Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng T làm trong hạn luật định, đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Bị cáo, thấy rằng, trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 7 năm 2024, Bị cáo đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối về việc có các thửa đất cần chuyển nhượng trên địa bàn thành phố Cần Thơ để chiếm đoạt tiền của bà T2 và vợ chồng ông P, bà T3, tổng số tiền là 2.787.600.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của Bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, gọi tắt là BLHS).
[3] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tình tiết tăng nặng (“phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS) và các tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bồi thường cho bà Đặng Kim T2 số tiền 15.000.000 đồng; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo đang mang thai, quy định tại các điểm s, b và n khoản 1 Điều 51 BLHS), để phạt Bị cáo 13 năm tù.
[4] Tại cấp phúc thẩm, Bị cáo cung cấp tài liệu đã tích cực tác động cha mẹ bán nhà để bồi thường thêm cho các bị hại, nhưng chưa thực hiện được vì trở ngại khách quan. Mặc dù chưa thực hiện được việc bồi thường thêm cho bị hại, nhưng cũng thể hiện thái độ thật sự ăn năn hối cải của Bị cáo. Mặt khác, sau khi mang thai trong thời gian phạm tội, Bị cáo đã sinh con và hiện đang nuôi con còn rất nhỏ nên 4 xét giảm một phần hình phạt cho Bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Do yêu cầu kháng cáo của Bị cáo được chấp nhận nên Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
1. Căn cứ Điều 343, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2026/HS-ST ngày 03-4-2026 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, n khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Hồng T 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày thi hành án phạt tù.
3. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo Trần Thị Hồng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA