Quyết định 1425/QĐ-TTg Về việc chỉ định các cơ quan đầu mối để triển khai thực hiện Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA)
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ __________ Số: 1425/QĐ-TTg | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM _______________________________________ Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0)
____________
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 22 tháng 6 năm 2023;
Căn cứ Luật Dữ liệu ngày 30 tháng 11 năm 2024;
Căn cứ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân ngày 26 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Chuyển đổi số ngày 11 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Trí tuệ nhân tạo ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật An ninh mạng ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ban hành Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị;
Căn cứ Nghị định số 142/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo;
Căn cứ Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số;
Căn cứ Quyết định số 2439/QĐ-TTg ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung (phiên bản 1.0);
Căn cứ Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
1. Ban hành kèm theo Quyết định này Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0).
2. Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung, kế thừa tối đa các thành phần hiện có phù hợp, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí, và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới trong tương lai.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Các bộ, cơ quan ngang bộ; các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị có trách nhiệm tổ chức triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo chức năng, nhiệm vụ được giao, cụ thể:
a) Rà soát Khung kiến trúc số hiện có; xây dựng mới hoặc cập nhật và ban hành Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và tổ chức triển khai thực hiện sau khi được ban hành.
b) Đối với cơ quan, tổ chức được giao chủ trì cơ sở dữ liệu, nền tảng số dùng chung quốc gia, tổ chức xây dựng, quản lý và vận hành theo quy định.
c) Tổ chức xây dựng, nâng cấp, mở rộng hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số bảo đảm tuân thủ Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và các quy định của pháp luật có liên quan.
d) Ưu tiên sử dụng chung, chuẩn hóa, kế thừa, tích hợp và nâng cấp hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số hiện có; chỉ đầu tư, xây dựng mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật có liên quan.
đ) Phối hợp triển khai, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số dùng chung theo quy định.
e) Tổ chức đánh giá, giám sát việc tuân thủ Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức; Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án, nhiệm vụ; đầu tư, xây dựng, nâng cấp và vận hành các hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
g) Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách cần xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung bảo đảm đủ cơ sở pháp lý triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
e) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn, tổ chức triển khai và kiểm tra việc thực hiện Kiến trúc của Mô hình chuyển đổi số cấp xã; bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm:
a) Chủ trì hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
b) Chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia phục vụ quản lý, cập nhật, giám sát và đánh giá việc triển khai Khung kiến trúc số trong phạm vi toàn quốc.
c) Chủ trì rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cập nhật Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số khi cần thiết.
d) Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan hướng dẫn phương pháp đánh giá, giám sát việc tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức.
đ) Trong phạm vi triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, hướng dẫn triển khai các cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát về trí tuệ nhân tạo theo quy định của pháp luật; nghiên cứu, tổng kết, phổ biến và đề xuất nhân rộng các mô hình, giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo có hiệu quả trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
e) Định kỳ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo quy định.
3. Bộ Công an có trách nhiệm:
a) Chủ trì xây dựng, cập nhật Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia bảo đảm đồng bộ với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo quy định của pháp luật.
b) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc hướng dẫn, đánh giá, giám sát việc tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
2. Bãi bỏ Quyết định số 3090/QĐ-BKHCN ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
3. Trong thời gian các bộ, cơ quan ngang bộ; các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị chưa ban hành Khung kiến trúc số theo quy định của Quyết định này thì các Khung kiến trúc số hiện hành được tiếp tục áp dụng cho đến khi được thay thế, với điều kiện bảo đảm phù hợp và không trái với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0).
4. Trong thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành, các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định này hoàn thành việc xây dựng mới hoặc rà soát, cập nhật và ban hành Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức mình phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
a) Việc rà soát, cập nhật Khung kiến trúc số phải xác định lộ trình xử lý hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số chưa phù hợp hoặc trùng lặp, bảo đảm kế thừa kết quả đầu tư và tránh lãng phí nguồn lực.
b) Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được hình thành sau sắp xếp, hợp nhất đơn vị hành chính, ưu tiên hợp nhất, tích hợp, kế thừa các hệ thống hiện có; chỉ đầu tư, xây dựng mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số được triển khai theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) thì thực hiện theo quy định của pháp luật về cơ chế thử nghiệm đó; đồng thời phải bảo đảm các yêu cầu về kết nối, chia sẻ, bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng theo quy định của pháp luật.
6. Đối với các hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số đã được đầu tư, xây dựng, triển khai và đưa vào vận hành trước thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành thì việc tiếp tục sử dụng, nâng cấp, mở rộng, tích hợp, hợp nhất hoặc thay thế được thực hiện theo nguyên tắc kế thừa tối đa hệ thống hiện có nếu phù hợp. Việc nâng cấp, mở rộng, tích hợp, hợp nhất hoặc thay thế chỉ được thực hiện khi cần thiết nhằm bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và phải phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số tại Quyết định này.
Điều 4. Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
KT. THỦ TƯỚNG PHÓ THỦ TƯỚNG Hồ Quốc Dũng |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM _______________________________________ |
KHUNG KIẾN TRÚC TỔNG THỂ QUỐC GIA SỐ (PHIÊN BẢN 1.0)
(Kèm theo Quyết định số 1425/QĐ-TTg
ngày 29 tháng 7 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ)
___________
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Mục đích
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0) (sau đây gọi tắt là Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số) được xây dựng nhằm:
- Khái quát mô hình kiến trúc số tổng thể cho quốc gia, trong đó xác định những thành phần dùng chung, cơ bản nhất cho các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong quá trình kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu số; bảo đảm kết nối, chia sẻ, dùng chung tài nguyên, dữ liệu; tránh trùng lặp đầu tư trên quy mô quốc gia; đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp.
- Thống nhất các Khung kiến trúc, kiến trúc hiện có; phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia; giúp tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm chi phí.
- Tăng tính minh bạch thông qua dữ liệu mở, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội; tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số áp dụng đối với:
a) Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và tổ chức triển khai Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Khung kiến trúc Chính phủ số (được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh) và Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
b) Việc đầu tư, xây dựng, nâng cấp, phát triển, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
3. Phương pháp luận
- Định hướng từ trên xuống (Top-down): Xuất phát từ tầm nhìn quốc gia số, nguyên tắc cốt lõi (Quản trị dựa trên kết quả; Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực; Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First); Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số; Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất; Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt; Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo).
- Kế thừa từ dưới lên (Bottom-up): Rà soát thực trạng hệ thống công nghệ thông tin (CNTT), nền tảng số, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương để bảo đảm tính khả thi và phù hợp.
- Thiết kế theo lớp (Layered): Mô hình kiến trúc được phân chia thành các lớp, tuân thủ phân lớp đã đưa ra tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ban hành quy định về Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị (sau đây gọi tắt là Quy định số 05-QĐ/BCĐTW) để dễ chuẩn hóa, liên thông và mở rộng.
- Liên thông, tích hợp và đồng bộ: Bảo đảm các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số được kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác thống nhất; thực hiện nguyên tắc “khai báo một lần, sử dụng nhiều lần”, ưu tiên dùng chung dữ liệu và nền tảng số, tránh đầu tư trùng lặp, phân tán, manh mún; việc kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải phù hợp với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia.
- Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric): Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược và là nền tảng cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; các hệ thống số, nền tảng số, quy trình nghiệp vụ và hoạt động chỉ đạo, điều hành được thiết kế theo hướng quản trị, khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu thống nhất, xuyên suốt trên phạm vi toàn quốc.
- Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First): Tuân thủ Nguyên tắc số 3 tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW; các hệ thống số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và quy trình nghiệp vụ được thiết kế theo hướng ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, dự báo, tự động hóa và ra quyết định, đồng thời bảo đảm khả năng quản trị, giám sát, giải trình và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời của hệ thống AI. Định hướng này nhằm từng bước hình thành mô hình quốc gia số vận hành thông minh, trong đó trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực cốt lõi hỗ trợ hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
- Phát huy lợi thế của quốc gia đi sau: Lựa chọn, kế thừa có chọn lọc các mô hình kiến trúc, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế tiên tiến, phù hợp với điều kiện Việt Nam; tận dụng cơ hội của các công nghệ số mới để rút ngắn lộ trình phát triển, tránh đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư.
4. Mối quan hệ với các Khung kiến trúc chuyên ngành
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là khung kiến trúc ở cấp tổng thể, có vai trò định hướng, điều phối và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các khung kiến trúc số trong hệ thống chính trị. Khung không thay thế, không làm thay đổi hiệu lực và phạm vi áp dụng của các khung kiến trúc, khung quản trị và công cụ chuyên ngành do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đối với các nội dung thuộc phạm vi chuyên ngành, việc thiết kế, xây dựng, triển khai và vận hành các thành phần của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phải bảo đảm thống nhất, tương thích và tuân thủ các khung kiến trúc, khung quản trị, tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và các quy định chuyên ngành do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là khung kiến trúc tổng thể, thống nhất, đồng bộ của quốc gia số Việt Nam. Trên cơ sở Khung này, các cơ quan trong hệ thống chính trị xây dựng, cập nhật Khung kiến trúc số của cơ quan mình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao bảo đảm thống nhất, liên thông, đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị.
a) Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng
Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng do cơ quan được cấp có thẩm quyền giao chủ trì xây dựng, triển khai nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan Đảng.
b) Khung kiến trúc số của Quốc hội
Khung kiến trúc số của Quốc hội do cơ quan được cấp có thẩm quyền giao chủ trì xây dựng, triển khai nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong các cơ quan của Quốc hội; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội.
c) Khung kiến trúc số của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Khung kiến trúc số của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do cơ quan được cấp có thẩm quyền giao chủ trì xây dựng, triển khai nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong các cơ quan thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
d) Khung kiến trúc Chính phủ số
Khung kiến trúc Chính phủ số được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh.
Trong Khung này, thuật ngữ “Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ” được sử dụng để chỉ chung các Khung kiến trúc Chính phủ số của các bộ, cơ quan ngang bộ; thuật ngữ “Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh” được sử dụng để chỉ chung các Khung kiến trúc Chính quyền số của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tên gọi cụ thể của từng Khung kiến trúc được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 194/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ.
Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ do các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng, ban hành phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số tại bộ, ngành và giữa bộ, ngành với các cơ quan, tổ chức khác trên phạm vi toàn quốc.
Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng, ban hành phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số tại địa phương và giữa địa phương với các cơ quan, tổ chức khác trên phạm vi toàn quốc. Kiến trúc của Mô hình chuyển đổi số cấp xã là một thành phần của Khung kiến trúc chính quyền số cấp tỉnh, nhằm định hướng thống nhất việc triển khai chuyển đổi số tại cấp xã; bảo đảm kết nối, liên thông, sử dụng chung hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số và dịch vụ số giữa cấp xã với cấp tỉnh, cấp Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
đ) Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác
Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị do các cơ quan, tổ chức này xây dựng nhằm định hướng thống nhất việc chuyển đổi số trong mỗi cơ quan và giữa cơ quan với các cơ quan, tổ chức khác trên phạm vi toàn quốc; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; bảo đảm an ninh mạng; nâng cao hiệu quả đầu tư, triển khai chuyển đổi số và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức.
Các hợp phần chính của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được các cơ quan có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện theo quy định.
2.1. Các nguyên tắc cốt lõi
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số kế thừa đầy đủ các nội dung của 07 nguyên tắc cốt lõi tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW; đồng thời cập nhật, bổ sung để phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan và yêu cầu triển khai trong giai đoạn tới, cụ thể như sau:
a) Nguyên tắc 1. Quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả
Mục tiêu cao nhất và thước đo thành công của từng hợp phần trong Mô hình là tạo ra kết quả thực chất, có thể định lượng, đo lường và kiểm chứng được. Kết quả triển khai chuyển đổi số phải được đo lường trên cơ sở dữ liệu số phát sinh từ quá trình vận hành thực tế của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; hạn chế tối đa việc tổng hợp, báo cáo thủ công. Các kết quả trọng tâm cần đạt được bao gồm: Nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp; rút ngắn thời gian xử lý công việc của cơ quan nhà nước; giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và xã hội; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công. Mọi quyết định về chủ trương đầu tư, thiết kế kỹ thuật và quy trình vận hành phải được xem xét, thẩm định, đánh giá dựa trên cơ sở hiệu quả mang lại cho xã hội và quốc gia.
b) Nguyên tắc 2. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực
- Dữ liệu phải được xác định là tài sản chiến lược, giữ vị trí trung tâm trong mọi quy trình nghiệp vụ và là nền tảng cho mọi quyết sách; không chỉ dừng lại ở chức năng thống kê, báo cáo sau khi sự việc đã diễn ra. Lãnh đạo các cấp, các ngành cần từng bước chuyển đổi phương thức chỉ đạo, điều hành sang mô hình ra quyết định dựa trên dữ liệu được phân tích, dự báo, mô phỏng các kịch bản, trực quan, tin cậy, cập nhật theo thời gian thực; thay thế phương thức truyền thống dựa chủ yếu vào báo cáo tổng hợp bằng văn bản giấy có độ trễ, thiếu khách quan và chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh.
- Dữ liệu được quản trị thống nhất trên phạm vi quốc gia theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và điều phối theo quy định của pháp luật. Dữ liệu chủ quốc gia và dữ liệu dùng chung phải được cập nhật, đồng bộ và sử dụng thống nhất trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế số, xã hội số. Cơ quan chủ quản dữ liệu chịu trách nhiệm cập nhật, duy trì, đồng bộ và chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của mình với các cơ quan, tổ chức có liên quan thông qua các nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu theo quy định; bảo đảm dữ liệu được chuẩn hóa, thống nhất mã định danh, tiêu chuẩn dữ liệu và siêu dữ liệu (metadata), phục vụ khai thác và sử dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
- Việc thu thập, cập nhật, xử lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền của cơ quan chủ quản dữ liệu; bảo đảm phân loại dữ liệu, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác, lưu nhật ký, truy vết hoạt động khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
c) Nguyên tắc 3. Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First)
Mô hình được thiết kế theo hướng ưu tiên xem xét, tích hợp trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa vào các quy trình nghiệp vụ phù hợp, trên cơ sở đáp ứng điều kiện pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro. Riêng các hệ thống AI phải được thiết kế và vận hành theo cách bảo đảm tính minh bạch, công bằng, an toàn và có trách nhiệm. Các hệ thống AI phục vụ hoạt động của cơ quan trong hệ thống chính trị phải bảo đảm khả năng giám sát, truy vết, giải trình kết quả xử lý tự động; kiểm soát dữ liệu huấn luyện, dữ liệu đầu vào và quyền truy cập mô hình AI theo quy định của pháp luật. Kiên quyết xóa bỏ các quy trình thủ công, đẩy mạnh tự động hóa tối đa nhằm giải phóng sức lao động cho cán bộ, công chức, viên chức, tạo điều kiện tập trung vào các nhiệm vụ mang tính phân tích, sáng tạo, tương tác phức tạp và hoạch định chính sách, thay cho các công việc sự vụ, hành chính thuần túy.
d) Nguyên tắc 4. Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số
- Trung ương tập trung vào vai trò kiến tạo thể chế, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng và vận hành các nền tảng số dùng chung, đồng thời thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện dựa trên dữ liệu. Các cơ quan chính quyền địa phương được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy tính chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở khai thác, vận hành các nền tảng số dùng chung.
- Nền tảng số tạo điều kiện thực hiện giám sát kết quả theo thời gian thực, là cơ sở vững chắc để Trung ương tin tưởng trao quyền cho địa phương, đồng thời vẫn bảo đảm sự điều hành thống nhất của quốc gia. Thực hiện nghiêm nguyên tắc: cấp quản lý đối tượng nào trong thực tiễn thì phải chịu trách nhiệm tạo lập, cập nhật và bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu về đối tượng đó trên môi trường số.
Các bộ, ngành, địa phương phải sử dụng các nền tảng số dùng chung quốc gia, nền tảng số dùng chung cấp bộ, cấp tỉnh và các thành phần dùng chung đã được triển khai để phục vụ các chức năng, nhiệm vụ tương ứng; chỉ đầu tư, xây dựng mới hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật.
đ) Nguyên tắc 5. Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất
Kiên quyết chấm dứt tình trạng phân mảnh, rời rạc trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tương tác với cơ quan nhà nước. Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh điện tử VNeID phải được phát triển thành hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, liên thông, liền mạch với thiết kế bao trùm, bảo đảm khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, nhất là người yếu thế; tích hợp các tính năng hỗ trợ cần thiết như hướng dẫn bằng giọng nói, hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Đây là hai kênh giao tiếp chính thức, nơi người dân, doanh nghiệp chỉ cần một định danh duy nhất để được phục vụ toàn diện, thông minh, thuận tiện, cá nhân hóa, không phải cung cấp lại thông tin đã có.
e) Nguyên tắc 6. Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt
Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư phải được xác định là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng.
Các hệ thống số phải được thiết kế và vận hành theo nguyên tắc bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư ngay từ giai đoạn thiết kế; bảo đảm quản trị rủi ro, phân loại dữ liệu, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác dữ liệu, lưu nhật ký, truy vết hoạt động, giám sát, sao lưu, dự phòng, phục hồi và ứng phó sự cố theo quy định của pháp luật.
Việc kết nối, chia sẻ, tích hợp và liên thông dữ liệu phải bảo đảm an toàn, toàn vẹn, khả năng kiểm soát, khả năng phục hồi và vận hành liên tục của hệ thống; đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu quan trọng và bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Mọi hoạt động liên quan đến dữ liệu, hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống số phải tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật có liên quan.
g) Nguyên tắc 7. Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo
- Dữ liệu của các cơ quan trong hệ thống chính trị đủ điều kiện công bố, cung cấp dưới dạng dữ liệu mở theo quy định của pháp luật được công khai, chia sẻ để phục vụ cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và người dân. Việc mở dữ liệu phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về dữ liệu và giao dịch điện tử. Việc cung cấp dữ liệu mở nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội giám sát, đánh giá hiệu quả quản trị, từ đó tăng cường niềm tin và trách nhiệm giải trình; đồng thời tạo nền tảng để cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng dữ liệu, thúc đẩy phát triển các sản phẩm, dịch vụ số, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội dựa trên giá trị dữ liệu mang lại.
- Các nguyên tắc gắn bó chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong đó, bảo đảm an ninh mạng (Nguyên tắc 6) là nền tảng để các nguyên tắc còn lại có thể được triển khai một cách tin cậy và bền vững. Trên nền tảng an toàn đó, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu (Nguyên tắc 2) chỉ khả thi khi có hệ thống vận hành thông minh, tự động thu thập dữ liệu (Nguyên tắc 3). Dữ liệu thu thập được cho phép Trung ương giám sát hiệu quả, từ đó phân cấp, phân quyền cho địa phương (Nguyên tắc 4). Hiệu quả của việc phân quyền và toàn bộ mô hình được đo lường bằng kết quả thực chất (Nguyên tắc 1), hướng đến sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp thông qua một hệ sinh thái hợp nhất, lấy người dùng làm trung tâm (Nguyên tắc 5). Niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái lại được củng cố bởi sự bảo đảm về an ninh mạng (Nguyên tắc 6). Trên cơ sở đó, việc công khai, chia sẻ, mở dữ liệu (Nguyên tắc 7) không chỉ tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác tối đa giá trị từ dữ liệu, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín và liên tục được hoàn thiện.
2.2. Các nguyên tắc và yêu cầu về thiết kế, triển khai, quản trị và bảo đảm nguồn lực
a) Nguyên tắc kế thừa và áp dụng thống nhất các khung, công cụ
chuyên ngành
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là khung kiến trúc ở cấp tổng thể, định hướng và bảo đảm sự thống nhất giữa các khung kiến trúc, khung quản trị và công cụ chuyên ngành do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với các nội dung đã được quy định tại các khung kiến trúc, khung quản trị và công cụ chuyên ngành thì thực hiện theo quy định tương ứng; Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số chỉ quy định các nội dung mang tính tổng thể, liên ngành và liên thông giữa các lĩnh vực.
b) Nguyên tắc vận hành
- Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm dịch vụ số thuận tiện, minh bạch, thống nhất, đa kênh.
- Khai báo một lần là nguyên tắc mặc định trong thiết kế và vận hành hệ thống số; dữ liệu đã được cơ quan nhà nước thu thập hợp pháp phải được chia sẻ, tái sử dụng theo quy định để giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin, giấy tờ cho người dân, doanh nghiệp.
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Bảo đảm tích hợp, kết nối, liên thông toàn diện; chia sẻ dữ liệu, dùng chung hạ tầng, nền tảng giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
- Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ quản, đơn vị thiết kế, triển khai, quản lý, thẩm định, tham vấn.
- Bảo đảm minh bạch, khả năng đo lường, trách nhiệm giải trình.
- Nâng cao hiệu quả, tránh trùng lặp; xây dựng một lần, sử dụng nhiều lần; ưu tiên dùng chung, tận dụng tối đa hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây, dịch vụ đã được phát triển.
c) Nguyên tắc thiết kế
- Ưu tiên thiết kế giao diện lập trình ứng dụng mở (API First): API phải được thiết kế ngay từ đầu để sẵn sàng chia sẻ dữ liệu, tích hợp và tái sử dụng dịch vụ với các hệ thống khác. API phải được đăng ký, công bố và quản lý thống nhất theo quy định; bảo đảm quản lý vòng đời, phân quyền truy cập, quản lý phiên bản, giám sát việc khai thác và khả năng truy vết. Việc công bố và chuẩn hóa API giúp bảo đảm tính liên thông, tích hợp thời gian thực, minh bạch và khuyến khích đổi mới sáng tạo.
- Tích hợp yêu cầu an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế (Security by Design): Yêu cầu bảo đảm an ninh mạng phải được tích hợp xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời hệ thống số, từ thiết kế kiến trúc, phát triển, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng; bảo đảm khả năng quản trị rủi ro, giám sát liên tục, lưu nhật ký, dự phòng, phục hồi hệ thống và ứng phó sự cố theo quy định của pháp luật.
- Tích hợp yêu cầu bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư ngay từ giai đoạn thiết kế (Privacy by Design): Việc thiết kế hệ thống phải bảo đảm nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu, phân loại dữ liệu, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác dữ liệu, quản trị vòng đời dữ liệu và sử dụng dữ liệu đúng mục đích; bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu và an ninh mạng.
- Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric): Dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược, được quản trị thống nhất theo Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung; bảo đảm dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ, khai thác thống nhất theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, “thu thập một lần, sử dụng nhiều lần”, phục vụ kết nối, liên thông, chia sẻ, điều phối dữ liệu và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
- Ưu tiên tích hợp trí tuệ nhân tạo vào xử lý, phân tích, ra quyết định (AI First): Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các quy trình nghiệp vụ, hệ thống số và hoạt động vận hành phù hợp, trên cơ sở đáp ứng các điều kiện về pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro.
- Tích hợp yêu cầu quản trị và kiểm soát AI ngay từ giai đoạn thiết kế (AI Governance by Design): Các hệ thống ứng dụng AI phải được quản trị trong toàn bộ vòng đời của hệ thống AI; xác định rõ phạm vi sử dụng, hạ tầng tính toán, dữ liệu huấn luyện, cơ chế kiểm soát mô hình, giám sát quyết định tự động, khả năng giải trình và phân quyền khai thác; bảo đảm quản trị rủi ro, đánh giá, giám sát và kiểm soát việc vận hành mô hình AI; bảo đảm AI được triển khai an toàn, minh bạch, có kiểm soát và phù hợp với quy định của pháp luật. Các hệ thống AI phải có cơ chế giám sát, phát hiện và xử lý các nguy cơ mất an toàn đối với dữ liệu, mô hình AI và quá trình suy luận; bảo đảm kiểm soát truy cập, quản lý danh tính và khả năng truy vết trong quá trình vận hành.
Đối với các quyết định ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo chỉ có tính chất hỗ trợ; cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, quyết định cuối cùng theo quy định của pháp luật.
- Thiết kế theo mô-đun, hướng dịch vụ, dễ dàng mở rộng, nâng cấp, thay thế (Modular Design): Các mô-đun được thiết kế độc lập để khi cần có thể cập nhật, thay thế nhanh chóng mà không ảnh hưởng toàn hệ thống. Điều này giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng tái sử dụng và linh hoạt trong ứng dụng công nghệ mới.
- Ưu tiên sử dụng hạ tầng, nền tảng điện toán đám mây (Cloud First): Ưu tiên triển khai các hệ thống số trên hạ tầng, nền tảng điện toán đám mây phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ và quy định của pháp luật; bảo đảm khả năng mở rộng, tính sẵn sàng, khả năng phục hồi, tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên và chi phí đầu tư, vận hành.
- Áp dụng tiêu chuẩn mở (Open Standard): Tiêu chuẩn mở bảo đảm các hệ thống có thể tích hợp và vận hành đồng bộ, tránh phụ thuộc vào nhà cung cấp riêng lẻ. Đồng thời, tạo thuận lợi cho việc chia sẻ và tái sử dụng các thành phần số.
- Việc số hóa phải gắn với rà soát, chuẩn hóa, đơn giản hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trước khi thiết kế, mô hình hóa và triển khai trên môi trường số; không số hóa nguyên trạng các quy trình, thủ tục hoặc phương thức xử lý thủ công còn bất cập, chồng chéo, phân mảnh hoặc không còn phù hợp. Việc tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm chuyển đổi số thực chất, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo điều kiện cho tự động hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý công việc.
Đối với các quy trình đủ điều kiện về pháp lý và kỹ thuật, việc thiết kế và vận hành hệ thống số phải bảo đảm được thực hiện toàn trình trên môi trường số, hạn chế tối đa các bước xử lý thủ công, giấy tờ ngoài luồng và nhập liệu lặp lại nhằm nâng cao tính đồng bộ, minh bạch và hiệu quả hoạt động.
- Thiết kế mở, linh hoạt, hỗ trợ tích hợp và tiếp nhận công nghệ mới (AI, Blockchain, IoT, dữ liệu lớn...); bảo đảm khả năng thích ứng lâu dài và hạn chế phải thiết kế lại toàn bộ hệ thống khi mở rộng hoặc nâng cấp.
- Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chung; bảo đảm tương thích hệ thống hiện có và mới phát triển. Mọi hệ thống mới phải sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu và khai thác thống nhất với hạ tầng, nền tảng và dữ liệu đã có. Việc này tránh phân mảnh, trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư.
- Ưu tiên sử dụng chung, chuẩn hóa, kế thừa và nâng cấp hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và dịch vụ số hiện có; chỉ đầu tư, xây dựng mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật.
- Quá trình thiết kế, phát triển, triển khai và vận hành các hợp phần trong Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phải bám sát và ưu tiên ứng dụng các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số
21/2026/QĐ-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có); trong đó ưu tiên các công nghệ số chiến lược phục vụ phát triển quốc gia số như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật, chuỗi khối, công nghệ mạng di động thế hệ sau, công nghệ an ninh mạng và các công nghệ số chiến lược khác.
- Phù hợp thông lệ quốc tế; áp dụng chuẩn mở quốc tế, có lộ trình phù hợp thực tiễn Việt Nam; bảo đảm tương thích với nền tảng toàn cầu để hợp tác, kết nối quốc tế.
d) Nguyên tắc đồng bộ với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia
Việc xây dựng, phát triển, cập nhật Khung kiến trúc số của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung.
đ) Nguyên tắc dữ liệu chủ thống nhất
Dữ liệu chủ quốc gia phải được quản trị, cập nhật, đồng bộ và khai thác thống nhất trên phạm vi toàn quốc theo Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung.
Các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị phải bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, đồng bộ và khai thác dữ liệu chủ thống nhất thông qua Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, hạn chế hình thành dữ liệu phân tán, cục bộ, không đồng nhất.
e) Nguyên tắc quản trị và giám sát tuân thủ kiến trúc
- Quản trị và giám sát tuân thủ kiến trúc số: Khung kiến trúc số phải được quản lý thống nhất, cập nhật thường xuyên, bảo đảm khả năng lưu trữ, tham chiếu, theo dõi và giám sát việc triển khai trên phạm vi toàn quốc.
- Việc xây dựng, nâng cấp, mở rộng hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số phải bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức.
- Kết quả triển khai, mức độ tuân thủ kiến trúc và tình trạng vận hành các thành phần kiến trúc số phải được theo dõi, cập nhật, quản lý thống nhất thông qua Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia.
g) Nguyên tắc đồng bộ với Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia
Nguyên tắc: Bảo đảm an ninh mạng theo mô hình phòng thủ chiều sâu và bảo mật ngay từ khâu thiết kế, gồm:
- Tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi: Phòng thủ chiều sâu (Defense-in-Depth), Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric), Phòng vệ chủ động (Active Defense) trong nguyên tắc thiết kế kiến trúc theo Khung kiến trúc an ninh mạng.
- Thiết kế an toàn ngay từ đầu (Security by Design): An ninh mạng phải được lồng ghép trong toàn bộ vòng đời hệ thống từ kiến trúc, mã nguồn đến vận hành. Cách tiếp cận này giảm thiểu rủi ro, ngăn chặn lỗ hổng và tăng khả năng phòng thủ tổng thể.
- Quản trị rủi ro theo cấp độ: Áp dụng cơ chế bảo vệ an ninh mạng hệ thống thông tin theo cấp độ, bảo đảm triển khai đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, tổ chức, nghiệp vụ tương ứng.
h) Nguyên tắc về nguồn lực và đầu tư
- Các trụ cột của chuyển đổi số quốc gia: Được bảo đảm từ ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và các nguồn hợp pháp khác. Trong đó:
+ Chính phủ số: Ngân sách nhà nước là nguồn chủ yếu.
+ Kinh tế số, xã hội số: Ngân sách nhà nước là “vốn mồi”, kết hợp huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công - tư (PPP).
- Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, an ninh mạng; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác chuyển đổi số phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
- Ưu tiên đầu tư tập trung đối với hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số dùng chung trên phạm vi quốc gia, bộ, ngành và địa phương; hạn chế đầu tư phân tán, riêng lẻ, không liên thông hoặc trùng lặp chức năng, dữ liệu và hạ tầng giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.
- Ưu tiên sử dụng nền tảng số dùng chung, hạ tầng dùng chung, dữ liệu dùng chung, dịch vụ điện toán đám mây nhằm tránh đầu tư phân tán, cát cứ, trùng lặp và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
- Ưu tiên sử dụng chung, chuẩn hóa, kế thừa và nâng cấp hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và dịch vụ số hiện có; chỉ đầu tư, xây dựng mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật.
- Bảo đảm cân đối giữa chi phí đầu tư và chi phí vận hành, duy trì hoạt động ổn định, bền vững của hệ thống.
- Ưu tiên huy động các nguồn lực hợp pháp, thúc đẩy hợp tác công - tư và sự tham gia của doanh nghiệp trong phát triển, vận hành và khai thác nền tảng số, dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
- Bảo đảm phù hợp với khung pháp lý hiện hành; Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, ban hành và cập nhật các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan khi cần thiết.
3. Mô hình khái quát của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Hình 1: Mô hình khái quát của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Hình 2: Các thành phần dùng chung giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị
Các hợp phần chính của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được tổ chức, triển khai theo cùng một cấu trúc kiến trúc thống nhất gồm 04 lớp: Hạ tầng số và an ninh mạng dùng chung; Dữ liệu và nền tảng lõi; Ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; Kênh tương tác và đo lường hiệu quả. Việc áp dụng thống nhất cấu trúc 04 lớp giúp bảo đảm các khung kiến trúc số của cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ số và các cơ quan, tổ chức khác được xây dựng, phát triển phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cơ quan, tổ chức, đồng thời bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và sử dụng chung các thành phần kiến trúc trên phạm vi toàn quốc.
Ngoài 04 lớp kiến trúc nêu trên, Mô hình còn thể hiện 04 thành phần xuyên suốt nhằm bảo đảm việc thiết kế, triển khai, vận hành và giám sát Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được thực hiện thống nhất, đồng bộ, an toàn và có khả năng kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, gồm:
- Quản trị, điều phối và giám sát: Là thành phần xuyên suốt phục vụ quản lý thống nhất Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; điều phối việc sử dụng chung, kết nối, chia sẻ và khai thác hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số, dịch vụ số giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; theo dõi, giám sát tình hình triển khai, mức độ tuân thủ kiến trúc và hiệu quả vận hành các thành phần của Khung.
- Tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu kỹ thuật chung: Là thành phần xuyên suốt bảo đảm hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số được thiết kế, xây dựng, kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu và vận hành theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kỹ thuật thống nhất; bảo đảm khả năng liên thông, tương thích, an toàn, an ninh mạng và tránh phụ thuộc vào các giải pháp cục bộ, khép kín.
- Ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First): Là định hướng xuyên suốt trong thiết kế, phát triển và vận hành hệ thống số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, dịch vụ số và quy trình nghiệp vụ để hỗ trợ phân tích, dự báo, tự động hóa và ra quyết định, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản trị, giám sát, truy vết, giải trình và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời của hệ thống AI.
- Lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-Centric): Là định hướng xuyên suốt xác định dữ liệu là tài sản chiến lược và nền tảng cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; bảo đảm dữ liệu được quản trị, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng thống nhất theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu, cung cấp dịch vụ số và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Đây là lớp nền tảng vật lý và logic, cung cấp các tài nguyên cơ bản và kết nối an toàn cho toàn hệ thống chính trị, bao gồm:
* Thành phần Hạ tầng số
- Cơ sở hạ tầng Trung tâm dữ liệu quốc gia và Cơ sở hạ tầng phục vụ Nền tảng điện toán đám mây trong Trung tâm dữ liệu quốc gia do Bộ Công an chủ trì xây dựng và vận hành. Đây là hạ tầng trung tâm, phục vụ cung cấp tài nguyên tính toán, lưu trữ, sao lưu dự phòng một cách tập trung, thống nhất, hiệu năng cao và bảo đảm an toàn, an ninh ở cấp độ cao nhất cho các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hạ tầng số dùng chung phải bảo đảm năng lực tự chủ, duy trì quyền kiểm soát quốc gia đối với các hạ tầng số trọng yếu; bảo đảm khả năng vận hành liên tục, an toàn, an ninh và chủ quyền số quốc gia.
- Trung tâm tính toán hiệu năng cao của Trung tâm dữ liệu quốc gia.
- Mạng thông tin diện rộng của Đảng có độ tin cậy và bảo mật cao nhất, được định hướng phát triển thành mạng lõi dùng chung cho các kết nối và trao đổi thông tin yêu cầu độ mật, độ tin cậy cao nhất của các cơ quan trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trong không gian số và tạo ra hạ tầng truyền dẫn an toàn, đáng tin cậy cho các hoạt động chỉ đạo, điều hành cốt yếu của quốc gia.
- Mạng Truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước (Mạng TSLCD) là mạng được sử dụng trong hoạt động truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, để kết nối các cơ quan, được duy trì và phát triển để bảo đảm an ninh mạng, tách biệt với mạng Internet công cộng, phục vụ các hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp.
- Hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ do Ban Cơ yếu Chính phủ chủ quản, cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số để xác thực và bảo đảm tính pháp lý, toàn vẹn cho các văn bản, giao dịch điện tử trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
- Hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia (bao gồm Cổng kết nối dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng) do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia chủ quản; quản lý việc cung cấp các dịch vụ tin cậy; kết nối dịch vụ tin cậy với các hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật để bảo đảm giá trị pháp lý, tính xác thực, tính toàn vẹn và tính chống chối bỏ của thông điệp dữ liệu.
- Các kết nối đặc thù cho vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện địa lý đặc biệt: Sử dụng các công nghệ kết nối phù hợp (Internet vệ tinh, di động 4G/5G...) để bảo đảm kết nối ổn định.
- Thành phần hạ tầng số dùng chung khác giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị do cấp có thẩm quyền quyết định.
* Thành phần An ninh mạng
- Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia: Là nền tảng hình thành một lớp phòng thủ chủ động, tập trung ở cấp quốc gia, hoạt động theo mô hình bảo vệ biên Internet hiện đại do Việt Nam tự làm chủ, vận hành và kiểm soát. Các cơ quan nhà nước không cần đầu tư, xây dựng các giải pháp có tính năng tương tự; được bảo vệ thông qua nền tảng dùng chung, tránh trùng lặp và tiết kiệm nguồn lực. Nền tảng cung cấp các dịch vụ dùng chung cốt lõi gồm: Tường lửa ứng dụng web quốc gia; Phòng chống tấn công từ chối dịch vụ tập trung quy mô lớn; Lọc và điều phối lưu lượng thông minh; Ngăn chặn bot độc hại và bảo vệ giao diện lập trình ứng dụng; Hạ tầng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đầu cuối: Do chủ quản hệ thống thông tin đầu cuối chịu trách nhiệm triển khai.
- Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia.
- Giải pháp bảo mật cho hệ thống gửi, nhận văn bản mật đáp ứng yêu cầu liên thông giữa các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác theo phạm vi triển khai thực tế; triển khai các giải pháp bảo mật dữ liệu cho các phần mềm, ứng dụng. Việc kết nối, chia sẻ và trao đổi dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước được thực hiện trên các hạ tầng, mạng và hệ thống chuyên dùng theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng, cơ yếu và các quy định có liên quan; bảo đảm nguyên tắc tách biệt phù hợp với mức độ mật của dữ liệu, đồng thời cho phép kết nối, liên thông có kiểm soát giữa các hệ thống khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
- Thành phần an ninh mạng dùng chung khác giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị do cấp có thẩm quyền quyết định.
Thành phần an ninh mạng phải được thiết kế, triển khai và vận hành theo quy định của pháp luật về an ninh mạng, phù hợp với Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia và được xem xét trong quá trình thẩm định, phê duyệt, đầu tư, nâng cấp, kiểm tra hệ thống.
Đây là lớp nơi dữ liệu được tạo ra, lưu trữ, chia sẻ và xử lý thành tri thức. Dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) phải được chuẩn hóa, bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
* Thành phần dữ liệu
- Các CSDL quốc gia, trọng yếu, chuyên ngành dùng chung.
- Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo.
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo.
- Các dữ liệu quan trọng, cốt lõi và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành khác do cấp có thẩm quyền quyết định.
Thành phần dữ liệu phải được thiết kế và vận hành trên cơ sở tuân thủ đầy đủ pháp luật về dữ liệu, đồng thời bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung.
* Thành phần nền tảng lõi
- Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP); Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia (NDOP): Là nền tảng trung gian, đóng vai trò quan trọng cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin, CSDL của các cơ quan nhà nước, bảo đảm dữ liệu được chia sẻ thông suốt, an toàn và tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
- Nền tảng định danh và xác thực điện tử.
- Bản đồ số quốc gia và hệ thống mã bưu chính, bảo đảm định vị chính xác.
- Nền tảng chuỗi khối (blockchain) quốc gia.
- Nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo dùng chung (Nền tảng AI) và các nền tảng lõi khác do cấp có thẩm quyền quyết định. Chi tiết tại Phụ lục II của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Lớp này bao gồm các hệ thống ứng dụng, nền tảng số phục vụ các nghiệp vụ chung, xuyên suốt trong toàn hệ thống chính trị, được xây dựng trên nguyên tắc dùng chung để tránh trùng lặp, lãng phí như:
* Thành phần ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung phục vụ Chính phủ số
- Nền tảng điều hành số quốc gia: là nền tảng số do Bộ Công an chủ trì xây dựng, triển khai. Việc triển khai được thực hiện theo lộ trình, bảo đảm kế thừa tối đa các hệ thống, dữ liệu và hạ tầng công nghệ thông tin hiện có; bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động của các cơ quan và tính liên tục của dịch vụ công; bảo đảm an ninh mạng.
- Thành phần dùng chung phục vụ giải quyết thủ tục hành chính: là thành phần góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong triển khai, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và cung cấp dịch vụ công trên phạm vi toàn quốc; việc triển khai được thực hiện theo lộ trình phù hợp, kế thừa tối đa các hệ thống, dữ liệu và hạ tầng công nghệ thông tin hiện có.
- Trợ lý ảo quốc gia.
- Trục liên thông văn bản quốc gia.
- Hệ thống thư điện tử (email) công vụ thống nhất.
- Nền tảng họp trực tuyến quốc gia.
- Nền tảng quản lý cán bộ, công chức, viên chức quốc gia.
- Các nền tảng số, trợ lý ảo dùng chung quốc gia phục vụ Chính phủ số khác do cấp có thẩm quyền quyết định. Chi tiết tại Phụ lục II của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
* Thành phần ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung phục vụ Kinh tế số và Xã hội số
- Nền tảng Bình dân học vụ số.
- Nền tảng quản lý doanh nghiệp quốc gia.
- Nền tảng hợp đồng lao động điện tử.
- Sàn giao dịch việc làm quốc gia.
- Nền tảng Sổ sức khỏe điện tử.
- Các nền tảng số, trợ lý ảo dùng chung quốc gia phục vụ Kinh tế số và Xã hội số khác do cấp có thẩm quyền quyết định. Chi tiết tại Phụ lục II của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Đây là lớp giao diện, nơi người dùng (cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp) tương tác với hệ thống và là nơi hiệu quả của toàn bộ Mô hình được đo lường.
* Thành phần Kênh tương tác
- Giao diện tương tác chính: Cổng Dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng VNeID là hai kênh giao tiếp chính. Ngoài hai kênh giao tiếp chính, các địa phương căn cứ điều kiện thực tế để phát triển các kênh tiếp cận bổ trợ (điểm hỗ trợ tại cộng đồng, dịch vụ lưu động...) bảo đảm mọi người dân đều có thể tiếp cận.
- Giao diện tương tác của Nền tảng điều hành số quốc gia (Bàn làm việc số): là kênh tương tác dùng chung giữa các cơ quan nhà nước, là kênh làm việc số duy nhất cho cán bộ, công chức, viên chức khi khai thác và sử dụng các hệ thống, nền tảng và ứng dụng dùng chung phục vụ hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
- Cổng dữ liệu quốc gia.
- Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
- Thành phần kênh tương tác dùng chung khác giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị do cấp có thẩm quyền quyết định.
* Thành phần Đo lường hiệu quả
- Công cụ chỉ đạo, điều hành: Các Bảng thông tin điều hành (Dashboard) giám sát, điều hành quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương. Các dashboard này trực quan hóa dữ liệu từ ứng dụng công nghệ số, AI, hỗ trợ phân tích, dự báo, mô phỏng các kịch bản phục vụ lãnh đạo đánh giá, lựa chọn phương án điều hành, cung cấp cho lãnh đạo cái nhìn toàn cảnh, thời gian thực về tình hình, làm cơ sở cho việc ra quyết định.
- Nền tảng thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá triển khai chuyển đổi số.
- Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS).
- Bộ chỉ số đo lường kết quả (KPI): Là hệ thống các chỉ số được áp dụng thống nhất để theo dõi, giám sát và đánh giá việc triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Bộ chỉ số KPI được xây dựng trên cơ sở Nguyên tắc 1 (Quản trị dựa trên kết quả), bảo đảm khả năng định lượng, đo lường, kiểm chứng và ưu tiên thu thập tự động từ quá trình vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực.
- Thành phần đo lường hiệu quả dùng chung khác giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị do cấp có thẩm quyền quyết định.
- Hạ tầng số, hệ thống thông tin và các thành phần an ninh mạng phải tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, cơ yếu và các quy định pháp luật có liên quan.
- Hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số phải xác định yêu cầu bảo vệ an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế; có phương án quản trị rủi ro, giám sát, phát hiện, cảnh báo, lưu nhật ký, sao lưu, dự phòng, phục hồi và ứng phó sự cố; bảo đảm duy trì hoạt động liên tục đối với hệ thống quan trọng, dịch vụ thiết yếu và các thành phần dùng chung.
- Hạ tầng số và hệ thống an ninh mạng dùng chung phải đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phù hợp với các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế về an toàn vật lý, hạ tầng mạng, kết nối và an ninh mạng; bảo đảm tích hợp các yêu cầu về an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế hệ thống (Security by Design); bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, dự phòng, khôi phục dữ liệu, tính toàn vẹn, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, đồng thời đáp ứng yêu cầu mở rộng.
- Trung tâm dữ liệu quốc gia, nền tảng điện toán đám mây, Mạng truyền số liệu chuyên dùng, mạng thông tin diện rộng và các hệ thống giám sát an toàn không gian mạng phải xây dựng dựa trên các chuẩn kỹ thuật về thành phần, bảo đảm khả năng tương thích, tích hợp, quản lý tập trung, phân quyền giám sát và đáp ứng yêu cầu về cấp độ, bảo đảm an ninh mạng và triển khai an ninh mạng theo mô hình 4 lớp, bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật. Đối với các hệ thống thông tin quan trọng, hệ thống số, nền tảng số và cơ sở dữ liệu có phạm vi ảnh hưởng rộng hoặc khai thác dữ liệu quy mô lớn, cần thiết lập cơ chế phối hợp, giám sát, chia sẻ thông tin và cảnh báo phù hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, phòng ngừa, ứng phó và xử lý các nguy cơ, sự cố an ninh mạng.
- Việc xây dựng, triển khai mới trung tâm dữ liệu của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị chỉ thực hiện khi thật sự cần thiết. Ưu tiên sử dụng hạ tầng và nền tảng điện toán đám mây tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Dữ liệu.
- Các hệ thống chứng thực chữ ký số, truyền dẫn chuyên dụng bắt buộc tuân thủ chuẩn xác thực, mã hóa, xác thực đa nhân tố, phân loại dữ liệu, phân quyền, kiểm soát truy cập và tích hợp giải pháp bảo mật tiên tiến trên môi trường số, đồng thời phù hợp xu hướng chuẩn hóa quốc tế theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Các kết nối đặc thù phục vụ vùng sâu, vùng xa cần được xây dựng trên nền tảng công nghệ tiên tiến, bảo đảm tính ổn định, bảo mật và độ phủ rộng phù hợp với đặc thù địa lý và điều kiện thực tiễn.
- Đối với các hệ thống thông tin cấp độ 4 và 5, bắt buộc phải có giải pháp sao lưu, dự phòng và phục hồi thảm họa, bảo đảm khả năng duy trì hoạt động liên tục và an toàn dữ liệu theo chuẩn mực quốc tế theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Các thành phần hạ tầng số được triển khai tại cấp xã, bao gồm mạng nội bộ, kết nối Internet, thiết bị đầu cuối và các thành phần bổ sung theo điều kiện địa bàn như Wi-Fi công cộng, thiết bị IoT, hệ thống truyền thanh, camera, phải đáp ứng yêu cầu quản lý tập trung, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư.
- Các thành phần hạ tầng số triển khai tại cấp xã phải bảo đảm khả năng quản lý tập trung, kết nối đồng bộ, an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
- Tuân thủ Luật Dữ liệu, Luật Giao dịch điện tử, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế phù hợp về dữ liệu theo quy định của pháp luật.
- Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các cơ sở dữ liệu khác của cơ quan nhà nước được lưu trữ, quản lý theo quy định của pháp luật, bảo đảm đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và tính liên tục trong hoạt động. Đối với dữ liệu thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu và các dữ liệu có yêu cầu đặc thù khác, việc lưu trữ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Dữ liệu và nền tảng lõi phải tuân thủ Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu theo quy định của pháp luật, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
- Việc quản lý, chia sẻ, điều phối và khai thác dữ liệu phải bảo đảm phân loại dữ liệu, kiểm soát truy cập, phân quyền khai thác, lưu vết, truy vết, giám sát và kiểm toán dữ liệu; bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quan trọng, dữ liệu cốt lõi và bí mật nhà nước trong toàn bộ vòng đời dữ liệu.
- Hệ thống phải hỗ trợ cơ chế phân loại dữ liệu, phân quyền truy cập, lưu nhật ký truy cập, truy vết khai thác dữ liệu, kiểm soát chia sẻ dữ liệu, ẩn danh hóa hoặc giả danh hóa dữ liệu và quản trị vòng đời dữ liệu theo quy định.
- Các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nền tảng phân tích dữ liệu lớn và hệ thống trí tuệ nhân tạo đều phải áp dụng chung từ điển dữ liệu, tiêu chuẩn mã hóa, chuẩn hóa danh mục phục vụ tích hợp, đồng bộ, trao đổi xuyên suốt với Trung tâm dữ liệu quốc gia, các nền tảng tích hợp chia sẻ; bảo đảm tuân thủ nguyên tắc “dữ liệu nhập một lần - dùng nhiều nơi”.
- Các nền tảng chia sẻ dữ liệu, nền tảng định danh và xác thực điện tử yêu cầu đồng bộ tiêu chuẩn về xác thực, quản lý danh tính số, lưu trữ, kiểm chứng, API mở, bảo đảm khả năng tương tác cả nội bộ và đa nền tảng bên ngoài, sẵn sàng tích hợp công nghệ mới (AI, Blockchain, IoT…).
- Nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo dùng chung được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ các tiêu chuẩn về hiệu năng tính toán, quản trị mô hình AI nền tảng, bảo đảm chất lượng và bảo mật dữ liệu, đồng thời bảo đảm việc khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động của nền tảng tuân thủ các quy định về quản trị dữ liệu, phân loại dữ liệu, kiểm soát truy cập và bảo vệ dữ liệu cá nhân, phù hợp với các khung quản lý rủi ro AI theo tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam.
- Nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo dùng chung cần hỗ trợ các năng lực phát triển, huấn luyện, tinh chỉnh, triển khai, giám sát, đánh giá và quản trị mô hình trí tuệ nhân tạo; tích hợp, quản lý, chia sẻ, khai thác và tái sử dụng các bộ tri thức, mô hình AI chuyên ngành, bộ dữ liệu và tài nguyên AI dùng chung thông qua các giao diện kết nối chuẩn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền nhằm hạn chế đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả khai thác các kết quả đã được phát triển; đồng thời bảo đảm khả năng tích hợp với các hệ thống số thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API), kiểm soát truy cập, phân quyền, lưu vết, giám sát và phát hiện sai lệch mô hình, kiểm soát chất lượng dữ liệu huấn luyện, phòng ngừa nguy cơ lộ, lọt thông tin nhạy cảm, dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước, đáp ứng các yêu cầu về quản trị, an toàn, an ninh theo quy định của pháp luật.
- Việc xây dựng, phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo và nền tảng trí tuệ nhân tạo của các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ưu tiên khai thác hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia, hạ tầng tính toán hiệu năng cao và nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo dùng chung; chỉ đầu tư, xây dựng mới khi chưa có thành phần dùng chung hoặc việc kế thừa, nâng cấp không đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật, an ninh mạng hoặc yêu cầu đặc thù theo quy định của pháp luật.
- Nền tảng và hệ thống trí tuệ nhân tạo phải có cơ chế quản trị toàn bộ vòng đời; kiểm soát dữ liệu huấn luyện, dữ liệu đầu vào và quyền truy cập; hỗ trợ giám sát, lưu vết, truy vết, kiểm toán, đánh giá rủi ro và phát hiện sai lệch mô hình; bảo đảm tính minh bạch, khả năng giải trình, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư theo quy định của pháp luật.
- Các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và nền tảng số trước khi thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu thông qua các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia phải bảo đảm chuẩn hóa dữ liệu, ánh xạ dữ liệu, tuân thủ Từ điển dữ liệu dùng chung, Danh mục dữ liệu dùng chung quốc gia và các quy định của Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia.
- Các ứng dụng, hệ thống và nền tảng nghiệp vụ dùng chung phải tuân thủ tiêu chuẩn giao diện, quy trình nghiệp vụ mẫu, API chuẩn hóa và yêu cầu tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống, nền tảng lõi; bảo đảm khả năng tái sử dụng mô-đun, dịch vụ, mã nguồn phù hợp và khả năng kết nối, liên thông, mở rộng.
- Các hệ thống, ứng dụng nghiệp vụ phải được thiết kế theo kiến trúc mở, hướng dịch vụ, mô-đun hóa, bảo đảm mô hình “một cửa số”, chuẩn hóa biểu mẫu, giảm thủ tục giấy tờ, đồng bộ quy trình quản trị và dữ liệu chuyển đổi số toàn hệ thống.
- Các hệ thống thông tin, nền tảng số và ứng dụng chuyên ngành phải được thiết kế theo kiến trúc mở, mô-đun hóa, bảo đảm khả năng giám sát, theo dõi, truy vết, tái sử dụng, kết nối và liên thông theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy định chuyên ngành.
- Các ứng dụng phải bảo đảm tính bảo mật, kiểm soát truy cập và ghi nhận đầy đủ hoạt động theo quy chuẩn quản lý an ninh mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát, kiểm tra và kiểm toán hệ thống.
- Các ứng dụng phải bảo đảm khả năng kiểm soát mục đích sử dụng dữ liệu, lưu vết truy cập và giám sát khai thác dữ liệu cá nhân.
- Các kênh tương tác chính (Cổng DVCQG, VNeID, Dashboard, điểm hỗ trợ cộng đồng...) phải tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia về giao diện người dùng, hỗ trợ đa ngôn ngữ (bao gồm tiếng dân tộc), đa nền tảng (web, mobile) và bảo đảm khả năng tiếp cận cho nhóm yếu thế và tuân thủ các quy định bảo mật về phiên làm việc, xác thực định danh và lưu vết truy cập.
- Các dashboard điều hành, hệ thống đo lường KPI phải áp dụng thống nhất tiêu chí, phương pháp và cấu trúc dữ liệu phục vụ đo lường hiệu quả (trích xuất tự động dữ liệu thời gian thực, hoặc trích xuất dữ liệu theo lựa chọn thời gian), trực quan hóa dữ liệu thống nhất, API mở cho các kênh tích hợp chuyên sâu, đồng thời chuẩn hóa bảo mật, xác thực quyền truy cập. Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
- Tất cả các kênh tương tác phải tích hợp các tiêu chuẩn về bảo mật phiên, xác thực định danh, lưu vết truy cập, và khả năng tương tác mở rộng với hệ sinh thái dịch vụ quốc gia, nhằm tăng tính minh bạch, hiệu quả quản trị, bảo đảm trải nghiệm liền mạch, cá nhân hóa cho người dùng cuối.
- Thiết lập cơ chế thường xuyên rà soát và cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm phù hợp với sự phát triển công nghệ mới và tiêu chuẩn quốc tế. Ban hành các hướng dẫn, chỉ dẫn kỹ thuật cụ thể kèm theo Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số để bảo đảm sự nhất quán trong quá trình triển khai của các đơn vị. Yêu cầu các cơ quan, tổ chức khi xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn đã ban hành, đồng thời bảo đảm khả năng tương thích với các hệ thống hiện có. Việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn góp phần bảo đảm khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu thông suốt giữa các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số.
- Các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc phải bảo đảm khả năng ứng dụng và hội nhập với các công nghệ chiến lược đã được Chính phủ xác định tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
- Các yêu cầu tại Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được quy định ở mức nguyên tắc, định hướng. Các tiêu chí, tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật cụ thể sẽ được ban hành tại các văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của cơ quan quản lý chuyên ngành, bảo đảm tính nhất quán, đồng bộ và khả năng cập nhật theo sự phát triển công nghệ và thông lệ quốc tế.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan Trung ương điều phối triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện các khung kiến trúc số trong hệ thống chính trị.
- Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công an trong việc hướng dẫn kỹ thuật, thẩm định và giám sát việc tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Trong đó, Bộ Công an chủ trì các nội dung liên quan đến dữ liệu và an ninh mạng, bao gồm Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia. Hai Bộ phối hợp bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số với các khung kiến trúc, khung quản trị và công cụ chuyên ngành trong quá trình xây dựng, phát triển, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số.
- Trường hợp phát sinh vướng mắc, chồng chéo hoặc chưa thống nhất trong quá trình triển khai các nội dung của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan rà soát, thống nhất phương án xử lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS) phục vụ công bố, cập nhật, quản lý, giám sát và đánh giá việc triển khai Khung kiến trúc số trong phạm vi toàn quốc.
- Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số định kỳ hằng năm và khi được yêu cầu.
- Việc theo dõi, giám sát và đánh giá triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được thực hiện ưu tiên trên cơ sở dữ liệu số phát sinh từ quá trình vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số và các nền tảng thống kê, đo lường, giám sát dùng chung; hạn chế yêu cầu tổng hợp, báo cáo thủ công.
2. Ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an xây dựng, ban hành Khung tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật chung (Khung tiêu chuẩn) về hạ tầng số và an ninh mạng dùng chung, dữ liệu và nền tảng lõi, ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung, kênh tương tác và đo lường hiệu quả, bảo đảm liên thông, tích hợp và an ninh mạng trên phạm vi toàn quốc.
- Các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, căn cứ chức năng quản lý nhà nước, có trách nhiệm ban hành hoặc trình ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ngành, lĩnh vực. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành phải phù hợp với Khung tiêu chuẩn do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công an xây dựng, ban hành.
- Khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn mở và tiêu chuẩn quốc tế để thúc đẩy hội nhập.
- Kết quả triển khai các cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát theo quy định của pháp luật là một trong những căn cứ để Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, rà soát, cập nhật Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và các hướng dẫn triển khai khi cần thiết.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì theo dõi, tổng hợp, cập nhật và công bố các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số trên Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS); bảo đảm các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan khai thác, áp dụng thống nhất trong quá trình xây dựng, cập nhật và triển khai Khung kiến trúc số.
3. Thẩm định, đánh giá tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
a) Mục đích
Thẩm định, đánh giá tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số nhằm bảo đảm các dự án, nhiệm vụ chuyển đổi số được triển khai thống nhất, đồng bộ; phát hiện, ngăn chặn kịp thời các sai lệch về kiến trúc, thiết kế kỹ thuật; tránh trùng lặp, lãng phí; bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu và sử dụng hiệu quả các nền tảng số, hạ tầng số và cơ sở dữ liệu dùng chung.
b) Nguyên tắc thực hiện
- Việc xây dựng, phát triển, sử dụng chung hạ tầng số và việc xây dựng, phát triển, kết nối, tích hợp, chia sẻ giữa các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan trong hệ thống chính trị phải tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia. Đối với hoạt động đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ cho chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước, việc thẩm định, đánh giá tuân thủ khung kiến trúc thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 37 và các quy định về tuân thủ Khung kiến trúc tại Chương VI Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2026.
- Việc quản lý, đánh giá và giám sát tuân thủ khung kiến trúc số được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, bao gồm các giai đoạn: đề xuất, thiết kế, triển khai, vận hành, nâng cấp, mở rộng cho đến khi kết thúc sử dụng.
- Không đầu tư độc lập hạ tầng số hoặc các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số trùng lặp với các thành phần dùng chung đã được triển khai ở cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, trừ trường hợp đặc thù theo quy định của cấp có thẩm quyền.
- Cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư chịu trách nhiệm về tính tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức.
c) Giám sát thực hiện
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hướng dẫn phương pháp đánh giá, giám sát mức độ tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số trên cơ sở Bộ chỉ số đo lường kết quả (KPI) triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
- Việc giám sát, đánh giá tuân thủ được thực hiện trên môi trường số thông qua Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS), nhằm cập nhật, lưu trữ, quản lý phiên bản, tham chiếu Khung kiến trúc số; theo dõi tình trạng triển khai và mức độ tuân thủ kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức trên phạm vi toàn quốc.
4. Bộ chỉ số đo lường kết quả (KPI) triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
- Bộ chỉ số đo lường kết quả (KPI) được áp dụng thống nhất để theo dõi, giám sát và đánh giá việc triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
- Hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số thuộc phạm vi theo dõi phải cung cấp dữ liệu cần thiết phục vụ đo lường các chỉ số được giao, theo định dạng, tần suất và phạm vi do cơ quan có thẩm quyền quy định; ưu tiên kết nối, thu thập tự động.
- Việc xây dựng các chỉ số KPI phải bảo đảm phản ánh đồng thời mức độ tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và kết quả thực chất của việc triển khai theo Nguyên tắc 1 (Quản trị dựa trên kết quả) của Quyết định này, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, cụ thể gồm:
+ Tuân thủ kiến trúc (bao gồm mức độ tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và các Khung kiến trúc số của cơ quan, tổ chức);
+ Liên thông và tích hợp (bao gồm mức độ kết nối, chia sẻ, đồng bộ và khai thác dữ liệu giữa các hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; mức độ tuân thủ Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung trong quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu);
+ Quản trị và vận hành (bao gồm mức độ cập nhật, duy trì, giám sát và tổ chức thực hiện các Khung kiến trúc số);
+ Kỹ thuật và an toàn (bao gồm mức độ đáp ứng các yêu cầu về hiệu năng, tính sẵn sàng, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu);
+ Kết quả triển khai (bao gồm mức độ hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu và các kết quả thực chất theo Nguyên tắc 1 (Quản trị dựa trên kết quả) của Quyết định này).
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Bộ Công an và các cơ quan liên quan ban hành chi tiết Bộ chỉ số KPI, phương pháp đo lường, tiêu chí đánh giá và cơ chế báo cáo; bảo đảm các chỉ số có khả năng định lượng, đo lường, kiểm chứng và phù hợp với Nguyên tắc 1 (Quản trị dựa trên kết quả) của Quyết định này và phù hợp với từng giai đoạn triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
- Việc báo cáo, đo lường, giám sát và đánh giá mức độ tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được ưu tiên thực hiện trên môi trường số, thông qua Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS) và trên cơ sở dữ liệu phát sinh từ quá trình vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số; hạn chế tối đa việc tổng hợp, báo cáo thủ công.
