VBPLTin tứcÁn lệBản ánHỏi đáp AI
← Danh sách bản án
Tranh chấp quyền sử dụng đất
Dân sựPhúc thẩmCông bố
⚖️Nhận định của Tòa án

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án (ông Nguyễn Mạnh T3, ông Nguyễn Danh Đ) có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Xét thấy đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp, trong thời hạn, theo quy định tại các Điều 271, 272, 7 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định chính xác quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; đã xác định đúng và đủ các đương sự trong vụ án.

[3] Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã triệu tập hợp lệ các đương sự.

Tuy nhiên, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, hoặc đã có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên toà.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quan điểm của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt họ.

[4] Xét kháng cáo của các đương sự: [4.1] Căn cứ các tài liệu đã được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, thể hiện: Theo bản đồ địa chính từ năm 1967 và sổ mục kê năm 1978 thửa đất là số 261, tờ bản đồ số 01, có diện tích 384m2 mang tên ông Nguyễn Văn T (tức Nguyễn Danh T2). Theo bản đồ địa chính từ năm 1986 và sổ mục kê năm 1986 thửa đất là số 300, tờ bản đồ số 01, có diện tích 384m2 mang tên ông Nguyễn Văn T, phần ghi chú có ghi bổ sung: Nhà thờ họ. Theo bản đồ địa chính từ năm 1998 và sổ mục kê năm 1998 thửa đất là số 551, tờ bản đồ số 15, có diện tích 292m2 mang tên chủ sử dụng: Nhà thờ họ. Theo bản đồ Vlap năm 2014 đã được phê duyệt là thửa đất số 225, tờ bản đồ số 15, có diện tích 298,8m2 mang tên chủ sử dụng: Nhà thờ họ. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất mang tên ông Nguyễn Văn T số 1141 GCN/RĐ do UBND huyện Đ thừa ủy quyền của UBND thành phố H cấp cho ông T ngày 29/12/1987. Địa phương xác định ông Nguyễn Văn T có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông Nguyễn Danh T2 (bị đơn) là một người. Hiện nay, thửa đất số 225, tờ bản đồ số 15, diện tích 298,8m2 tại cụm B, thôn V, xã T do gia đình ông Nguyễn Danh T2 đang quản lý, sử dụng. [4.2] Với những chứng cứ nêu trên, có đủ căn cứ xác định: Thửa đất nêu trên là đất thờ tự, trên đất có nhà thờ tổ chi họ Nguyễn D, có nguồn gốc từ lâu đời; đến đời cụ Nguyễn Danh T6 là người trực tiếp quản lý, hương khói, nhang đèn thờ phụng tổ tiên. Cụ T6 (ông nội của bị đơn) tuy không phải là trưởng họ, nhưng vì trưởng họ khi đó không đủ sức gánh vác việc họ nên cụ T6 đứng ra nhận thờ cúng tổ đường và cùng gia đình sinh sống trên đất. Các thành viên của 03 chi trong họ mỗi dịp giỗ, Tết đều tập trung về nhà thờ họ để thành tâm lễ bái 8 đến nay đã được ba đời.

Do đó, quan điểm của bị đơn cho rằng đất là của cụ T6 không phải của dòng họ là không có căn cứ chấp nhận. [4.3] Do ông Nguyễn Danh T2 và gia đình đã trực tiếp sinh sống trên đất, có công sức trông nom, duy trì, bảo quản, tôn tạo, sửa chữa qua nhiều đời với thời gian rất dài; mặt khác nay ông Nguyễn Danh T2 không có nơi ở nào khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn cũng mong muốn hòa giải để chi họ có nơi thờ cúng và gia đình ông Nguyễn Danh T2 vẫn có nơi ăn chốn ở ổn định; nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án về phía chi họ Nguyễn D tại phiên tòa sơ thẩm vẫn có quan điểm để cho gia đình ông Nguyễn Danh T2 sinh sống trên đất và tiếp tục quản lý Nhà thờ họ.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tôn trọng nguyện vọng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn T số 1141 GCN/RĐ do UBND huyện Đ thừa ủy quyền của UBND thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 29/12/1987; buộc ông Nguyễn Danh T2 phải trả lại cho chi họ Nguyễn D ½ diện tích đất = 123,6m2 trên đất có nhà thờ; đồng thời trích trả công sức cho ông Nguyễn Danh T2 ½ diện tích đất = 123,6m2 đất, trên đất có nhà ngang, vệ sinh, bếp của gia đình ông, tạo lối đi riêng vào nhà thờ là hợp lý và hợp tình, phù hợp với thực tế, vừa đảm bảo việc thờ cúng theo nguyện vọng dòng họ, vừa đảm bảo cho gia đình ông T2 có nơi ăn chốn ở ổn định, tiếp tục quản lý, đèn nhang thờ cúng như từ trước đến nay. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự cũng không xuất trình được thêm chứng cứ, tài liệu nào mới để chứng minh cho quan điểm của mình. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên đã tích cực hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

[5] Với những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự trong vụ án. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho các đương sự.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Quyết định

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án (ông Nguyễn Mạnh T3, ông Nguyễn Danh Đ). 9

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2024/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

3. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn T (nguyên đơn), ông Nguyễn Danh T2, ông Nguyễn Mạnh T3, ông Nguyễn Danh Đ.

4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

📄 Toàn văn bản án
100%
Đang tải PDF...