VBPLTin tứcÁn lệBản ánHỏi đáp AI
← Danh sách bản án
Tranh chấp về thừa kế tài sản
Dân sựPhúc thẩmCông bố
⚖️Nội dung bản án

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét:

[1] Tại phiên tòa, ông Phạm Anh V và bà Nguyen J đại điện theo ủy quyền của ông Nguyen P rút yêu cầu kháng cáo về việc buộc ông T phải trả cho ông N Pierre 1/2 giá trị tiền thu lợi từ việc kinh doanh nhà trọ của hai căn nhà 710/27 và 7 cụ thể số tiền là 669.200.000 đồng và ông Lê Vinh Thái B đại điện theo ủy quyền của ông T rút yêu cầu kháng cáo đòi ông Nguyen P phải thanh toán cho ông Thanh K2 mất thu nhập từ việc cho 3 hộ thuê là ông Vũ Mạnh T9, bà Trần Thị L1 và bà Nguyễn Thị H2 tại căn nhà 710/27 và 710/27A với số tiền 314.233.300 đồng, do đó căn cứ theo điểm c, khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc ông T phải trả cho ông N Pierre 1/2 giá trị tiền thu lợi từ việc kinh doanh nhà trọ của hai căn nhà 710/27 và 7 cụ thể số tiền là 669.200.000 đồng và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc đòi ông Nguyen P phải thanh toán cho ông Thanh K2 mất thu nhập từ việc cho 3 hộ thuê là ông Vũ Mạnh T9, bà Trần Thị L1 và bà Nguyễn Thị H2 tại căn nhà 710/27 và 710/27A với số tiền 314.233.300 đồng.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Phước T đòi xem xét phần công sức đóng góp, công gìn giữ của ông T bằng hình thức giao cho ông T được toàn quyền sở hữu riêng phần căn nhà cấp 4 tại số G, diện tích khoảng 134,0m2 (trong đó: phần căn nhà thờ tự có diện tích là 119,38m2 và phần đường đi vào căn nhà này khoảng 15,0m2) để duy trì việc thờ tự theo di nguyện của bà T8 thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn có trình bày rằng, ông T là người trực tiếp chăm sóc bà T8, làm kinh tế chung và có xây dựng mới thêm nhà 3 tầng tại căn nhà số G, nhưng không cung cấp được các chứng cứ chứng minh việc bị đơn có tham gia đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa trong khối di sản của bà T8. Sau khi bà T8 chết, ông T là người quản lý, cho thuê và thu tiền cho thuê đối với di sản là nhà đất số G và 710/27 và thừa nhận sử dụng khoản tiền này để chi trả cho việc quản lý, bảo quản, gìn giữ di sản cho nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T là có cơ sở. Ông Nguyễn Phước T kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T. Bà T8 chết có Di chúc để lại nhà, đất số 710/27 và 7 cho ông Nguyen P và ông Nguyễn Phước T nhưng không có nội dung thể hiện tỷ lệ di sản mà người nhận thừa kế được hưởng nên theo khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 8 quy định: “Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, do đó, ông Nguyen P và ông Nguyễn Phước T được quyền hưởng di sản thừa kế ngang nhau, mỗi người được hưởng 1/2 di sản đối với nhà, đất tại địa chỉ số G và số G. Trong đơn kháng cáo của ông Nguyen P yêu cầu tính giá trị di sản thừa kế theo giá trị tại thời điểm thi hành án, đồng thời trong đơn kháng cáo của ông Nguyễn Phước T cũng đề nghị cấp phúc thẩm xem xét việc buộc ông thanh toán cho ông Nguyen P số tiền 44.510.048.200đ để ông T được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản do bà Nguyễn Thị T8 để lại là nhà đất số 710/27 và 710/27A là vượt quá khả năng tài chính của ông T. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cho nguyên đơn và đại diện cho bị đơn tự nguyện thỏa thuận chia giá trị căn nhà số G và số 710/27A theo giá trị tại thời điểm thi hành án, cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này và cho phát mãi 02 căn nhà đất số G và 710/27A để chia cho ông Nguyen P và ông Nguyễn Phước T mỗi người 1/2 giá trị tại thời điểm thi hành án.

[3] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Quyết định

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc ông T phải trả cho ông N Pierre 1/2 giá trị tiền thu lợi từ việc kinh doanh nhà trọ của hai căn nhà 710/27 và 710/27A cụ thể số tiền là 669.200.000 đồng. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc đòi ông Nguyen P phải thanh toán cho ông Thanh K2 mất thu nhập từ việc cho 3 hộ thuê là ông Vũ Mạnh T9, bà Trần Thị L1 và bà Nguyễn Thị H2 tại căn nhà 710/27 và 710/27A với số tiền 314.233.300 đồng. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và một phần kháng cáo của bị đơn; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 998/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. -

Căn cứ vào Điều 35; Điều 37, Điều 39, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 277, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; 9 - Căn cứ Điều 194, Điều 238, Điều 422, Điều 261, Điều 611, Điều 614, Điều 617, Điều 618, Điều 626, Điều 643, Điều 644, Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015; - Căn cứ Luật N1 cao tuổi; - Luật Thi hành án dân sự; - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyen P về việc: 1.1. Tuyên bố về phần nội dung:“Những người thừa hưởng di sản thừa kế của tôi nêu trên không được bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp di sản thừa kế do tôi để lại là căn nhà và quyền sử dụng đất nêu trên” tại Di chúc có số công chứng là 00026119, quyển số 08 TP/CC-SCC/HĐGD do bà Nguyễn Thị T8 lập vào ngày 19/8/2019 tại Văn phòng C là không hợp pháp và không phát sinh hiệu lực pháp luật đối với phần này. 1.2. Ông Nguyen P và ông Nguyễn Phước T được quyền hưởng thừa kế 1/2 tổng giá trị nhà đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số G và số G đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giá tại thời điểm thi hành án. 1.3. Cho phát mãi nhà đất số G và số 710/27A đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo hiện trạng, vị trí, diện tích thể hiện tại Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 19/01/2024 và Bản vẽ hiện trạng vị trí, áp ranh ngày 19/01/2024 do Trung tâm đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập để thi hành án theo quy định. 1.4. Buộc những người tham gia tố tụng trong vụ án đang sinh sống trong căn nhà đất số 710/27 và số 710/27A có nghĩa vụ liên đới giao trả toàn bộ nhà đất này để thực hiện phát mãi theo quy định của pháp luật. Cụ thể gồm: Ông Nguyễn Phước T, bà Thái Thị Phương L, bà Nguyễn Thái Phương D, ông Phan Văn T1, bà Trần Thị L1, ông Nguyễn Anh T2, bà Nguyễn Thị Kim K, ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn Anh K1, ông Bùi Trung T3, ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lê Thị H1, bà Lê Thị Út B1, ông Phan Trường S1, ông Nguyễn Ngọc T5, ông Phan Thanh T6, bà Lý Ngọc T7, bà Nguyễn Ngọc Gia L2.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy

📄 Toàn văn bản án
100%
Đang tải PDF...