Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: 9
[1] Về tố tụng: [1.1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng với các yêu cầu của bị đơn thì quan hệ pháp luật dân sự được xác định trong vụ án là: “Tranh chấp quyền thừa kế, yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26 và các Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý vụ án ngày 10/10/2022 theo đơn khởi kiện (ban đầu) ngày 17/3/2022 của bà Nguyễn Thị L; chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thông báo thụ lý số 58 ngày 22/6/2023. Ngày 30/6/2023 bà L có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu xác định quyền thừa kế và chia di sản thừa kế theo pháp luật, như vậy đủ căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện chia thừa kể của nguyên đơn trong thời, hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 và hướng dẫn áp dụng pháp luật về áp dụng thời hiệu khởi kiện tại văn bản số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao. [1.3] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được nộp trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp nên đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [1.4] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện việc triệu tập hợp lệ đối với các đương sự tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định chung.
[2] Xét kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của bị đơn là ông Nguyễn Duy L1, Hội đồng xét xử thấy rằng: [2.1] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên Hủy “Kết quả đo đạc đất thổ cư” ngày 09/6/2000 của Đoàn đo đạc do xác định sai chủ sử dụng đất, Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Duy L1 đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 05 có diện tích 121m2 có địa chỉ tại thôn H, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội. Chia thừa kế thửa đất số 86 cho các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1952; ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1955; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1964; ông Nguyễn Duy P1, sinh năm 1967, theo quy định pháp luật; giao toàn bộ thửa đất cho bà, bà sẽ có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho các đồng thừa kế. [2.2] Về yêu cầu hủy kết quả đo đạc đất thổ cư và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn: 10 [2.2.1] Căn cứ lời khai của các bên đương sự, kết quả xác minh tại ủy ban nhân dân xã D, quan điểm của UBND huyện T và các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ xác định: - Nguồn gốc thửa đất số 86, tờ bản đồ số 05/diện tích 121m2 tại thôn H, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội là của cụ Nguyễn Duy Đ1. Ngày 08/9/2001 ông Nguyễn Duy L1 (con trai cụ Đ1) đã đứng tên kê khai đăng kí quyền sử dụng đất và được UBND xã D xác nhận ngày 24/10/2001. - Ngày 02/10/2001 hộ ông Nguyễn Duy L1 được ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T A 029114, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O1141.QSDĐ/826.QĐ-UB-Hđối với thửa đất số 86. - Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 86, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp cho Tòa án, chỉ có 02 văn bản là “Kết quả đo đạc đất thổ cư đề ngày 09/6/2000” và “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đề ngày 08/9/2001”, ngoài ra không còn tài liệu nào chứng minh cụ Nguyễn Duy Đ1 tặng cho thửa đất 86 cho ông Nguyễn Duy L1. -
Căn cứ vào kết quả cung cấp của Công an huyện T: Tại thời điểm năm 1990 (thời điểm được cấp đất giãn dân) hộ ông Nguyễn Duy Đ1 gồm những nhân khẩu: Cụ Nguyễn Duy Đ1, sinh năm 1925 - Chủ hộ (chết 27/3/2006); ông Nguyễn Duy P1, sinh năm 1967 là con và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 là con nên thửa đất số 86, diện tích 121m2 được xác định là cấp cho hộ gia đình. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Duy P1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L3 khẳng định việc ông L1 đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các ông bà không biết gì. Bị đơn ông Nguyễn Duy L1 và người đại diện hợp pháp cũng không có chứng cứ chứng minh việc đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sự đồng thuận của cụ Đ1 và các đồng thừa kế. [2.2.2]
Do đó, Tòa án sơ thẩm xác định việc ông Nguyễn Duy L1 tự đi kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 86 mà không được sự đồng ý của cụ Đ1 và các đồng thừa kế; Hủy kết quả đo đạc đất thổ cư ngày 09/06/2000 của Đ2 đo đạc và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 029114, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01141. QSDĐ/826.QĐ-UB-H xác định hộ ông Nguyễn Duy L1 là có cơ sở pháp luật. [2.3] Xét yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị L đối với phần di sản của cụ Đ1 trong khối tài sản trên, thấy: [2.3.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận cụ Nguyễn Duy Đ1 trước khi chết không để lại di chúc phân chia thửa đất trên. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P1 đề nghị Tòa án chia làm 02 phần vì ông và ông 11 L1 là con trai nên đã được cụ Đ1 chia cho mỗi người một thửa riêng, sau khi chia trả bà L một nửa, phần thừa kế của cụ Đ1 được chia đều cho các con thì ông xin nhận. Như vậy, xác định thửa đất số 86 tờ bản đồ số 05, diện tích 121m2 và tài sản trên đất tại thôn H, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội là tài sản chung của cụ Đ1 và bà L. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu chia tài sản chung và có đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. [2.3.2] Cụ Nguyễn Duy Đ1, sinh năm 1925 (chết ngày 27/3/2006) yà cụ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1924 (chết ngày 06/9/1980). Cụ Đ1 và cụ H2 sinh được 07 người con là: ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1949 (là liệt sỹ hy sinh năm 1969, không có vợ, con); bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1952; ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1955; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1962; ông Nguyễn Duy P1, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1970 (chết ngày 02/8/1982, không có chồng, con). Cụ Đ1 và cụ H2 không có con riêng, con nuôi nào. Cụ H2 chết trước cụ Đ1.
Do đó, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ1 còn sống được hưởng di sản thừa kế là bà Nguyễn Thị H1; ông Nguyễn Duy L1; bà Nguyễn Thị L; bà Nguyễn Thị L3 và ông Nguyễn Duy P1. Tại phiên tòa bà L đồng quan điểm theo ý kiến của ông P1. [2.3.3] Xác định phần di sản thừa kế của các đồng thừa kế trong khối tài sản chung là 60,5m2: 5 = 12,1m2. Do diện tích đất được chia quá nhỏ, để tránh thiệt hại cho các bên và thuận lợi cho việc giao tài sản khi thi hành án nên giao toàn bộ thửa đất cho bà L là người đang trực tiếp ở trên thửa đất sử dụng là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật. Bà L có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền cho các đồng thừa kế. [2.3.4] Trong quá trình sử dụng đất, cụ Đ1 là người xây dựng các tài sản trên đất. Bà L sử dụng đất từ năm 1994 đến nay nên có nhiều công sức trong việc trông nom tôn tạo đất. Tại phiên tòa, nguyên đơn không đề nghị các đồng thừa kế thanh toán công sức trông nom, tôn tạo đất. Đây là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [2.3.5] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/11/2022 và biên bản định giá tài sản ngày 15/4/2024 thì giá trị các công trình xây dựng trên đất là 57.397.000 đồng; giá trị cây cối, hoa màu là 430.000 đồng; giá trị quyền sử dụng đất là: 2.166.142.000 đồng. Tổng cộng: 2.223.969.000 đồng: 2 = 111.984.500 đồngg. Phần di sản thừa kế của cụ Đ1 là 1.111.984.500 đồng (Một tỷ một trăm mười một triệu chín trăm tám mươi tư nghìn năm trăm đồng) được chia làm 05 phần gồm bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Duy L1, ông Nguyễn Duy P1, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Lê M người được hưởng 222.396.900 đồng giá trị di sản thừa kế; Giao toàn bộ thửa đất 86 tờ bản đồ số 05 diện tích 121m2 tại xã D, huyện T cho bà Nguyễn Thị L sử dụng. Bà L có nghĩa vụ thanh 12 toán cho ông L1, ông P1, bà H1, bà L3 mỗi người 222.396.900 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu ba trăm chím mươi sáu nghìn chín trăm đồng). [2.3.6] Bà L được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (điểm d khoán 1 điều 99 Luật đất đai) và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ.
[3] Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp được thêm chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Duy L1 là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Duy L1.
2. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
3. Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Duy L1 được miễn án phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.