trên cơ sở Kế hoạch này, các cơ quan, đơn vị trực thuộc tiếp tục ban hành Kế hoạch cụ thể triển khai công tác pháp chế tại cơ quan, đơn vị mình với nhiều hình thức và cách làm phong phú, đa dạng. Để triển khai Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, ngày 31/3/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2025/TT-BTP hướng dẫn vị trí việc làm về công tác pháp chế trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (Thông tư số 02/2025/TT-BTP) và Thông tư số 03/2025/TT-BTP quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch pháp chế viên (Thông tư số 03/2025/TT-BTP). Hai Thông tư này không chỉ tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc quản lý, sử dụng, bổ nhiệm người làm công tác pháp chế mà còn bảo đảm quyền lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho người làm công tác pháp chế yên
tâm công tác; từ đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác pháp chế đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước.
1 Ngay sau khi hoàn thiện khung pháp lý, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu triển khai và lưu ý các vấn đề khi triển khai thực hiện một số văn bản QPPL (trong đó có Thông tư số 02/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm về công tác pháp chế trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 03/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch pháp chế viên); Bộ Tư pháp đã tổ chức 02 Hội nghị “Triển khai Thông tư số 02/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm về công tác pháp chế trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 03/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch pháp chế viên” tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng tổ chức nhiều tọa đàm, hội nghị liên quan đến các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế như Hội nghị đối thoại và tập huấn toàn quốc với chủ đề “Vị trí, vai trò của pháp chế trước yêu cầu hình thành chế định luật sư công tại Việt Nam’’, Hội nghị giao ban công tác pháp chế bộ, ngành định kỳ 6 tháng và 01 năm; phối hợp tổ chức Hội nghị pháp chế dành cho doanh nghiệp nhà nước v..v..; tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng, như: lớp dành cho ngạch cho pháp chế viên; nghiệp vụ về xây dựng pháp luật, thẩm định văn bản QPPL, những điểm mới của Luật Ban hành văn bản QPPL 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành; các nghiệp vụ liên quan đến phổ biến, giáo dục pháp luật, rà soát văn bản QPPL, pháp điển, hợp nhất văn bản QPPL, tổ chức thi hành pháp luật, truyền thông chính sách v..v... 1 Công văn Số: 2322/BTP-KTVB&QLXLVPHC ngày 26/4/2025 V/v triển khai thực hiện một số văn bản quy phạm pháp luật về công tác tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; pháp chế.
Song song với các hoạt động tổ chức Hội nghị, hội thảo, toạ đàm, Bộ Tư
2 pháp thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ trong công tác pháp chế . Các văn bản hướng dẫn, hỗ trợ này đã giúp các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các nhiệm vụ công tác pháp chế trong phạm vị ngành, lĩnh vực phụ trách. Trong năm 2025, nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp công tác với các Bộ, ngành, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng, ban hành Chương trình giai đoạn, Kế hoạch phối hợp thực hiện công tác pháp chế năm 2025 và triển khai thi hành Chương trình, Kế hoạch 3 sau khi được ban hành Công tác kiểm tra pháp chế được tổ chức thường xuyên, định kỳ hằng năm. Năm 2025, thực hiện chủ trương sáp nhập các bộ, ngành, địa phương, tinh gọn bộ máy và chính quyền địa phương 2 cấp, do đó, việc kiểm tra công tác pháp chế tại một số địa phương của Bộ Tư pháp năm 2025 được thực hiện linh hoạt thông qua hình thức báo cáo (kết hợp với kiểm tra trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành về theo dõi thi hành pháp luật năm 2025) tại 3tỉnh : Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thành phố Hà Nội. Về đầu mối tham mưu giúp lãnh đạo Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác pháp chế: Từ 01/01/2026 nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác pháp chế được chuyển giao từ Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật (trước đây là Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính) cho Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện. 1.2.Về tổ chức và đội ngũ người làm công tác pháp chế Tính đến ngày 31/10/2025, cả nước có 1.453 tổ chức pháp chế với tổng số 5.084 người làm công tác pháp chế (1.878 người làm công tác pháp chế chuyên 2
Công văn số 3098/BTP-KTVB&QLXLVPHC ngày 02/6/2025 của Bộ Tư pháp gửi Bộ Y tế về việc hướng dẫn công tác pháp chế; Công văn số 413/KTVB&QLXLVPHC-PCTD ngày 04/6/2025 của Cục KTVB&QLXLVPHC gửi Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh về việc hướng dẫn công tác pháp chế. Tổng hợp các câu trả lời kiến nghị của bộ, ngành địa phương tại Hội nghị công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2025 và Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2026. 3 Chương trình số 2381/CTr-BGDĐT-BTP ngày 24/12/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp phối hợp thực hiện công tác pháp chế giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp giai đoạn 2026 – 2030.
4 trách, 3.206 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm) . Trong đó có 1.712/5.084 người là chuyên viên pháp chế và 258/5.084 Pháp chế viên (114 pháp chế viên, 109 pháp chế viên chính, 35 pháp chế viên cao cấp). Cụ thể như sau:
- Ở Trung ương, tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có 5.084 người làm công tác pháp chế, trong đó, 1.878 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 3.206 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm; có 301 chuyên viên pháp chế, 114 pháp chế viên, 109 pháp chế viên chính, 35 pháp chế viên cao cấp. Về tổ chức, cơ bản Vụ/Cục/Ban/Phòng Pháp chế tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm các tổ chức pháp chế đã được thành lập từ Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và các tổ chức pháp chế tại các bộ sáp nhập theo chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước) đã đi vào hoạt động thống nhất, ổn định; các Đề án vị trí việc làm, cơ cấu ngạch pháp chế viên đã được phê duyệt để làm căn cứ bổ nhiệm các ngạch pháp chế viên.
- Ở địa phương, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh có 2.000 người làm công tác pháp chế, trong đó, có 389 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 1.611 người làm công tác pháp chế kiêm nhiệm; có 1.411 chuyên viên pháp chế và 34 pháp chế viên, 13 pháp chế viên chính. Về tổ chức, do thực hiện chủ trương sáp nhập các sở, sáp nhập tỉnh, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp nên tiến độ xem xét để thực hiện công tác bố trí, sắp xếp, kiện toàn, xét chuyển ngạch cho công chức thực hiện công tác pháp chế sang ngạch pháp chế viên theo quy định của khoản 4 Điều 4 Nghị định số 56/2024/NĐ-CP; Thông tư số 02/2025/TT-BTP; Thông tư số 03/2025/TT-BTP tại các cơ quan, đơn vị còn chậm.
2. Kết quả thực hiện công tác pháp chế trong một số lĩnh vực cụ thể
2.1. Công tác xây dựng pháp luật
a) Kết quả xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được giao 4 Báo cáo số 835/BC-BTP ngày 29/12/2025 của Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2025, nhiệm kỳ 2021-2025; định hướng nhiệm kỳ 2026-2030 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2026
Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều văn bản chỉ đạo sát sao, quyết liệt liên quan tới công tác pháp chế như: Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật5; Nghị quyết 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật;... Đây là các văn bản đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để đổi mới, đột phá tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, tạo cơ chế đặc biệt về tài chính, nguồn nhân lực cho công tác xây dựng, thi hành pháp luật, đồng thời, xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn do bất cập của các VBQPPL. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã tham mưu ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều VBQPPL để tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn về pháp luật, từng bước đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Với sự quyết liệt, chủ động, nỗ lực của các bộ, ngành, năm 2025, công tác xây dựng pháp luật đã đạt được một số kết quả nổi bật như: (i) Việc triển khai chương trình lập pháp hằng năm được thực hiện bài bản. Nhiều nhiệm vụ lớn, phức tạp, ngoài kế hoạch ban đầu với yêu cầu thời gian hoàn thành rất gấp nhưng đã được Bộ Tư pháp, pháp chế bộ, ngành thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, chất lượng. Về số lượng văn bản cụ thể: Các Bộ, ngành đã tham mưu, xây dựng trình Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và cho ý kiến 99 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Các bộ, ngành đã soạn thảo, trình ban hành
5 hoặc ban hành theo thẩm quyền là 1.404 văn bản . Chính phủ cũng đã ban hành 10 nghị quyết để triển khai thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15; 5 Các bộ, ngành trình nhiều dự án luật, dự thảo nghị quyết như: Bộ Nội vụ (11 dự án), Bộ Tài chính (11 dự án), Bộ Tư pháp (08 dự án); bộ, ngành trình Chính phủ ban hành nhiều nghị định như: Bộ Tài chính (79 văn bản); Bộ Nội vụ (31 văn bản); Bộ Quốc phòng (30 văn bản).
(ii) Công tác truyền thông chính sách, lấy ý kiến dự thảo VBQPPL ngày càng thực chất, cầu thị; (iii) Việc ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học công nghệ trong công tác xây dựng pháp luật từng bước được đổi mới, tăng cường. Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ số trong
6 việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật” , trong đó đã hoàn thành xây dựng và vận hành chính thức Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về VBQPPL thể hiện sự cầu thị, chủ động lắng nghe ý kiến của người dân, doanh nghiệp để tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. (iv) Chất lượng thẩm định, góp ý chính sách, dự án, dự thảo VBQPPL được chú trọng nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ, nhiều trường hợp vượt tiến độ theo quy định. Theo đó, năm 2025, chỉ tính riêng các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên, Bộ Tư pháp đã thẩm định đối với 1.487 dự thảo. Các báo cáo thẩm định được cấp có thẩm quyền đánh giá cao, giúp các cơ quan chủ trì xây dựng hoàn thiện các dự thảo VBQPPL, đồng thời là “kênh” thông tin tin cậy để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tham khảo khi quyết định ban hành văn bản.
b) Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết Bộ Tư pháp thường xuyên đôn đốc, đề nghị các bộ, ngành chủ động rà soát, phân công và xác định rõ trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong soạn thảo, trình văn bản quy định chi tiết; chủ động xây dựng và tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được thông qua tại các kỳ họp của Quốc hội. Định kỳ theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, thực hiện nghiêm túc các giải pháp đã được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra; không xem xét đề nghị của các bộ về việc xin lùi tiến độ trình ban hành các văn bản quy định chi tiết. Hàng tháng, trên cơ sở tổng hợp số liệu của pháp chế các bộ, ngành, Bộ Tư pháp xây dựng Báo cáo về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết gửi Chính phủ. 6
Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 05/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ.
2.2. Công tác tổ chức thi hành pháp luật
a) Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật Trong năm 2025, bên cạnh nhiệm vụ thường xuyên rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, tổ chức pháp chế các bộ, ngành còn thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật; thực hiện nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản QPPL; rà soát văn bản theo quy định của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; rà soát, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung văn bản QPPL theo định hướng sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013; rà soát, xác định các nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới VBQPPL để kết thúc hoạt động của chính quyền địa phương cấp huyện và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp theo Kế hoạch số 40/KH-BCĐ ngày 19/4/2025 của Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; Thực hiện mục tiêu “Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật” được xác định tại Nghị quyết số 66- NQ/TW, Chương trình công tác năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, tổ chức pháp chế các Bộ, ngành đã tổ chức thực hiện rà soát VBQPPL nghiêm túc, khẩn trương, bám sát Kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương, Kế hoạch của Đảng ủy Chính phủ; huy động được sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, các hiệp hội, doanh nghiệp trên phạm vi cả nước. Quá trình xem xét, cho ý kiến về kết quả rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật được thực hiện khách quan, kỹ lưỡng, thận trọng, có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực với các cơ quan tổ chức thực thi, các chuyên gia, nhà khoa học và các chủ thể thực hiện pháp luật, cũng như các tổ chức có liên quan. Kết quả rà soát, cho ý kiến đối với kết quả rà soát, phản ánh, kiến nghị cho thấy, về cơ bản, các Bộ, cơ quan ở trung ương đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu một khối lượng lớn các kiến nghị, phản ánh; đã nhận diện, xác định được các khó khăn, vướng mắc do quy
định pháp luật cần phải xử lý ngay theo quy định của Nghị quyết số 206/2025/QH15.
b) Công tác pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
Năm 2025, pháp chế các bộ, ngành đã triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định số 143/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác, sử dụng Bộ Pháp điển”, cụ thể như:
- Thực hiện Quyết định số 373/QĐ-TTg ngày 19/02/2025 phê duyệt phương án thực hiện pháp điển bổ sung QPPL và đề mục vào Bộ pháp điển, pháp chế các bộ, ngành đã thực hiện cập nhật QPPL mới thuộc trách nhiệm của các bộ vào các Đề mục pháp điển.
- Pháp chế các bộ, ngành thực hiện cập nhật văn bản QPPL, văn bản hợp nhất thuộc trách nhiệm cập nhật của bộ mình trên CSDLQGPL bảo đảm đúng thời hạn, chính xác, đầy đủ. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, phối hợp chặt chẽ với pháp chế các bộ, ngành địa phương cập nhật văn bản còn thiếu trên CSDLQGPL và đề nghị cơ quan cập nhật văn bản hiệu đính văn bản khi phát hiện sai sót. Thường xuyên tổ chức các Hội nghị tập huấn về công tác pháp điển hệ thống QPPL, Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với pháp chế các bộ, ngành, cử báo cáo viên tham gia các hội nghị nêu trên.
- Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ biên tập, cập nhật, phê duyệt, kiểm tra văn bản trên CSDLQGPL; thường xuyên, chủ động trao đổi trực tiếp với đầu mối pháp chế các bộ, ngành, địa phương để hướng dẫn và xử lý các vấn đề vướng mắc.
c) Công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật Qua theo dõi của Bộ Tư pháp, từ 01/01/2025 đến 15/11/2025, có hơn 600 văn bản cần được hợp nhất theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL, Về cơ bản, công tác hợp nhất tại các Bộ, cơ quan dần đi vào nề nếp, bảo đảm việc hợp nhất được kịp thời, chất lượng theo quy định.
d) Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận, phân loại 2.101 văn bản QPPL (gồm 194 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ; 1.907 văn bản của HĐND và UBND cấp tỉnh). Trong đó, tiến hành kiểm tra văn bản do các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền cấp tỉnh ban hành theo 03 chuyên đề, gồm: (i) Văn bản QPPL về liên quan đến việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; (ii) Văn bản QPPL liên quan đến quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phục vụ mục tiêu phát triển nguồn nhân lực; (iii) Văn bản QPPL liên quan đến lĩnh vực khoa học và công nghệ. Qua đó gắn kết công tác kiểm tra văn bản của Chính phủ với công tác giám sát của Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật.
đ) Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Tổ chức pháp chế các bộ, ngành triển khai tích cực, chủ động các nhiệm vụ của cơ quan Hội đồng phối hợp PBGDPL trung ương. Trọng tâm là triển khai kế hoạch hoạt động năm 2025 của Hội đồng trung ương; kiện toàn các thành viên Hội đồng sau khi các bộ, ngành, cơ quan trung ương hoàn thành việc sắp xếp, hợp nhất; nghiên cứu, đề xuất, tham mưu việc thực hiện hợp nhất Hội đồng phối hợp PBGDPL bảo đảm phù hợp với chủ trương về tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giảm đầu mối, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng các cấp. Triển khai kịp thời việc truyền thông, phổ biến các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết được thông qua tại các kỳ họp Quốc hội, bảo đảm kịp thời ngay sau khi Quốc hội bế mạc kỳ họp. Đối với các bộ, ngành, địa phương. Các nội dung truyền thông được cập nhật, đăng tải trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan, các phương tiện thông tin 7 báo chí 7 Một số bộ có chuyên mục riêng về truyền thông chính sách (Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch); một số địa phương có chuyên mục "chính sách pháp luật”, “mỗi ngày một văn bản pháp luật”, “chính sách mới”... Các cơ quan phát thanh, truyền hình quốc gia (Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam) đã quan tâm, thường xuyên đưa tin, truyền thông về các chính sách, vấn đề, nội dung mà dư luận xã hội quan tâm liên quan đến thể chế, chính sách, có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn chủ đề phù hợp, đa chiều… Trong đó kênh VOV giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam có bản tin Chuyển động chính sách; Thông tấn xã Việt Nam có chuyên trang thông tin "Chính sách và cuộc sống"; Đài Truyền hình Việt Nam có một số chương trình đã lồng ghép nội dung truyền thông chính sách như kênh VTV1 có “Chính sách và cuộc sống”, Việt Nam hôm nay, Quốc hội và cử tri, Nhà nước và pháp luật, Tọa đàm chính sách pháp luật chuyên sâu, Chào buổi sáng; kênh VTV2 có chương trình “Góc nhìn luật pháp”, kênh VTV3 có một số gameshow Luật siêu dễ, Luật và đời… Ở địa phương, đã ban hành kế hoạch, công văn triển khai Đề án hoặc lồng ghép trong kế hoạch PBGDPL năm 2025; thực hiện truyền thông lấy ý kiến Nhân dân về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với nhiều hình thức: hội nghị, toạ đàm lấy ý kiến, qua Cổng Thông tin điện tử của tỉnh, thành phố, google Form…; sử
Về nguồn lực thực hiện PBGDPL, đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật được củng cố, kiện toàn, phát triển cả về số lượng và nâng cao chất lượng. Hoạt động quản lý, khai thác và sử dụng đội ngũ này được quan tâm và chú trọng hơn. Đội ngũ này đã trở thành lực lượng nòng cốt trong triển khai các hoạt động PBGDPL tại cơ quan, đơn vị và địa phương. Các bộ, ngành đã xây dựng Kế hoạch triển khai Đề án “Chuyển đổi số trong công tác PBGDPL giai đoạn 2025-2030” (được ban hành kèm theo Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ), tạo cơ sở cho việc đổi mới phương thức PBGDPL theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm cung cấp thông tin pháp luật, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thuận tiện, nhanh chóng, kịp thời các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
e) Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật
Công tác theo dõi việc thi hành pháp luật được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành theo Kế hoạch hằng năm của Thủ tướng Chính phủ21; thể chế về theo dõi việc thi hành pháp luật tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện; hoạt động kiểm tra và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác này ngày càng được tăng cường.
Căn cứ Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng
8 tâm, liên ngành năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan triển khai xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật của bộ, ngành. Theo đó, các lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm, liên ngành năm 2025, gồm: (i) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực thủy sản; (ii) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường; (iii) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp; (iv) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực phòng dụng các nền tảng xã hội như Zalo, Facebook để phổ biến pháp luật; tăng cường tuyên truyền về công tác tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp... 8 Ban hành kèm theo Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 15/01/2025.
cháy và chữa cháy; (v) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực an sinh xã hội.
Đối với công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, trong năm 2025, thể chế về công tác này đã tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện từ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý VPHC (Luật số 88/2025/QH15 ngày 25/6/2025) đến các văn bản quy định chi tiết, tổ chức thi hành. Bộ, ngành Tư pháp đã chủ trì tổ chức các đoàn kiểm tra chuyên đề công tác thi hành pháp luật về xử lý VPHC tại nhiều tỉnh, thành phố; thường xuyên thực hiện trao đổi, hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các bộ, ngành và địa phương, tổ chức các hội nghị phổ biến, quán triệt nội dung các VBQPPL mới ban hành để bảo đảm công tác xử lý VPHC được thực hiện kịp thời, thống nhất, có hiệu quả.
g) Công tác bồi thường nhà nước Công tác bồi thường nhà nước được thực hiện hiệu quả, thiết lập cơ chế pháp lý minh bạch, khả thi để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và quyền, lợi ích của Nhà nước; từng bước nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, hiệu lực, hiệu quả nền công vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong năm 2025, Bộ Tư pháp đã tham mưu, đề xuất đưa Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội.
h) Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Trong năm 2025, tổ chức pháp chế đã tập trung tham mưu, xây dựng Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 -2031; truyền thông, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh nhằm quán triệt chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân và thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và đội ngũ tư vấn viên pháp luật cấp tỉnh.
3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
3.1. Tồn tại, hạn chế Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong năm 2025, công tác pháp chế Bộ, ngành, địa phương vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:
a) Về công tác xây dựng pháp luật Thời gian vừa qua, các bộ, ngành phải triển khai đồng thời nhiều nhiệm vụ lập pháp trọng điểm, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền khi tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, năm 2025 – năm cuối của nhiệm kỳ nên số lượng văn bản QPPL cần ban hành cũng tăng cao và thời gian thực hiện rất ngắn. Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế về chất lượng của một số dự án, dự thảo VBQPPL, ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống pháp luật. Ngoài ra, tình trạng nợ ban hành văn bản quy định chi tiết vẫn chưa được khắc phục triệt để. Theo đó, vẫn còn một số lượng văn bản nợ quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã có hiệu lực chưa được ban hành. Các bộ, ngành chưa có giải pháp hiệu quả để khắc phục triệt để tình trạng này.
b) Về tổ chức thi hành pháp luật
- Công tác kiểm tra văn bản theo thẩm quyền tại một số cơ quan cấp bộ và cấp tỉnh chưa được thực hiện đầy đủ, kịp thời, thường xuyên. Việc xử lý văn bản sau khi có kết luận, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền trong một số trường hợp còn để kéo dài, chưa đúng thời hạn quy định.
- Một số hoạt động rà soát văn bản theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền được triển khai trong thời gian rất ngắn, tạo ra áp lực lớn về tiến độ và chất lượng đối với người làm công tác rà soát VBQPPL nói chung và tại Bộ Tư pháp.
- Công tác tổ chức thi hành pháp luật ở một số bộ, ngành, địa phương, đơn vị còn chưa kịp thời, hiệu quả.
- Công tác PBGDPL, truyền thông chính sách ở một số cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức, chưa linh hoạt theo sát các vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.
- Đội ngũ công chức làm công tác pháp chế ở địa phương đa phần là kiêm nhiệm, nhiều biến động; việc củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế còn gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Ở trung ương, người làm công tác pháp chế phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau với khối lượng công việc tăng đột biến. Tại một số bộ, ngành, một số người làm công tác pháp chế xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác khác. Trong khi đó, chế độ hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế theo quy định của Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, dù Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024 nhưng đến nay, nhiều bộ, ngành, địa phương chưa triển khai thực hiện.
3.2. Nguyên nhân
- Khối lượng công việc về xây dựng pháp luật mà các bộ, ngành phải đảm nhận là rất lớn, nhất là trong bối cảnh “vừa chạy vừa xếp hàng” để bảo đảm thể chế pháp luật cho sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
- Đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật còn mỏng, chịu tác động bởi việc sắp xếp tổ chức bộ máy; phần lớn văn bản xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, công chức làm công tác tham mưu, xây dựng pháp luật phải giải quyết khối lượng công việc gấp nhiều lần so với thời gian trước đây.
- Việc tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hợp nhất văn bản QPPL, pháp điển hệ thống QPPL, theo dõi thi hành pháp luật, cập nhật văn bản trên CSDLQGPL tại một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự được quan tâm chỉ đạo hiệu quả, kịp thời, sâu sát, đặc biệt trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang tập trung cho nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, sáp nhập tỉnh, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp.
- Đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: một số cấp ủy đảng, chính quyền và đặc biệt là người đứng đầu chưa nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc về tính chất, vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL, truyền thông chính sách; hiện nay với nhiệm vu xây dựng chính quyền địa phương 02 cấp nên khối lượng công việc chuyên môn về xây dựng pháp luật của các cơ quan chiếm nhiều thời gian, cần tập trung cho chất lượng và tiến độ văn bản nên công tác truyền
thông chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Kinh phí cho công tác PBGDPL, truyền thông chính sách còn rất hạn hẹp,…
- Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vẫn còn hạn chế, chưa thực sự hiệu quả để đáp ứng yêu cầu công tác. Hạ tầng kỹ thuật, phần mềm của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật do xây dựng đã lâu nên bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về kỹ thuật, công nghệ, chưa đáp ứng yêu cầu tiện ích, gây trở ngại cho việc quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu.
- Đối với công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, qua xem xét nội dung phản ánh cho thấy, nhiều phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL còn chung chung, không rõ nội dung; phản ánh không liên quan đến văn bản phản ánh; chủ thể phản ánh lựa chọn cơ quan tiếp nhận để gửi phản ánh chưa chính xác; phản ánh mang tính vụ việc cụ thể, không thuộc phạm vi tiếp nhận, xử lý của Hệ thống thông tin đã tạo ra những khó khăn cho công tác tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2026 Đứng trước những thay đổi mang tính thời đại, trên cơ sở bám sát và triển khai hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với tinh thần đoàn kết, dân chủ, đột phá, đổi mới, pháp chế Bộ, ngành nhận thức rõ vai trò, trọng trách nặng nề, phải thực sự trở thành “lực lượng nòng cốt”, “đi đầu trong tham mưu kiến tạo đồng bộ thể chế phát triển đất nước”, gương mẫu, đi đầu trong việc thúc đẩy lối sống thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; không ngừng đổi mới tư duy để gánh vác, hoàn thành tốt những nhiệm vụ, trọng trách của thực tiễn mới với những yêu cầu “chưa có tiền lệ”. Theo đó, pháp chế Bộ, ngành xác định các nhiệm vụ trọng tâm công tác pháp chế năm 2026 như sau:
1. Về công tác pháp chế
- Tiếp tục tổ chức triển khai hiệu quả Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, Thông tư số 02/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vị trí việc làm về công tác pháp chế trong cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 03/2025/TT-BTP ngày 31/3/2025 của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch pháp chế viên.
- Tập trung nghiên cứu xây dựng Đề án “Nâng cao năng lực tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ” để trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2026 theo phân công nhiệm vụ tại Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ (tại thứ tự thứ 6, mục V, Danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết).
- Thực hiện hiệu quả, thực chất Kế hoạch phối hợp công tác giữa Bộ Tư pháp và một số Bộ, ngành trong năm 2026; đánh giá, tổng kết Kế hoạch triển khai để phát huy cơ chế phối hợp.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tâm huyết, bản lĩnh, am hiểu thực tiễn, có tư duy cải cách, đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; tiếp tục thực hiện chuyển ngạch cho công chức pháp chế có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, Thông tư số 02/2025/TT-BTP, Thông tư số 03/2025/TT-BTP.
- Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Tư pháp trong việc tăng cường năng lực cho người làm công tác pháp chế bộ, ngành và tham gia hoàn thiện lớp bồi dưỡng dành cho ngạch pháp chế viên.
2. Về công tác xây dựng pháp luật Năm 2026, rất nhiều nhiệm vụ về xây dựng pháp luật được đặt ra đối với các Bộ, ngành. Vì vậy, trong thời gian tới, các Bộ, ngành cần gấp rút, nghiêm túc thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tổ chức quán triệt, thể chế hóa kịp thời, chính xác, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các văn bản chỉ đạo của Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển KTXH nhiệm kỳ 2026-2030 và năm 2026, trọng tâm là tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, huy động mọi nguồn lực tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm thể chế phải đi trước, mở đường cho đột phá phát triển.
- Triển khai hiệu quả Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, làm tiền đề xây dựng Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
- Xây dựng, triển khai thực hiện 02 đề án: (i) Đề án thực hiện soạn thảo VBQPPL tập trung, chuyên nghiệp và (ii) Đề án “Hoàn thiện tiêu chí và các giải p h á p n â n g c a o c h ấ t l ư ợ n g đ ộ i n g ũ n g ư ờ i l à m c ô n g t á c x â y d ự n g t h ể c h ế , p h á p l u ậ t ” .
- Chủ động xây dựng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, UBTVQH theo Chương trình lập pháp năm 2026 và Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, nhất là các dự án luật có vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp; chú trọng áp dụng cơ chế theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
- Nhanh chóng xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành đối với các văn bản quy định chi tiết nợ ban hành thuộc trách nhiệm soạn thảo của các bộ, khắc phục tình trạng xin lùi thời hạn trình, ban hành văn bản và nợ ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc báo cáo tình hình thực hiện Chương trình lập pháp và ban hành văn bản quy định chi tiết.
- Tham mưu tổ chức thực hiện nghiêm Luật Ban hành VBQPPL và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; nâng cao hơn nữa chất lượng, bảo đảm tiến độ góp ý, thẩm định hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo VBQPPL; kiểm soát chặt chẽ quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL; theo dõi sát kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tăng cường kỷ luật trong công tác xây dựng VBQPPL theo hướng phân công rõ trách nhiệm, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong nghiên cứu xây dựng,
đề xuất chính sách và soạn thảo, trình VBQPPL; chú trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết.
3. Về tổ chức thi hành pháp luật
3.1. Công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL
- Chú trọng thực hiện hoạt động kiểm tra, rà soát, xử lý VBQPPL kịp thời, đúng pháp luật, phù hợp với bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xây dựng và thi hành pháp luật. Theo dõi, kiểm soát chặt chẽ các văn bản trái pháp luật được phát hiện, kết luận để có biện pháp đôn đốc, phối hợp xử lý triệt để, đúng quy định, nhất là đối với văn bản có quy định trái pháp luật, gây trở ngại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, môi trường sản xuất, kinh doanh.
- Chủ động, kịp thời phát hiện, nghiên cứu, đề xuất xử lý, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, quy định của pháp luật, tháo gỡ nhanh nhất các "điểm nghẽn", "nút thắt" về thể chế đang cản trở tiến trình phát triển bứt phá của đất nước.
- Vận hành hiệu quả Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về VBQPPL để đảm bảo nguồn dữ liệu thường xuyên, quan trọng phục vụ hoạt động rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống tại các bộ, ngành, địa phương. Nghiên cứu, xây dựng, triển khai Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát VBQPPL theo Kế hoạch.
- Tổ chức pháp chế tham mưu cho Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ chú trọng thực hiện kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, theo kế hoạch hoặc khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; đẩy nhanh tiến độ xử lý văn bản trái pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương sau khi có kết luận kiểm tra.
3.2. Công tác hợp nhất văn bản QPPL; pháp điển hệ thống QPPL; Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
- Triển khai Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL sau khi được Quốc hội ký ban hành để bảo đảm phù hợp với chủ trương, chính sách, bối cảnh phát triển mới; tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, chất lượng, hiệu quả công tác, hợp nhất VBQPPL.
- Thực hiện nghiêm túc, đúng quy định về các nhiệm vụ: (i) Hoàn thành việc thực hiện pháp điển các đề mục của Bộ pháp điển; cập nhật các QPPL mới ban hành vào Bộ pháp điển bảo đảm chất lượng, kịp thời; (ii) Thực hiện hiệu quả Quyết định số 143/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác, sử dụng Bộ pháp điển”.
- Rà soát, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác văn bản QPPL thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan, địa phương mình trên CSDLQGPL theo quy định tại Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu để có giải pháp nâng cao chất lượng dữ liệu thông tin trên CSDLQGPL; nâng cấp phần mềm, hạ tầng công nghệ đối với CSDLQGPL phù hợp với chủ trương về ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật.
3.3. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Triển khai tích cực, chủ động thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư, Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW, Luật PBGDPL, các văn bản, đề án về PBGDPL như: “Chuyển đổi số trong công tác PBGDPL giai đoạn 2025-2030”, “Thí điểm đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL giai đoạn 2022-2026”, “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng VBQPPL giai đoạn 2022-2027”, “Nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật thực hiện PBGDPL tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2024-2030”.
- Tham mưu thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của Cơ quan Thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương.
- Đổi mới, đa dạng nội dung, hình thức PBGDPL phù hợp với nhu cầu xã hội và từng nhóm đối tượng, địa bàn, lĩnh vực, chú trọng đối tượng đặc thù.
- Tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong phạm vi cả nước; nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong nhà trường.
- Đẩy mạnh truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng VBQPPL để tạo đồng thuận xã hội; tập trung phổ biến các văn bản mới của Đảng, Nhà nước, bám sát các vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội, các vấn đề nổi cộm.
3.4. Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật
- Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị định số 80/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về tổ chức thi hành văn bản QPPL, Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2026 của bộ, ngành và các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ.
- Phối hợp với Bộ Tư pháp chuẩn bị kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành tại một số địa phương theo
Kế hoạch.
- Phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng và triển khai Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 – 2031” sau khi Đề án được thông qua.
3.5. Quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
- Triển khai hiệu quả Luật Xử lý vi phạm hành chính và hệ thống các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC; tiếp tục hoàn thiện hệ thống VBQPPL về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh, khả thi, hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
- Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính làm công tác xử lý vi phạm hành chính;
- Kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho các bộ, ngành, địa phương trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, hệ thống chính quyền địa phương 02 cấp đi vào hoạt động.
3.6. Công tác bồi thường nhà nước
- Phối hợp với Bộ Tư pháp nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trọng tâm là xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành. - Tăng cường công tác phối hợp nhanh chóng, tích cực, hiệu quả giữa các Bộ, ngành trong việc giải quyết, xử lý các kiến nghị của cá nhân, tổ chức về những vấn đề phát sinh trong thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước liên quan đến lĩnh vực quản lý của nhiều Bộ, ngành nhằm kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh cho cá nhân, tổ chức.
3.7. Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
- Tập trung hoàn thiện thể chế để cụ thể hoá các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW; tham mưu xây dựng Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026-2031; mở rộng phạm vi, đối tượng thụ hưởng chính sách theo hướng bổ sung hộ kinh doanh, hợp tác xã.
- Đổi mới, đa dạng hoá và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và đội ngũ tư vấn viên pháp luật cấp tỉnh.
3.8. Về hệ thống phản ánh tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của người dân Các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nhiệm vụ đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số
244/QĐ-TTg ngày 05/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật” và Công điện số 89/CĐ-TTg ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ triển khai Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL; trong đó, yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quan tâm thực hiện ngay các công việc sau:
- Liên kết, tích hợp Hệ thống thông tin với Cổng thông tin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Tổ chức xử lý ngay các phản ánh, kiến nghị đã tiếp nhận, quá thời hạn; xử lý kịp thời, đúng hạn phản ánh, kiến nghị được gửi đến theo phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước được giao.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của Hệ thống thông tin tới các đơn vị, cán bộ, công chức trong cơ quan và tới người dân, doanh nghiệp để việc gửi, tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị theo đúng quy định, đúng phạm vi, yêu cầu của Đề án.
III. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Để tiếp tục thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ công tác năm 2026, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp mang tính chất thường xuyên, công tác pháp chế bộ, ngành cần xác định một số giải pháp chủ yếu như sau:
1. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ pháp chế viên, cán bộ, công chức, viên chức pháp chế về vị trí , vai trò và trách nhiệm của mình trước yêu cầu, đòi hỏi phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Thủ trưởng pháp chế tiếp tục đổi mới, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, thực hiện nghiêm các chương trình, kế hoạch đề ra.
2. Chủ động phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp chế viên và pháp chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học pháp lý; có cơ chế thu hút nhân lực
có kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao về làm việc tại các tổ chức pháp chế.
3. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong các hoạt động công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; kiểm tra, rà soát VBQPPL để kịp thời phát hiện, xử lý mâu thuẫn, chồng chéo trong dự thảo văn bản và hệ thống pháp luật.
4. Tăng cường công tác phối hợp với Bộ Tư pháp và giữa tổ chức pháp chế các bộ, ngành với nhau; tăng cường công tác kiểm tra; đồng thời, kịp thời động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc, đạt kết quả cao trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; kịp thời báo cáo, tham mưu các giải pháp đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để xin ý kiến chỉ đạo, tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ pháp chế của Bộ, ngành mình. Trên đây là Báo cáo của Bộ Tư pháp tổng kết công tác pháp chế năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2026. Bộ Tư pháp mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp nhà nước để công tác pháp chế tiếp tục phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực cho sự phát triển KTXH của đất nước và của từng địa phương./.
| Nơi nhận: - Như trên; - Bộ trưởng (để báo cáo); - Thứ trưởng Phan Chí Hiếu (để báo cáo); - Tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (để thực hiện); - Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (để thực hiện); - Các đơn vị thuộc Bộ (để thực hiện); - Lưu: VT, Vụ CTXDVBQPPL-PC&CS (Hương B) | TL. BỘ TRƯỞNG VỤ TRƯỞNG VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Nguyễn Quốc Hoàn |
