Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn T làm trong hạn luật định, đủ điều kiện đê thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thâm. Người bị kiện có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt Người bị kiện.
[2] Xét kháng cáo của Người khởi kiện, thây răng, phân đât diện tích 80m' tại tô E, khu phô G, phường P, thành phố B, có nguồn gốc sử dụng của ông Nguyễn Hùng M và bà Phạm Thị L1, cho ông Nguyễn Văn T (em của ông M) sử dụng từ năm 1993; ông T đã xây dựng nhà ở và sinh sống ổn định từ đó cho đến nay. Để hợp thức hóá việc sử dụng đất của ông T, ngày 14/01/1999, ông Nguyễn Hùng M 5 và bà Phạm Thị L1 lập giấy uy quyền cho ông Nguyễn Văn T sử dụng diện tích đất nêu trên.
[3] Ngày 26/6/2007, UBND thị xã B câp GCNQSD đât sô AI 645121 cho ông Nguyên Hùng M đôi với phân đât diện tích 473,1m2 (có 300m2 đất ở), bao gôm cả 80m- đât do ông 1 đang sử dụng. Phân đất của ông M được chuyên nhượng qua nhiêu người, đên ngày 03/8/2012, ông Nguyên Thành Đ1 được cấp GCNQSD đật số BI 778957, nhưng ông T vẫn là người quản lý, sử dụng nhà ở gắn liền 80m2 đất nêu trên. thu hi ng2 C n h lấn Tành guyn dyn ữ ưi gà việc GCNQSD đất của ông Nguyễn Thành Đ1 để thực hiện dự án đường P tại phường P; cùng ngày, UBND thành phô B ban hành Quyết định 2670, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Nguyễn Thành Đ1 đối với phần đất bị thu hồi và tài sản trên đất, đồng thời ban hành Quyết định 2678, phê duyệt phương án hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn T đối với nhà, vật kiến trúc và cây trồng trên đất bị thu
[5]
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành Đ1 là người có đất bị thu hôi, xác nhận ông T là người quản lý, sử dụng nhà ở găn liên 80m- đât (là một phân trong diện tích đât bị thu hôi) từ trước đên nay, ông không tranh châp phần đất này với ông T; việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bồi thường 80m2 đất nêu trên cho Ông là không đúng đối tượng mà phải bồi thường cho ông T mới đúng (BL 76, 77). Như vậy, có căn cứ xác định, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác, ông M không chuyển nhượng phần đất đã tặng cho ông T quản lý, sử dụng.
[6] Thời điểm cấp GCNQSD đất cho ông M, diện tích 473,1m (vào năm 2007), trong đó có căn nhà gắn liền 80m' đất do ông T quản lý, sử dụng (nộp thuế đất ở hàng năm) là thiếu sự kiểm tra hiện trạng sử dụng đất nên cấp cho ông M cả phân đât do ông T sử dụng là không đúng đôi tượng. Ong T sử dụng đât thuộc trường hợp được cấp GCNQSD đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013, cụ thể như sau: "1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở... trước ngày 15/10/1993; nay được uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sự dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất là phù hợp vơi quy hoạch sử dụng đất, ... đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt... hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau: a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai... thì toàn bộ diện tích được công nhận là đất ở". 6
[7] Như vậy, trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi 80m? đất do ông T quản lý, sử dụng thì phải ra quyết định thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường về đất, cũng như thực hiện phương án hỗ trợ và tái định cư cho ông T mới đúng quy định nêu trên.
[8] Toà án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện đối với N1 bị kiện là không đúng.
[9] Ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Người khởi kiện, giữ nguyên Bản án sơ thâm là không phù hợp với nhận định trên.
[10] Về án phí hành chính sơ thâm: Người bị kiện phải chịu án phí sơ thâm theo quy định của pháp luật.
[11] Các quyết định khác của Bản án sơ thấm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí phúc thâm.
Căn cứ khoản 2 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 111/2026/HC-ST ngày 02-4-2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Áp dụng Điều 79, khoản 4 Điều 103 ; điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 32, Điều 34 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về Án phí và lệ phí tòa án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, Huỷ Quyết định số 425/QĐ-UBND ngày 05/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B. Huỷ một phần tại Điều 1 của Quyết định số 2678/QĐ-UBND ngày 11/7/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố B, cụ thể: huỷ khoản 1, 2, 3 và 7 mục I; huỷ khoản 2,3 và 4 mục II. Buộc Uy ban nhân dân thành phô B (nay là Uy ban nhân dân phường B, Thành phô Hồ Chí Minh) thực hiện nhiệm vụ công vụ xem xét việc ban hành quyết định thu hồi, bồi thường bổ sung về đất, giải quyết tái định cư và các khoản hỗ trợ khác cho ông Nguyên Văn T theo quy định của pháp luật phù hợp với phân nhận định của bản án liên quan đên yêu cầu của người khởi kiện.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố B (nay là Ủy ban 7 nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thâm. Ong Nguyên Văn T không phải chịu án phí hành chính sơ thâm. H2 lại cho ông T 300.000 đông tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai sô 0002212 ngày 23/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kế từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. An phí hành chính phúc thâm: Ong Nguyên Văn T không phải chịu án phí hành chính phúc thâm. H2 lại cho ông T 300.000 đông tạm ứng án phí phúc thâm đã nộp theo Biên lai số 0023181 ngày 13/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kế từ ngày tuyên án./.