[1] Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, yêu cầu nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn ông Trần Văn Bé M có nơi cư trú trong phạm vi địa hạt giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
1. Căn cứ điều 35, điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long. Nguyên đơn bà U có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn Bé M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 227, khoản 1 3 điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Bà U và ông M xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long). Nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Theo lời khai của bà U trình bày, sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng tháng 11/2019 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, từ khi sống ly thân bà và ông M không còn liên lạc với nhau, hiện nay bà U về quê nhà tại thôn N, xã Ứ, Hà Nội để sinh sống cùng hai người con chung, ông M hiện tại đang sinh sống tại ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà U và ông M để hòa giải tạo điều kiện đoàn tụ vợ chồng, nhưng ông Bé M vắng mặt không có lý do, từ đó cho thấy ông M đã bỏ mặt cuộc hôn nhân giữa ông và bà U, bà U xác định không còn tình cảm yêu thương, không thể hàn gắn cùng ông M xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông Bé M đã trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị U, cho bà U được ly hôn với ông Trần Văn Bé M.
[3] Về yêu cầu nuôi con chung: Bà U và ông M có 02 người con chung tên Trần Văn Tấn K, sinh năm 2009 và Trần Thị Bảo N, sinh năm 2012, hiện nay hai con chung đang sống cùng bà U sau khi ly hôn bà U yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung, đồng thời Trần Văn Tấn K và Trần Thị Bảo N có nguyện vọng được sống cùng bà U, nên cần giao 02 con chung cho bà U tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, ông Trần Văn Bé M không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà U không có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị U phải chịu bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xét ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. 4 Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35, khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147, điều 227, điều 228, điều 238, điều 271, điều 273, điều 278, điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Điều 51, điều 53, điều 56, điều 57 và 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị U.
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị U được ly hôn với ông Trần Văn Bé M.
2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trần Văn Tấn K, sinh ngày 21/02/2009 và Trần Thị Bảo N, sinh ngày 29/02/2012 cho bà Nguyễn Thị U tiếp tục nuôi dưỡng, ông Trần Văn Bé M không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của bên không trực tiếp nuôi con. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nguyên đơn bà Nguyễn Thị U phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà U đã nộp theo biên lai thu số 0001596, ngày 21/01/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc 5 không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.