Quyết định 565/QĐ-UBND Năm 2011 về phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 565/QĐ-UBND |
TP. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 02 năm 2011 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ NĂM TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015;
Căn cứ Thông tư số 32/2010/TT.BGDĐT ngày 02 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi;
Căn cứ Quyết định số 248/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 01 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 3127/SGDĐT-VP ngày 21 tháng 12 năm 2010,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Nay phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nội vụ, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận -huyện, phường - xã, thị trấn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
ĐỀ ÁN
PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ NĂM TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Phê duyệt kèm theo Quyết định số 565 /QĐ-UBND ngày 09 tháng 02 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố)
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Trẻ được tiếp cận với giáo dục mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Chính những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập sau này.
Thực hiện Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015 và căn cứ từ tình hình thực tiễn phát triển Giáo dục mầm non của thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Kế hoạch Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015 với những nội dung chính như sau:
Phần I
ĐIỀU KIỆN, TIÊU CHUẨN PHỔ CẬP MẦM NON CHO TRẺ NĂM TUỔI
I . Điều kiện phổ cập
1. Có đủ phòng học theo hướng kiên cố và đạt chuẩn theo quy định tại Điều lệ trường mầm non.
2. Trường, lớp được trang bị bộ thiết bị tối thiểu để thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mới; trang bị thêm các bộ đồ chơi, phần mềm trò chơi ứng dụng công nghệ thông tin, làm quen với vi tính để học tập;
3. Có đủ giáo viên với trình độ đào tạo đạt chuẩn (trung cấp sư phạm mầm non) và trên chuẩn; giáo viên được hưởng thu nhập và các chế độ khác theo thang bảng lương và chế độ phụ trội làm thêm giờ dành cho giáo viên mầm non;
4. Trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành, được chăm sóc giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non mới, tất cả trẻ em được chuẩn bị làm quen với chữ viết, làm quen chữ số trước khi vào lớp một.
II. Tiêu chuẩn phổ cập
1. Đối với phường, thị trấn:
1.1. Bảo đảm các điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, tài liệu, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi trong các trường, lớp mầm non năm tuổi;
1.2. Huy động số trẻ em năm tuổi đến lớp đạt 98% trở lên, trong đó có ít nhất 90% số trẻ trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo chương trình giáo dục mầm non mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tại Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009;
1.3. Bảo đảm có 90% trở lên trẻ năm tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi);
1.4. Tỷ lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 95% trở lên;
1.5. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) và thấp còi (chiều cao theo tuổi) dưới 10%.
2. Đối với các xã:
2.1. Bảo đảm các điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, tài liệu, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi trong các trường, lớp mầm non năm tuổi;
2.2. Huy động số trẻ em năm tuổi đến lớp đạt 95% trở lên, trong đó có ít nhất 85% số trẻ trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo chương trình giáo dục mầm non mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tại Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009;
2.3. Bảo đảm có 85% trở lên trẻ năm tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi);
2.4. Tỷ lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 90% trở lên;
2.5. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) và thấp còi (chiều cao theo tuổi) dưới 10%.
3. Đối với quận, huyện:
Bảo đảm 90% số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ năm tuổi.
4. Đối với thành phố:
Bảo đảm 100% quận, huyện đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi.
Phần II
KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. Những kết quả đạt được
1. Phát triển mạng lưới trường lớp và quy mô:
1.1. Mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân bố đến hầu hết các địa bàn dân cư quận - huyện, đáp ứng phần lớn nhu cầu về chăm sóc, giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non. Cơ sở vật chất trường, lớp học mầm non được đầu tư cải thiện, nhiều phòng học được xây mới. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được hết sức quan tâm đầu tư. Công tác xã hội hóa hoạt động mầm non được đẩy mạnh, nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước đã hỗ trợ xây dựng hoặc trực tiếp đầu tư phát triển trường mầm non.
Năm học 2010 - 2011, thành phố có 696 trường mầm non. Trong đó có 407 trường công lập, chiếm tỷ lệ 58,6%; 289 trường ngoài công lập chiếm tỷ lệ 41,4%. Ngoài ra còn 960 nhóm lớp nhà trẻ, mẫu giáo tư thục.
1.2. Quy mô giáo dục mầm non tại thành phố luôn phát triển, số trẻ đến lớp tăng nhanh. Năm học 2010 - 2011, tổng số trẻ đến trường, lớp là 262.354 cháu, trong đó số trẻ tuổi nhà trẻ đến lớp là 43.452 cháu, trẻ tuổi mẫu giáo đến lớp là 218.902 trẻ đạt 83,4%.
Riêng mầm non năm tuổi hiện có 2.183 lớp đang nuôi dạy 81.190 cháu, đạt 94,6 % số trẻ em trong độ tuổi. Trong đó trẻ năm tuổi học bán trú: 73.662 trẻ, đạt tỷ lệ 90,7% và 7.528 trẻ năm tuổi học 1 buổi, đạt tỷ lệ 9,3%.
2. Đội ngũ giáo viên:
Công tác bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ được quan tâm đẩy mạnh, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Hầu hết giáo viên mầm non có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm, tận tụy với công việc, tâm huyết với nghề, sáng tạo trong công tác quản lý và trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
Hiện nay toàn thành phố có 14.609 giáo viên (Công lập: 8.422; Ngoài công lập: 6.187). Trong đó giáo viên đạt chuẩn: 13.892 tỷ lệ 95%, trong đó có 7.605 giáo viên trên chuẩn, tỷ lệ 52%.
Giáo viên mầm non dạy lớp năm tuổi là 3.863 giáo viên, 100% giáo viên đạt chuẩn.
II. Một số hạn chế, khó khăn
1. Về mạng lưới trường lớp và quy mô trẻ đến trường:
Mạng lưới trường lớp chưa đủ để huy động trẻ ra lớp đồng đều giữa các quận - huyện. Số lượng trường lớp công lập của thành phố chỉ đáp ứng việc thu nhận 70% tổng số trẻ năm tuổi, 30% còn lại học ở các trường tư thục. Riêng các quận mới số lượng trường công lập chỉ đáp ứng thu nhận dưới 50%, các huyện ngoại thành còn nhiều điểm lẻ không đủ điều kiện tổ chức học 2 buổi/ngày. Hiện vẫn còn 12 phường, xã chưa có trường mầm non công lập. Các Khu Chế xuất và Công nghiệp chưa có trường mầm non phục vụ cho trẻ em là con của công nhân. Ở các huyện ngoại thành, tỷ lệ trẻ năm tuổi học 2 buổi/ngày còn thấp (huyện Cần Giờ 40,72%, huyện Nhà Bè 82,04%, huyện Củ Chi 49,02%, huyện Bình Chánh 60,54 %).
2. Về chất lượng chăm sóc giáo dục:
- Sự tăng dân số cơ học tại một số quận - huyện làm cho sĩ số trẻ trên lớp các trường mầm non công lập còn cao so với quy định, hạn chế thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục mầm non mới nhất là giáo dục cá thể.
- Khó khăn về trường lớp, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên các lớp mẫu giáo ngoài công lập đã tạo ra sự phân cực về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Chất lượng công tác chăm sóc giáo dục trẻ tại một số cơ sở mầm non ngoài công lập nhìn chung còn thấp, chất lượng và điều kiện sống của trẻ còn hạn chế nên việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một ở khu vực này chưa cao.
3. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
- Các trường sư phạm trên địa bàn thành phố hàng năm số giáo viên mầm non ra trường chỉ đáp ứng nhu cầu của các trường mầm non khu vực công lập, do đó giáo viên khu vực trường, lớp mầm non tư thục thường được tuyển từ nhiều nguồn khác nhau nên chất lượng không đồng đều.
- Các trường, lớp mầm non tư thục giáo viên còn thiếu nên phải sử dụng nhân viên bảo mẫu thay thế giáo viên 2 ở một số lớp. Hiện nay có 2.398 bảo mẫu đang làm việc thay thế giáo viên ở khu vực mầm non tư thục (19,3%). Trong đó có 798 bảo mẫu làm việc thay thế giáo viên ở lớp mầm non năm tuổi.
- Đội ngũ cán bộ quản lý các trường, lớp mầm non tư thục, dân lập hầu hết chưa được đào tạo đạt chuẩn về quản lý giáo dục. Do đời sống khó khăn và áp lực công việc, nhiều giáo viên nghỉ việc, nên đội ngũ giáo viên mầm non khu vực này không ổn định và thường xuyên thiếu.
Phần III
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
I. Quan điểm chỉ đạo
- Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển giáo dục mầm non, tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên; ưu tiên đầu tư các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, khu dân cư mới, khu công nghiệp… theo hướng xây dựng các trường công lập kiên cố và đạt chuẩn.
- Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non nhằm chuẩn bị tốt nhất cho trẻ vào lớp Một đối với tất cả khu vực trong cả thành phố.
- Việc chăm lo để mọi trẻ em năm tuổi được đến trường là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa với trách nhiệm lớn hơn của Nhà nước, của xã hội và gia đình để phát triển giáo dục mầm non.
- Thực hiện đổi mới nội dung phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non mới trên nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ, linh hoạt, phù hợp, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông nhằm góp phần tích cực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
II. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung:
Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi đều được đến lớp để chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, làm quen với chữ viết, chữ số và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp một.
2. Mục tiêu cụ thể:
1.1. Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, bảo đảm đến năm 2013, có 100% số trẻ em năm tuổi được học 2 buổi/ngày;
1.2. Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục đối với các lớp mầm non năm tuổi, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi xuống dưới 3%, phấn đấu đến năm 2013 có 100% trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non được học Chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp một;
1.3. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, bảo đảm 100% giáo viên dạy mầm non năm tuổi đạt chuẩn trình độ đào tạo vào năm 2010, phấn đấu đến năm 2015 có 60% giáo viên đạt trình độ từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 80% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá;
1.4. Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho các lớp mầm non năm tuổi ở các xã có khó khăn. Xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia tại các xã xây dựng nông thôn mới của các huyện ngoại thành làm mô hình mẫu và là nơi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ giáo dục mầm non;
1.5. Kiểm tra công nhận 12/24 quận - huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi vào năm 2011 và 24/24 quận - huyện đạt chuẩn phổ cập mầm non năm tuổi vào năm 2012.
Phần IV
LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
Quá trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi được tiến hành trong 5 năm gồm các công việc sau:
I. Giai đoạn 2010 - 2012
- Củng cố Ban chỉ đạo chống mù chữ và phổ cập giáo dục các cấp. Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến Kế hoạch để chính quyền các cấp, các tổ chức và nhân dân ủng hộ nhằm huy động trẻ năm tuổi đến trường. Tập trung vào trẻ em vùng khó khăn, vùng nông thôn được học 2 buổi/ngày;
- Triển khai tiêu chuẩn, quy trình kiểm tra, đánh giá công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi;
- Bồi dưỡng đạt chuẩn và trên chuẩn cho 259 giáo viên. Đào tạo mới 2.765 giáo viên nhằm đảm bảo theo đúng định mức lớp bán trú (mỗi lớp có 30 học sinh và 2 cô giáo);
- Xây dựng mới 460 phòng học (danh mục đính kèm), cải tạo trường, lớp; cung cấp trang thiết bị đáp ứng yêu cầu phổ cập. Trong đó ưu tiên xây dựng 6 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cho 6 xã xây dựng nông thôn mới ở các huyện (xã Lý Nhơn - huyện Cần Giờ, xã Nhơn Đức - huyện Nhà Bè, xã Tân Nhựt - huyện Bình Chánh, xã Xuân Thới Thượng - huyện Hóc Môn, xã Tân Thông Hội, xã Thái Mỹ - huyện Củ Chi) và 12 phường trắng về mầm non công lập ở quận 4 (1 phường), quận 6 (1 phường), quận Phú Nhuận (1 phường), quận Gò Vấp (3 phường), quận Bình Tân (3 phường), quận Tân Phú (3 phường) và tất cả khu công nghiệp, khu chế xuất đều có ít nhất trường mầm non;
- Khuyến khích thành lập mới các trường mầm non tư thục ở những nơi thuận lợi nhằm tăng tỷ lệ huy động trẻ đến trường; xây dựng chính sách tạo điều kiện cho cá nhân và doanh nghiệp đóng góp nguồn lực xây dựng trường học và hỗ trợ nâng cao chất lượng;
- Nâng cao chất lượng thực hiện chương trình mầm non mới cho 3.261 lớp mầm non năm tuổi, nhất là các lớp mầm non ở các trường, lớp mẫu giáo tư thục;
- Điều chỉnh, bổ sung định mức biên chế, chế độ chính sách cho giáo viên mầm non, tăng cường kiểm tra giám sát để giáo viên các trường mầm non tư thục được thực hiện chính sách trả lương theo ngạch bậc và nâng lương theo định kỳ;
- Kiểm tra công nhận 12 quận - huyện vào năm 2011;
- Kiểm tra công nhận 12 quận - huyện còn lại vào năm 2012;
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ năm tuổi;
- Tổng kết đánh giá 2 năm thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi.
II. Giai đoạn 2013 - 2015
1. Giai đoạn 2013:
- Tiếp tục tập trung cho đối tượng trẻ em là con công nhân, trẻ em các huyện ngoại thành để huy động đạt 100% số trẻ em năm tuổi ra lớp mầm non. Trong đó 100% trẻ học 2 buổi/ngày;
- Phân bổ ngân sách chi thường xuyên hàng năm với tỷ trọng hợp lý nhằm bảo đảm thực hiện phổ cập mầm non cho trẻ năm tuổi đạt kết quả bền vững;
- Thực hiện xây mới 300 phòng học giai đoạn II; hoàn thành xây dựng các trường mầm non đạt cơ sở vật chất theo chuẩn quốc gia cho các xã xây dựng nông thôn mới;
- Bồi dưỡng đạt chuẩn và trên chuẩn cho 405 giáo viên. Đào tạo mới 1.302 giáo viên nhằm đảm bảo đến năm 2013 đáp ứng đủ cho 3.414 lớp;
- Tổng kết đánh giá 3 năm thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi.
2. Giai đoạn 2014 - 2015:
- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các trường mầm non theo quy hoạch đảm bảo trường lớp theo mức gia tăng dân theo dự kiến kế hoạch;
