Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Gia T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Do muốn thu lợi bất chính nên trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2025 đến ngày 15/5/2025, tại khu vực tỉnh Đồng Nai (nay là Thành phố Đ), Dona M đã 04 lần bán trái phép 700 gam ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) cho Hoàng Gia T. Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 15/5/2025, tại khu vực hẻm F, tổ A, ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ), D đã đem 594 gam ma túy loại Methamphetamine về nhà cất giấu để bán và bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Ngoài ra, D còn đổi 01 bánh Heroin lấy khoảng 700 gam ma túy loại Methamphetamine để bán trái phép nhưng chưa kịp nhận ma túy. Cùng ngày 15/5/2025, Nguyễn Thanh S đã có hành vi giúp sức cho D mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể: S cầm bánh Heroin cho D chụp ảnh gửi cho bên bán để đổi trả ma túy và có hành vi mang 594 gam ma túy loại Methamphetamine nêu trên cất giấu cho D. Từ ngày 04/5/2025 đến ngày 16/5/2025, tại khu vực tỉnh Đồng Nai (nay là Thành phố Đ) và khu vực chân cầu B, thuộc Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ), Hoàng Gia T đã bán trái phép khoảng 400 gam ma túy loại 8 Methamphetamine cho Trần Quang H2, đối tượng tên T4 và nhiều người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ). Ngoài ra, T còn cất giấu khoảng 200 gam ma túy loại Methamphetamine để bán trái phép. Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/5/2025, tại khu C, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã H, Thành phố Đ), T đang mang theo 79,4398 gam ma túy loại Methamphetamine và 1,4054 gam ma túy loại Ketamine để bán trái phép thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Cũng trong khoảng thời gian trên, tại nhà số A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, Thành phố Đ), Tống Thị Thu T3 đã có hành vi giúp sức cho Hoàng Gia T mua 600 gam ma túy loại Methamphetamine của D để bán trái phép, cụ thể: T3 giúp T đưa tiền mua ma túy cho D và trực tiếp nhận 600 gam ma túy nêu trên rồi đưa cho T bán. T3 thu lợi bất chính 1.950.000 đồng.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, phiên toà sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Gia T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: [3.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Gia T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. [3.2] Về hình phạt: Hành vi mà bị cáo cùng đồng bọn thực hiện đặc biệt gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương, là nguyên nhân chính gây ra các tệ nạn xã hội và phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có nhân thân xấu từng bị Toà án xét xử về các hành vi liên quan đến ma tuý và các hành phạm pháp luật khác nhưng bản thân bị cáo không tự cảnh tỉnh mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Do đó phải xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. [3.3] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thật sự ăn năn, thừa nhận hành vi phạm tội, không cung cấp tình tiết gì mới làm thay đổi nội dung vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y án sơ thẩm. Án sơ thẩm nhận định bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác, do đó Hội đồng xét xử điều chỉnh lại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho đúng. 9 Ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị y án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân số 81/2025/QH15; Căn cứ Nghị quyết số 85/2025/UBTV QH15 phê chuẩn đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về việc thành lập các Toà Phúc thẩm, Cục, Vụ và tương đương, Cơ quan báo chí của Toà án nhân dân tối cao; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Gia T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2026/HSST ngày 09/7/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai, có điều chỉnh điểm áp dụng cho chính xác.
1.
Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 39; Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Xử phạt bị cáo Hoàng Gia T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/5/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Gia T theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo việc thi hành án. 2 Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Gia T phải chịu án phí là 200.000 đồng.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2026/HSST ngày 09/7/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.