Luật Xuất bản sửa đổi 2026 số 17/2026/QH16
| QUỐC HỘI Luật số: 17/2026/QH16 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XUẤT BẢN
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 112/2025/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 như sau:
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:
1. Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; đồng thời là ngành kinh tế - công nghệ, bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa và hạ tầng tri thức quốc gia.
2. Hoạt động xuất bản nhằm tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phổ biến, giới thiệu tri thức, nâng cao dân trí; giữ gìn tiếng nói, chữ viết; bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa, giá trị con người Việt Nam; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nâng cao vị thế văn hóa dân tộc; góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và chủ quyền quốc gia.
3. Đảng và Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng và kiến tạo phát triển hoạt động xuất bản, xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, thúc đẩy hợp tác công tư, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, khuyến khích, thu hút, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển hoạt động xuất bản, phát triển văn hóa đọc.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản có trách nhiệm tuân thủ pháp luật; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; thực hiện chính sách của Nhà nước, chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp; tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
1. Xuất bản là quá trình do nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản thực hiện nhằm tạo thành bản mẫu để in xuất bản phẩm hoặc tạo lập xuất bản phẩm điện tử, bao gồm các công đoạn sau đây:
2. Nhà xuất bản là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật này, có chức năng thực hiện việc xuất bản xuất bản phẩm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung, chất lượng và tính hợp pháp của xuất bản phẩm do mình xuất bản.
3. Bản thảo là bản viết tay, đánh máy hoặc dữ liệu số của một tác phẩm, tài liệu để xuất bản.
4. Bản mẫu là bản hoàn chỉnh của tác phẩm, tài liệu sau khi được biên tập, được phê duyệt bằng quyết định xuất bản và làm căn cứ để in xuất bản phẩm hoặc tạo lập xuất bản phẩm điện tử.
5. Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản thông qua nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản tại Việt Nam hoặc được nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định của Luật này; được thể hiện bằng ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh hoặc kết hợp các hình thức này, bao gồm:
6. Lưu chiểu là việc tiếp nhận và lưu giữ xuất bản phẩm in hoặc tệp điện tử của xuất bản phẩm điện tử để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước.
7. In xuất bản phẩm là việc sử dụng thiết bị trong các công đoạn chế bản, in và gia công sau in để tạo ra xuất bản phẩm từ bản mẫu.
8. Cơ sở in xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở in) là tổ chức, đơn vị thực hiện toàn bộ hoặc từng công đoạn chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm.
9. Phát hành xuất bản phẩm là việc đưa xuất bản phẩm đến người sử dụng theo một hoặc nhiều hình thức bán, cho thuê, xuất khẩu, nhập khẩu, tham gia hội chợ, phân phối qua đại lý, ký gửi hoặc hình thức khác nhằm mục đích kinh doanh (sau đây gọi là kinh doanh phát hành xuất bản phẩm); phân phát, tặng cho, cho mượn, triển lãm, lưu hành nội bộ, viện trợ, tặng kèm không thu tiền và các hình thức khác không nhằm mục đích kinh doanh (sau đây gọi là phát hành xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh).
10. Cơ sở kinh doanh phát hành xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở phát hành) là tổ chức, đơn vị thực hiện một hoặc nhiều hình thức kinh doanh xuất bản phẩm quy định tại khoản 9 Điều này.
11. Cơ sở cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm là tổ chức, đơn vị cung cấp nền tảng số theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử để kết nối hoặc hỗ trợ giao dịch giữa cơ sở phát hành, cá nhân kinh doanh xuất bản phẩm với người sử dụng dịch vụ.
12. Cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở nhập khẩu) là tổ chức, đơn vị trực tiếp thực hiện nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh.
13. Người đứng đầu cơ sở in, cơ sở phát hành là người đại diện theo pháp luật và trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở.
14. Biên tập viên là người làm công tác biên tập tại nhà xuất bản.
15. Sản phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng là tác phẩm, tài liệu của tổ chức, cá nhân tạo lập có hình thức thể hiện tương tự xuất bản phẩm điện tử quy định tại điểm b khoản 5 Điều này để phổ biến đến công chúng mà không thực hiện xuất bản, phát hành, nhập khẩu theo quy định của Luật này.
Sản phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng không bao gồm sản phẩm báo chí, tác phẩm điện ảnh, sản phẩm quảng cáo, chương trình phát thanh, truyền hình và các loại thông tin khác theo quy định của pháp luật.
16. In nối bản trái phép xuất bản phẩm là hành vi sử dụng thiết bị chế bản, in, gia công sau in để in thêm xuất bản phẩm vượt quá số lượng được phép theo văn bản xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản, quyết định xuất bản, giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, giấy phép in xuất khẩu theo quy định của Luật này.
17. In lậu xuất bản phẩm là hành vi sử dụng thiết bị chế bản, in, gia công sau in để in xuất bản phẩm đã được xuất bản hợp pháp khi không có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 16 Điều này hoặc không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
18. In giả xuất bản phẩm là hành vi sử dụng bản thảo tác phẩm hoặc tài liệu để thực hiện một hoặc các công đoạn chế bản, in, gia công sau in, tạo ra sản phẩm có hình thức và nội dung gây nhầm lẫn là xuất bản phẩm theo quy định của Luật này.”.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:
1. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản bao gồm:
2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền.”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:
1. Miễn, giảm thuế, tiền thuê đất, thuê bất động sản là tài sản công đối với nhà xuất bản theo quy định của pháp luật.
2. Xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm.
3. Đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước, chuyển đổi số và phát triển thị trường xuất bản; đầu tư phát triển xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan; ưu tiên, bố trí quỹ đất cho hoạt động xuất bản.
4. Đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu để xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm và mua, hỗ trợ chi phí vận chuyển xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, thông tin đối ngoại, ứng phó tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ trọng yếu khác của đất nước; xuất bản phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số (tiếng Việt và tiếng dân tộc), miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xuất bản phẩm dành cho trẻ em, người khuyết tật nhìn và các đối tượng yếu thế khác theo quy định của pháp luật.
5. Ưu đãi thuế, tín dụng đối với cơ sở in đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thiết bị, ứng dụng công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn; đối với cơ sở phát hành và doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng số, mạng lưới phân phối xuất bản phẩm phục vụ các đối tượng, địa bàn quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Hỗ trợ nhà xuất bản mua bản quyền, dịch thuật, biên soạn, xuất bản, phát hành xuất bản phẩm có giá trị phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế; hỗ trợ xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao khả năng tiếp cận, khai thác và sử dụng xuất bản phẩm điện tử; hỗ trợ xúc tiến thương mại, truyền thông, quảng bá xuất bản phẩm trong nước và ra nước ngoài.
7. Đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm; thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển hoạt động xuất bản; khuyến khích liên kết giữa cơ sở đào tạo với nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành trong đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực.
8. Khuyến khích phát triển không gian đọc, thư viện, tủ sách và các mô hình đọc trong cộng đồng, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhà trường; ứng dụng công nghệ số
phục vụ tiếp cận xuất bản phẩm, huy động các nguồn lực để đầu tư, tài trợ phát triển văn hóa đọc theo quy định của pháp luật; tôn vinh, khen thưởng tổ chức, đơn vị, cá nhân có đóng góp trong hoạt động xuất bản và phát triển văn hóa đọc; trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị.
9. Thu hút các nguồn lực xã hội tham gia hoạt động xuất bản; tăng cường hợp tác đầu tư theo phương thức đối tác công tư giữa nhà xuất bản với cơ sở in, cơ sở phát hành và các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
10. Phát huy vai trò của hội, hiệp hội trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành, thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật; góp ý, phản biện chính sách trong xây dựng pháp luật; phát triển văn hóa đọc, phát triển thị trường xuất bản và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:
“2. Nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:
1. Cơ quan, tổ chức sau đây được thành lập nhà xuất bản (sau đây gọi là cơ quan chủ quản nhà xuất bản):
2. Nhà xuất bản tổ chức và hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
1. Trước khi thành lập nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 12 của Luật này lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản thuộc cơ quan, tổ chức mình.
2. Cơ quan chủ quản nhà xuất bản đã được cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản phải đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp lại giấy phép thành lập nhà xuất bản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
3. Nhà xuất bản bị đình chỉ hoạt động xuất bản có thời hạn khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
4. Giấy phép thành lập nhà xuất bản bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
5. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép thành lập; trình tự, thủ tục, thời hạn đình chỉ hoạt động xuất bản của nhà xuất bản.”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 16 như sau:
“2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản.
Việc bổ nhiệm đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định của Chính phủ.
3. Định hướng hoạt động của nhà xuất bản; phê duyệt kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 của Luật này.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:
1. Tiêu chuẩn đối với tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc được quy định như sau:
2. Tiêu chuẩn đối với tổng biên tập, phó tổng biên tập được quy định như sau:
3. Đối với nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, mà có chức danh chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty thì chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty đồng thời là tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản theo quy định của Luật này.
Trường hợp cần bố trí chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty không đồng thời là tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản thì cơ quan chủ quản nhà xuất bản báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền trước khi quyết định.
4. Người đứng đầu cơ quan chủ quản nhà xuất bản không được kiêm giữ chức vụ tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản; lãnh đạo nhà xuất bản này không được kiêm giữ chức vụ lãnh đạo nhà xuất bản khác, trừ trường hợp có quy định khác của cơ quan có thẩm quyền.
5. Trường hợp nhà xuất bản được thành lập theo quy định của Luật này hoặc được sắp xếp, tổ chức lại mà có chức năng xuất bản tạp chí thì tổng giám đốc hoặc giám đốc nhà xuất bản phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về báo chí và đồng thời là tổng biên tập tạp chí.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 20 như sau:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp chứng chỉ hành nghề biên tập cho người thực hiện công tác biên tập, có đủ tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 19 của Luật này; trường hợp không cấp chứng chỉ phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
2. Chứng chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
3. Biên tập viên có chứng chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi thì sau 02 năm mới được xét cấp lại, trừ trường hợp biên tập viên bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội khác rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
4. Biên tập viên được cấp lại chứng chỉ hành nghề biên tập khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
5. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề biên tập.”.
12. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
13. Sửa đổi, bổ sung Điều 22 như sau:
1. Trước khi xuất bản tác phẩm, tài liệu hoặc tái bản xuất bản phẩm, nhà xuất bản phải đăng ký kế hoạch xuất bản với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nội dung đăng ký kế hoạch xuất bản phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản và định hướng của cơ quan chủ quản nhà xuất bản quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật này.
2. Đối với tác phẩm, tài liệu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 của Luật này, trước khi đăng ký kế hoạch xuất bản, nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định bản thảo và gửi kèm kế hoạch xuất bản trình cơ quan chủ quản nhà xuất bản.
3. Cơ quan chủ quản nhà xuất bản có trách nhiệm xem xét, đánh giá kết quả thẩm định bản thảo do nhà xuất bản thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này, bảo đảm phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, định hướng hoạt động của nhà xuất bản và phê duyệt kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản. Văn bản xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản ra quyết định xuất bản và có giá trị đến hết ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận đăng ký.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
14. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:
1. Việc liên kết xuất bản được quy định như sau:
2. Việc liên kết in xuất bản phẩm; liên kết phát hành xuất bản phẩm, cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm được quy định như sau:
3. Việc liên kết phát triển hệ sinh thái xuất bản được quy định như sau:
4. Hoạt động liên kết quy định tại Điều này phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:
1. Tác phẩm, tài liệu có nội dung về lịch sử cách mạng, chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh tụ, lãnh đạo đất nước, anh hùng dân tộc thuộc danh mục theo quy định của Chính phủ thì nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định bản thảo trước khi đăng ký kế hoạch xuất bản.
2. Tác phẩm, tài liệu sau đây nếu nội dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này thì nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi đăng ký kế hoạch xuất bản để tái bản:
3. Việc thẩm định tác phẩm, tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn theo tính chất, nội dung của bản thảo; bảo đảm xem xét đầy đủ các vấn đề cần thẩm định, có căn cứ đánh giá và kết luận rõ ràng làm cơ sở cho việc đăng ký kế hoạch xuất bản.”.
16. Sửa đổi, bổ sung Điều 25 như sau:
1. Cơ quan, tổ chức xuất bản tài liệu không kinh doanh sau đây nếu không thực hiện thông qua nhà xuất bản thì phải có giấy phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan, tổ chức đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này:
2. Cơ quan, tổ chức xuất bản tài liệu không kinh doanh phải nộp phí thẩm định nội dung tài liệu xuất bản phẩm không kinh doanh theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh có thời hạn đến hết ngày 31 tháng 12 của năm được cấp.
3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và cấp tỉnh khi xuất bản các tài liệu không kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này có nội dung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì không phải có giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều này và không phải nộp phí thẩm định nội dung tài liệu xuất bản phẩm không kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều này, nhưng phải ban hành quyết định xuất bản, lưu giữ bản mẫu tài liệu được xuất bản ít nhất 24 tháng kể từ thời điểm ban hành quyết định xuất bản và chịu trách nhiệm về nội dung tài liệu đó.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:
1. Thông tin ghi trên xuất bản phẩm phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
2. Chính phủ quy định thông tin ghi trên xuất bản phẩm.”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:
1. Nộp lưu chiểu là việc nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản chuyển xuất bản phẩm hoặc tệp xuất bản phẩm điện tử đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này để phục vụ công tác quản lý nhà nước.
2. Việc nộp xuất bản phẩm lưu chiểu được thực hiện như sau:
3. Xuất bản phẩm được nộp lưu chiểu theo các phương thức sau đây:
4. Hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành nộp lưu chiểu, nhà xuất bản được quyết định phát hành xuất bản phẩm trong thời hạn 12 tháng; trường hợp quá thời hạn 12 tháng mà không quyết định phát hành xuất bản phẩm thì phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhận lưu chiểu.
Đối với xuất bản phẩm thuộc danh mục quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này thì chỉ được quyết định phát hành sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm tổ chức quản lý xuất bản phẩm lưu chiểu và thực hiện theo quy định sau đây:
6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đọc, kiểm tra tài liệu không kinh doanh nộp lưu chiểu thuộc thẩm quyền cấp giấy phép và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
7. Nhà xuất bản có trách nhiệm nộp xuất bản phẩm và tệp xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam.
8. Chính phủ quy định chi tiết số lượng, thời hạn lưu giữ xuất bản phẩm nộp lưu chiểu, thời hạn cho ý kiến trước khi phát hành đối với xuất bản phẩm thuộc danh mục quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này và việc nộp xuất bản phẩm, tệp xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam.
9. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế đọc, kiểm tra, thẩm định nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thù lao đối với người đọc, kiểm tra, thẩm định nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu.”.
19. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 như sau:
1. Hoạt động in xuất bản phẩm gồm các công đoạn quy định tại khoản 7 Điều 4 của Luật này được quy định như sau:
2. Cơ sở in hoạt động theo các loại hình sau đây:
3. Điều kiện để cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được quy định như sau:
4. Thẩm quyền cấp, cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được quy định như sau:
5. Giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được cấp lại khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
6. Giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
7. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.”.
20. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:
1. Cơ sở in được thực hiện chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm theo một trong các trường hợp sau đây:
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 34 như sau:
1. Cơ sở in được chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm để xuất khẩu 100% theo đơn đặt hàng của tổ chức, cá nhân nước ngoài sau khi có giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Các trường hợp in xuất khẩu xuất bản phẩm bao gồm:
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép in xuất khẩu xuất bản phẩm cho cơ sở in có giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm quy định tại Điều 32 của Luật này trên địa bàn.
Trường hợp xuất bản phẩm in xuất khẩu có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này phải tổ chức thẩm định để xem xét, quyết định việc cấp giấy phép và phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do nếu không cấp giấy phép.
4. Cơ sở in chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc in đúng nội dung, hình thức xuất bản phẩm đã được cấp giấy phép in xuất khẩu và không phải thông báo hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm theo quy định tại Điều 36 của Luật này.
5. Xuất bản phẩm in xuất khẩu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài phải xuất khẩu 100%; trường hợp phát hành, sử dụng tại Việt Nam thì thực hiện nhập khẩu theo quy định tại Điều 38, Điều 39 hoặc theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
6. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đặt in xuất khẩu xuất bản phẩm chịu trách nhiệm về bản quyền đối với xuất bản phẩm đặt in xuất khẩu.
7. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.”.
22. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:
1. Cơ sở phát hành hoạt động theo các loại hình sau đây:
2. Cơ sở phát hành và cá nhân phát hành xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh phải đáp ứng các yêu cầu sau đây trong quá trình hoạt động, trừ trường hợp nhà xuất bản tự phát hành xuất bản phẩm do mình xuất bản:
3. Tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh có trách nhiệm sau đây:
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
23. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
1. Cơ sở nhập khẩu hoạt động theo các loại hình sau đây:
2. Cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
3. Trước khi hoạt động, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
4. Sau khi hoàn thành việc thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều này, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm được kinh doanh phát hành xuất bản phẩm do mình nhập khẩu theo quy định tại Điều 36 của Luật này.
5. Trong quá trình hoạt động, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải duy trì đầy đủ các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều này.
6. Trường hợp thay đổi nội dung thông tin trong thông báo hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải gửi thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để cập nhật thông tin vào hệ thống dữ liệu quản lý.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
24. Sửa đổi, bổ sung Điều 39 như sau:
1. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải do cơ sở nhập khẩu hoặc cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này thực hiện.
2. Trước khi thực hiện nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải thông báo danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Sau khi thực hiện việc thông báo, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm được làm thủ tục nhập khẩu xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật về hải quan, trừ trường hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu không thực hiện thủ tục nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm có trách nhiệm thẩm định nội dung xuất bản phẩm và thông báo kết quả thẩm định, thời điểm dự kiến đưa xuất bản phẩm vào kinh doanh với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Sau khi thực hiện việc thẩm định và thông báo kết quả thẩm định, cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm được đưa xuất bản phẩm vào kinh doanh, trừ trường hợp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu tạm dừng kinh doanh xuất bản phẩm nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Đối với xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản yêu cầu cơ sở nhập khẩu, cá nhân kinh doanh xuất bản phẩm nhập khẩu không thực hiện thủ tục nhập khẩu hoặc tạm dừng kinh doanh xuất bản phẩm nhập khẩu và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc tạm nhập, tái xuất xuất bản phẩm thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan và phải thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
25. Sửa đổi, bổ sung Điều 40 như sau:
1. Cơ sở phát hành và cá nhân phát hành xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh có trách nhiệm sau đây:
2. Cơ sở nhập khẩu và cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm nhằm mục đích kinh doanh có trách nhiệm sau đây:
26. Sửa đổi, bổ sung Điều 42 như sau:
1. Xuất bản phẩm không kinh doanh được nhập khẩu trong các trường hợp sau đây:
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm thủ tục theo quy định của pháp luật về hải quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm do mình nhập khẩu.
3. Xuất bản phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được kinh doanh dưới mọi hình thức.
4. Xuất bản phẩm quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất; trường hợp không tái xuất phải chuyển giao cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Chính phủ.
Trường hợp xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh sau khi sử dụng, tặng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân và trường hợp xuất bản phẩm nhập khẩu gửi qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát có giá trị lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế thì thực hiện theo quy định tại Điều 39 của Luật này.”.
27. Sửa đổi, bổ sung Điều 44 như sau:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài trước khi tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm tại Việt Nam phải thực hiện thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức triển lãm, hội chợ.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia triển lãm, hội chợ mà thực hiện hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm phải đáp ứng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
28. Sửa đổi, bổ sung tên Chương V như sau:
29. Sửa đổi, bổ sung Điều 45 như sau:
1. Nhà xuất bản thực hiện xuất bản điện tử khi có đủ các điều kiện sau đây:
2. Cơ sở phát hành, cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử ngoài việc tuân thủ các quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 36 của Luật này phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
3. Cơ quan, tổ chức xuất bản và phát hành tài liệu không kinh doanh là xuất bản phẩm điện tử phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
4. Cơ sở cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm phải tuân thủ các yêu cầu sau đây:
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này.
6. Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện, việc đăng ký đối với hoạt động xuất bản xuất bản phẩm điện tử; yêu cầu, việc thông báo đối với hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử; yêu cầu đối với cơ sở cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm quy định tại Điều này.”.
30. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 46 như sau:
“1. Tác phẩm, tài liệu xuất bản lần đầu theo phương thức xuất bản điện tử phải được xuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc do cơ quan, tổ chức thực hiện xuất bản theo quy định tại Điều 25 của Luật này.”.
31. Sửa đổi, bổ sung Điều 50 như sau:
1. Trách nhiệm của nhà xuất bản được quy định như sau:
2. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm điện tử được quy định như sau:
3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức phát hành xuất bản phẩm điện tử là tài liệu không kinh doanh được quy định như sau:
4. Trách nhiệm của cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử được quy định như sau:
5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm điện tử tại Việt Nam được quy định như sau:
6. Trách nhiệm của tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm, sản phẩm thông tin có tính chất xuất bản phẩm trên không gian mạng cho người sử dụng tại Việt Nam được quy định như sau:
7. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm điện tử không nhằm mục đích kinh doanh không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này được quy định như sau:
8. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử nhằm mục đích kinh doanh được quy định như sau:
32. Sửa đổi, bổ sung Điều 51 như sau:
1. Nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
2. Xuất bản phẩm điện tử nhập khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm quyền khai thác hợp pháp và không có nội dung vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải bảo đảm khả năng xác định, quản lý, lưu trữ hoặc truy xuất xuất bản phẩm điện tử nhập khẩu phục vụ việc thẩm định, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
33. Thay thế, bỏ một số từ, cụm từ và bãi bỏ một số điều như sau:
a) Thay thế cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại khoản 1 Điều 8;
b) Thay thế cụm từ “đăng ký xuất bản” bằng cụm từ “đăng ký kế hoạch xuất bản” tại điểm c khoản 1 Điều 18;
c) Thay thế cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại điểm c khoản 1 Điều 18, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 35;
d) Thay thế cụm từ “điểm b khoản 3 Điều 23” bằng cụm từ “điểm đ khoản 1 Điều 23” tại điểm đ khoản 1 Điều 18;
đ) Thay thế cụm từ “giấy xác nhận đăng ký xuất bản” bằng cụm từ “văn bản xác nhận đăng ký kế hoạch xuất bản” tại điểm g khoản 1 Điều 18;
e) Bỏ cụm từ “cấp đổi,”, “,gia hạn” tại khoản 2 Điều 8;
g) Bãi bỏ các Điều 2, 9, 11, 15, 29, 37 và 41.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 20/2023/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 33/2024/QH15, Luật số 35/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 60/2024/QH15, Luật số 74/2025/QH15, Luật số 89/2025/QH15, Luật số 94/2025/QH15, Luật số 95/2025/QH15, Luật số 116/2025/QH15, Luật số 118/2025/QH15, Luật số 130/2025/QH15, Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 144/2025/QH15
Bãi bỏ tiểu mục 11 về lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm tại Mục III Phần B của Danh mục phí, lệ phí.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định về in xuất khẩu xuất bản phẩm tại khoản 21 Điều 1 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2029.
3. Quy định chuyển tiếp:
a) Hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa giải quyết xong thì tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
Trường hợp thủ tục cấp giấy phép, đăng ký được bãi bỏ hoặc thay thế bằng thông báo hoạt động thì thực hiện theo quy định của Luật này;
b) Giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, của tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết thời hạn ghi trên giấy phép;
c) Giấy phép thành lập nhà xuất bản, giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm, giấy xác nhận đăng ký hoạt động xuất bản điện tử, chứng chỉ hành nghề biên tập được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng; trường hợp quy định của Luật này có điều kiện, tiêu chuẩn khác với Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 112/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Xuất bản số 19/2012/QH13) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải bổ sung, đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này trong thời hạn do Chính phủ quy định nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành và thực hiện cấp lại đối với giấy phép, giấy xác nhận, chứng chỉ;
d) Văn bản, giấy xác nhận đăng ký xuất bản, giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài, văn bản, giấy xác nhận đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh, giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến khi hoàn thành nội dung hoặc hết thời hạn ghi trên giấy phép, văn bản, giấy xác nhận; việc in không có giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc in vượt quá số lượng ghi trong giấy phép bị nghiêm cấm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 của Luật này;
đ) Tổ chức/cá nhân đã được cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm, giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm, giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử theo quy định của Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 thì không phải thông báo hoạt động theo quy định của Luật này; trường hợp có thay đổi thông tin so với giấy phép, giấy xác nhận đã được cấp phải thực hiện thông báo về sự thay đổi theo quy định của Luật này;
e) Cơ sở phát hành, cá nhân kinh doanh phát hành xuất bản phẩm điện tử, cơ sở cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm, tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm cho người sử dụng tại Việt Nam đang hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục hoạt động và phải bổ sung các yêu cầu theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành; trường hợp cần gia hạn do Thủ tướng Chính phủ quyết định nhưng không quá 12 tháng;
g) Người được bổ nhiệm là tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, tổng biên tập, phó tổng biên tập nhà xuất bản trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo nhà xuất bản theo quy định của Luật này thì phải bổ sung đủ tiêu chuẩn theo quy định trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
h) Trường hợp thẩm quyền quản lý nhà nước được thay đổi, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và cấp tỉnh có trách nhiệm chuyển giao hồ sơ, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại Luật này để tiếp tục quản lý;
i) Cơ sở in có chi nhánh được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ sở in phải đề nghị cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm đối với chi nhánh và đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm đối với cơ sở in trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
k) Cơ sở phát hành, cơ sở phát hành xuất bản phẩm điện tử đã được cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động mà có chi nhánh, địa điểm kinh doanh hoặc địa điểm kinh doanh thuộc chi nhánh hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải thực hiện thông báo hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm đối với chi nhánh, địa điểm kinh doanh, địa điểm kinh doanh thuộc chi nhánh theo quy định của Luật này trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
