Quyết định 30/2001/QĐ-BTC Của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế
|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 13 tháng 04 năm 2001 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH CHẾ ĐỘ IN, PHÁT HÀNH, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ẤN CHỈ THUẾ
____________
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ quy định nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 178/CP ngày 28/10/1994 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính;
Căn cứ các luật thuế, pháp lệnh Kế toán thống kê thuế.
Căn cứ Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30/01/1999 của Chính phủ về phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nước.
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Nay ban hành kèm theo quyết định này Chế độ in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế - Gọi tắt là "Chế độ quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế”.
Điều 2: Chế độ này áp dụng thống nhất trong việc quản lý thu thuế, thu phí, lệ phí của nhà nước trong phạm vi cả nước từ ngày 01/7/2001, thay thế Chế độ Quản lý ấn chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 529 TC/QĐ ngày 22/12/1992 của Bộ trưởng Bộ Tàì chính.
Điều 3: Chánh văn phòng Bộ Tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán, Tổng giám đốc Kho Bạc nhà nước, Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, các tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
CHẾ ĐỘ
QUẢN LÝ SỬ DỤNG ẤN CHỈ THUẾ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 30/2001/QĐ-BTC ngày 13 tháng 04 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1: Ấn chỉ thuế là loại ấn phẩm được in theo chỉ định tại các Luật thuế, Pháp lệnh thuế và các văn bản pháp quy dùng để quản lý thu thuế, thu phí, lệ phí cho Ngân sách Nhà nước.
Điều 2: Theo chức năng quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế được chia ra từng loại như sau:
- Các loại chứng từ thu như: Biên lai thu thuế; thu phí, lệ phí, biên lai thu tiền; biên lai thu phạt; giấy nộp tiền bằng tiền mặt; giấy nộp tiền bằng chuyển khoản, Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý.....
- Các loại hoá đơn, tem, vé các loại....
- Các loại sổ sách, báo cáo và mẫu biểu thống kê kế toán thuế, tờ khai thuế (có phụ lục đính kèm).
Điều 3: Bộ Tài chính thống nhất ban hành các loại ấn chỉ thuế. Tổng cục thuế chịu trách nhiệm hướng dẫn, in ấn, cấp phát, bán, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế trong phạm vi cả nước.
Điều 4: Tất cả các tổ chức, cá nhân in, cấp phát, sử dụng và quản lý, ấn chỉ thuế đều phải thực hiện theo quy định của chế độ này.
Điều 5: Tổ chức, cá nhân để mất, hư hỏng, vi phạm chế độ quản lý sử dụng ấn chỉ thuế đều phải xử lý tuỳ theo mức độ vi phạm.
Chương II
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ IN, PHÁT HÀNH, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
Điều 6: Việc tổ chức in phát hành ấn chỉ thuế do Tổng cục thuế chịu trách nhiệm thực hiện. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tài chính có thể uỷ quyền cho Cục thuế tỉnh, thành phố tổ chức in, phát hành một số loại ấn chỉ theo mẫu đã được duyệt; hoặc cho phép các Tổ chức, đơn vị tự in và sử dụng một số loại ấn chỉ sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận.
Điều 7: Kế hoạch in ấn chỉ thuế hàng năm của Tổng cục Thuế phải căn cứ nhu cầu sử dụng thường xuyên của Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tổng cục Thuế có trách nhiệm tổng hợp lập kế hoạch hiện vật và kinh phí báo cáo Bộ Tài chính.
Hàng năm chậm nhất vào ngày 15 tháng 10 Cục thuế phải có báo cáo Tổng cục thuế về kế hoạch sử dụng ấn chỉ năm sau, kể cả các ngành được Bộ Tài chính uỷ quyền thu các khoản thuế, phí và lệ phí.
Điều 8: Các loại mẫu ấn chỉ thuế đưa in phải có ký hiệu riêng, các loại biên lai thu thuế, thu phí, lệ phí, biên lai thu tiền, hoá đơn phải được đóng thành quyển, có ký hiệu, số thứ tự.
Các loại ấn chỉ thuế chỉ được in ở các nhà in có đủ tư cách pháp nhân, khi in ấn chỉ thuế phải có hợp đồng in theo mẫu in phải được cấp có thẩm quyền duyệt. Khi in xong phải thực hiện huỷ các bản in, bản kẽm, các sản phẩm in thừa, in thử trước khi thanh lý hợp đồng in.
Điều 9: Tất cả các loại ấn chỉ thuế đưa ra sử dụng đều phải có thông báo phát hành bằng văn bản.
Điều 10: Tất cả các loại ấn chỉ thuế trước khi cấp phát đều phải làm thủ tục nhập kho và vào sổ kế toán ấn chỉ thuế. Khi cấp phải làm đầy đủ thủ tục cấp phát mới được xuất kho.
Cán bộ lĩnh ấn chỉ thuế phải có giấy giới thiệu của cơ quan, khi nhận phải kiểm đếm từng liên, từng số, từng quyển, từng ký hiệu không được đếm theo bó, cán bộ trực tiếp sử dụng biên lai thuế, phí, lệ phí, tem, vé, khi lĩnh ấn chỉ thuế phải có sổ lĩnh và thanh toán ấn chỉ.
Điều 11: Các loại biên lai thuế, phí, lệ phí, giấy nộp tiền bằng tiền mặt, giấy nộp tiền bằng chuyển khoản, biên lai thu tiền trước khi sử dụng phải đóng dấu của cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp thu (dấu đóng ở phía trên bên trái chứng từ thu) và phải sử dụng theo chức năng của từng loại.
Điều 12: Những loại ấn chỉ thuế đã nhập kho nhưng chưa có thông báo phát hành thì chưa được phép sử dụng.
Điều 13: Các loại chứng từ thu khi cấp cho cán bộ trực tiếp thu mỗi lần cấp không quá 2 quyển biên lai cùng loại (không quá 100 số); cán bộ được giao nhiệm vụ thu loại thuế, phí, lệ phí nào thì cấp loại biên lai đó, không được lĩnh hộ biên lai, không được cấp biên lai cho cán bộ thu chưa thanh toán biên lai tiền thuế, tiền phạt theo lịch nộp tiền hoặc cán bộ thu bị đình chỉ công tác hoặc chờ chuyển công tác khác.
Điều 14: Khi sử dụng chứng từ thu cán bộ sử dụng phải thực hiện theo đúng quy định sau:
Phải sử dụng đúng chức năng của từng loại chứng từ thu và phải ghi đầy đủ, rõ ràng các nội dung đã in sẵn, ghi rõ họ, tên, chữ ký người thu tiền, không được tẩy xoá, làm nhoè, nhàu nát, tờ biên lai bị hỏng phải gạch chéo không được xé rời mà phải lưu ở quyển để thanh toán với cơ quan thuế.
Biên lai thu phải dùng từ số nhỏ đến số lớn, phải dùng hết quyển mới dùng sang quyển khác.
Khi viết biên lai thu phải viết trước mặt người nộp tiền, phải có giấy than lót dưới liên 1, liên 2 (nếu có liên 3) để khi viết một lần in sang các liên có nội dung như nhau.
Điều 15: Cơ quan thuế, cơ quan được sử dụng biên lai thu tiền phải có lịch thanh toán biên lai, tiền thuế, tiền phí, lệ phí, tiền bán ấn chỉ theo quy định. Cán bộ sử dụng các loại chứng từ thu phải thực hiện việc thanh toán các loại biên lai thu thuế, thu phí, lệ phí, thu tiền với cơ quan thuế.
Đối với ấn chỉ thuế bán thu tiền, việc thanh toán ở Cục thuế mỗi tháng một lần, ở Tổng cục Thuế mỗi quý một lần.
Điều 16: Tất cả các đối tượng sử dụng biên lai hàng tháng phải có báo cáo về tình hình sử dụng biên lai cho cơ quan thuế (nơi nhận biên lai), hết năm phải thực hiện quyết toán số biên lai sử dụng và chuyển số tồn sang năm sau.
Điều 17: Các loại ấn chỉ thuế không còn giá trị sử dụng, bị hư hỏng.... (kể cả các loại chứng từ thu bị mất đã thu hồi lại được) khi thanh huỷ phải lập bảng kê xin huỷ và phải được chấp thuận bằng văn bản của Tổng cục Thuế (có phụ lục đính kèm).
Đối với ấn chỉ hết thời hạn lưu trữ, cơ quan thuế các cấp báo cáo cơ quan Thuế cấp trên thành lập Hội đồng thanh huỷ.
Điều 18: Mọi trường hợp thu tiền thuế, tiền phạt, các khoản phí và lệ phí đều phải cấp biên lai thu thuế, thu phí, lệ phí biên lai thu tiền theo đúng quy định, người nộp tiền có quyền từ chối không nộp tiền khi phát hiện chứng từ thu không đúng quy định hiện hành.
Chương III:
KHO ẤN CHỈ
Điều 19: Cơ quan thuế các cấp, cơ quan sử dụng ấn chỉ thuế phải có kho đựng ấn chỉ thuế, kho ấn chỉ thuế phải bảo đảm an toàn, phải trang bị dụng cụ phòng cháy, chống mối xông chuột cắn và phải có nội quy kho.
Ấn chỉ thuế phải sắp xếp ngăn nắp thứ tự từng loại, từng ký hiệu, phải lập thẻ kho để thuận lợi cho việc bảo quản, cấp phát, kiểm tra và theo dõi quản lý (có phụ lục đính kèm).
Điều 20: Nhất thiết phải có thủ kho ấn chỉ thuế. Nghiêm cấm thủ kho ấn chỉ thuế kiêm nhiệm các việc sau: Kế toán ấn chỉ thuế, kế toán tiền thuế, trực tiếp quản lý thu thuế, phí, lệ phí, tiền phạt.
Chương IV:
KẾ TOÁN ẤN CHỈ THUẾ
Điều 21: Cơ quan thuế các cấp và cơ quan sử dụng ấn chỉ phải có cán bộ làm công tác kế toán ấn chỉ thuế.
Nghiêm cấm kế toán ấn chỉ thuế kiêm nhiệm các việc sau: Kế toán tiền thuế, thủ kho ấn chỉ thuế, trực tiếp thu thuế, phí, lệ phí, tiền phạt .
Điều 22: Nhiệm vụ của kế toán ấn chỉ thuế:
+ Mở đầy đủ các loại sổ sách kế toán ấn chỉ thuế, phản ánh đầy đủ, kịp thời chính xác tình hình nhập, xuất, tổn thất sử dụng ấn chỉ thuế của đơn vị.
+ Hướng dẫn kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế của các đối tượng sử dụng ấn chỉ thuế.
+ Định kỳ vào 30/6 và 31/12 hàng năm phối hợp với thủ kho ấn chỉ tổ chức kiểm kê kho ấn chỉ. Ngoài nhiệm vụ trên, kế toán ấn chỉ ở từng cấp có nhiệm vụ sau:
1. Đối với Tổng cục Thuế:
Quản lý, cấp phát ấn chỉ thuế đáp ứng nhu cầu quản lý thu thuế cho hệ thống thuế và các ngành trong cả nước, theo dõi tình hình sử dụng, thanh quyết toán các loại ấn chỉ thuế bán thu tiền.
Lập kế hoạch in ấn chỉ thuế hàng năm và hướng dẫn chỉ đạo kiểm tra công tác kế toán ấn chỉ thuế ở các cấp.
Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện chế độ kế toán ấn chỉ thuế cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu quản lý thu thuế.
2. Đối với Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc TW.
Chi cục thuế báo cáo lãnh đạo Cục Thuế để Báo cáo áo cáo Tổng cục Thuế nhu cầu sử dụng ấn chỉ thuế của địa phương từng quý và cả năm, tổ chức lĩnh, quản lý và cấp phát ấn chỉ thuế cho các Chi cục và các đơn vị sử dụng ấn chỉ thuế trên địa bàn địa phương. Theo dõi cấp phát, quản lý ấn chỉ ở Cục thuế và Chi cục Thuế, thanh toán kịp thời tiền bán ấn chỉ thuế.
Chi cục thuế báo cáo kịp thời với lãnh đạo Cục thuế để Báo cáo và Tổng cục Thuế về tình hình sử dụng ấn chỉ thuế, các vụ vi phạm về tổn thất ấn chỉ thuế và kết quả xử lý các vụ vi phạm tại địa phương
3. Đối với Chi cục Thuế
Báo cáo nhu cầu sử dụng ấn chỉ thuế của quận, huyện, thị từng quý và cả năm, theo dõi việc cấp phát, sử dụng đến từng cán bộ sử dụng ấn chỉ thuế, thanh quyết toán đầy đủ, kịp thời tiền ấn chỉ bán với Cục thuế.
Báo cáo Cục thuế về tình hình sử dụng ấn chỉ thuế các vụ vi phạm và kết quả xử lý về tổn thất ấn chỉ thuế ở các quận, huyện, thị xã.. .
Điều 23: Chứng từ sổ sách, báo cáo kế toán ấn chỉ bao gồm các loại như sau: (có phụ lục hướng dẫn đính kèm)
1. Chứng từ kế toán ấn chỉ thuế
Phiếu nhập ấn chỉ mẫu CT 23/AC
Phiếu xuất ấn chỉ mẫu CT 24/AC
Bảng kê chứng từ " CTT 25/AC
Giấy tờ được duyệt về tổn thất ấn chỉ thuế (biên bản quyết định xử lý việc mất chứng từ thu thuế).
2. Sổ kế toán ấn chỉ
Sổ theo dõi tổng hợp tổn thất ấn chỉ và kết quả xử lý: mẫu ST-21/AC
Sổ theo dõi tình hình ấn chỉ: " ST-12/AC
Sổ lĩnh, thanh toán tiền và ấn chỉ: " ST-10/AC
Sổ theo dõi ấn chỉ bán thu tiền: " ST-11/AC
3. Báo cáo ấn chỉ
Báo cáo tình hình sử dụng ấn chỉ mẫu BC 8/AC
Báo cáo quyết toán ấn chỉ bán thu tiền " BC 20/AC
Thông báo mất ấn chỉ " BC 23/AC
Báo cáo mất ấn chỉ " BC 21/AC
Báo cáo tình hình tổn thất, xử lý ấn chỉ " BC 24/AC
Bảng kê kiểm kê các loại ấn chỉ " BC 25/AC
Điều 24: Tài liệu kế toán ấn chỉ thuế phải được lưu giữ và bảo quản theo đúng quy định. Tài liệu kế toán ấn chỉ: số liệu tổng hợp phải được phản ánh vào sổ số liệu lịch sử trước khi xắp xếp phân loại và đưa vào lưu trữ; sổ số liệu lịch sử lưu trữ vĩnh viễn, báo cáo kế toán ấn chỉ, chứng từ kế toán ấn chỉ, liên lưu của biên lai, chứng từ (liên 1) lưu trữ 5 năm, quá thời hạn lưu trữ nêu trên, cơ quan thuế các cấp, cơ quan sử dụng biên lai, chứng từ tiến hành liệt kê danh mục cần thanh huỷ trình cơ quan thuế cấp trên cho phép lập hội đồng huỷ bỏ theo chế độ.
Điều 25:Thống kê ấn chỉ thuế là một bộ phận của thống kê thuế để ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời tình hình nhập, xuất sử dụng và tồn kho ấn chỉ thuế của đơn vị theo tháng, quý, 6 tháng và cả năm.
Điều 26: Nhiệm vụ của thống kê ấn chỉ:
Căn cứ mẫu BC 8/AC của cấp dưới tổng hợp số liệu, phản ánh chính xác, kịp thời các chỉ tiêu thống kê đã quy định. Căn cứ vào số liệu thống kê phân tích và đánh giá tình hình cấp phát, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế của đơn vị phục vụ cho việc lập kế hoạch sử dụng ấn chỉ thuế hàng năm và công tác quản lý ấn chỉ thuế của cơ quan thuế các cấp. Lập và gửi báo cáo thống kê ấn chỉ thuế cho cơ quan thuế cấp trên theo đúng nội dung mẫu biểu và thời gian quy định.
Chương V:
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 27: Tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng biên lai thuế, phí, lệ phí, tiền phạt làm mất sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng; nếu có tình tiết tăng nặng thì phạt tiền đến 5.000.000 đồng theo quy định tại Nghị định số 49/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán. Các mức phạt được quy định như sau:
- Mỗi liên 2 (Liên giao cho người nộp tiền) của Biên lai thu tiền (CTT11), Biên lai thuế GTGT và thuế TNDN trên khâu lưu thông (CTT51) chưa sử dụng bị mất bị phạt tiền 1.000.000 đồng.
- Mỗi liên 2 (Liên giao cho người nộp tiền) của các loại Biên lai thuế khác, Biên lai thu phí, lệ phí chưa sử dụng bị mất chưa sử dụng bị mất bị phạt tiền 500.000 đồng.
- Mỗi liên khác của Biên lai thuế, Biên lai thu phí, lệ phí (Liên báo soát, liên lưu tại quyển) và các loại chứng từ khác (Giấy nộp tiền vào ngân sách; Giấy chứng nhận thu hồi biên lai, hoá đơn; Biên bản kiểm tra; Biên bản tạm giữ hàng hoá, tang vật; Phiếu mua hoá đơn, sổ theo dõi ấn chỉ thuế; Tem, vé...) bị mất, phạt tiền 200.000 đồng
- Nếu số biên lai ấn chỉ thuế bị mất với số lượng lớn, có tình tiết tăng nặng thì phạt tiền đến 5.000.000đ
Đối với cán bộ phụ trách đơn vị do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra tổn thất ấn chỉ thuế thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà xử lý hành chính; Đơn vị để mất ấn chỉ thuế thì bị trừ điểm thi đua.
Điều 28: Khi mức xử phạt vi phạm hành chính do làm mất biên lai, chứng từ vượt quá thẩm quyền quy định của Chi cục Thuế thì phải chuyển hồ sơ đến Cục Thuế để xử lý, nhưng phải có đề nghị bằng văn bản nêu rõ hình thức phạt, mức phạt.
- Đối với các hành vi vi phạm nếu dẫn đến việc trốn lậu thuế thì phải xử lý về thuế và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo quy định hiện hành.
- Khi xét thấy hành vi làm mất biên lai, chứng từ có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan thuế phải chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 29: Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng làm căn cứ để xem xét khi xử phạt vi phạm hành chính do làm mất biên lai, chứng từ áp dụng theo quy định tại Nghị định số 49/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
Trường hợp tổn thất ấn chỉ thuế do khách quan như bão lụt, hoả hoạn bất ngờ bị kẻ gian uy hiếp... hoặc mức độ thiệt hại nhẹ thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, có thể được xét giảm hoặc miễn xử lý vi phạm hành chính.
Trường hợp mất biên lai, chứng từ đã sử dụng nếu đương sự chứng minh được đầy đủ số tiền đã thu và nộp đầy đủ tiền vào ngân sách Nhà nước thì được xem xét giảm, miễn phạt vi phạm hành chính.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi làm mất biên lai của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã thực hiện theo quy định tại tại Điều 19, 20 Luật thuế GTGT; Điều 24, 25 Luật thuế TNDN; Điều 7 Nghị định số 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Điều 30: Các trường hợp làm mất biên lai ấn chỉ thuế đều phải thông báo mất, lập biên bản vi phạm hành chính, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi làm mất biên lai, ấn chỉ thuế (theo mẫu đính kèm). Việc quản lý thu hồi tiền phạt sử dụng biên lai thu tiền hoặc giấy nộp tiền; số tiền phạt thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước theo mục lục ngân sách hiện hành.
Điều 31: Các tổ chức, cá nhân có thành tích giúp đỡ cơ quan thuế, phát hiện nhữn hành vi giả mạo chứng từ, vi phạm chế độ quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế thì được khen thưởng theo chế độ hiện hành.
