9 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Hồ Minh K là người khởi kiện trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015 xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án và xét giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Minh K. Hội đồng xét xử xét thấy: [2.1] Về thẩm quyền quản lý đất đai, giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân: Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350768 ngày 18/5/2009 cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 đối với thửa đất 35, tờ bản đồ số 30 xã T (chỉnh lý trang 4 ngày 06/9/2011 chuyển nhượng cho ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Phạm Thảo N) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350769 ngày 18/5/2009 cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 đối với thửa đất 30, tờ bản đồ số 30, xã T (chỉnh lý trang 4 ngày 06/9/2011 chuyển nhượng cho ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Phạm Thảo N) là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003. [2.2] Về trình tự, thủ tục và nội dung ban hành: Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 năm 1999 được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận đủ điều kiện cấp giấy, năm 2002 được hội đồng xét cấp giấy chứng nhận xã T xét duyệt thẩm tra về nguồn gốc đất, tình trạng đất không tranh chấp; Phòng T có tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai 2003. Xét nội dung cấp giấy: Về nguồn gốc đất căn cứ lời trình bày của các bên đương sự, Công văn số 68 ngày 23/6/1998 của UBND xã T; Báo cáo số 143 ngày 18/8/2004 của UBND xã T về việc quản lý, sử dụng đất của ông Hồ Minh Q (chết năm 1993) và bà Hồ Thị Đ2; Báo cáo số 2618 ngày 02/12/2005 của Sở T4 về việc rà soát nội dung liên quan đến đất đai của bà Trần Thị Đ1; hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có tại hồ sơ đã thể hiện: Ngày 15/10/1999, ông Đặng Hữu L1 lập hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất (Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và Tờ trình nguồn gốc đất lập theo mẫu) đối với thửa đất số 30, 35, tờ bản đồ số 30, phường T, với nguồn gốc đất, thể hiện: “Đất do Hợp tác xã N2 cấp cho tôi sản xuất từ năm 1982 đến nay”. Ngày 23/7/2002, Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận xã T (nay là UBND phường B) tiến hành xét duyệt hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận của ông Đặng Hữu L1 đối với thửa đất số 30, 35, tờ bản đồ số 30, phường T, thể hiện: “1. Nguồn gốc: Đất Quản lý, của ông Hồ Minh Q. Hợp tác xã nông nghiệp cấp cho hộ sử dụng từ năm 1985 đến nay. Hiện không tranh chấp. 10
2. Hiện trạng sử dụng: Đất màu.
3. Quy hoạch: ... Kết luận của Hội đồng: Đủ điều kiện – đề nghị trên cấp giấy...”. Ngày 24/7/2002, Ủy ban nhân dân phường T ký xác nhận Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 15/10/1999 của ông Đặng Hữu L1, thể hiện: “Đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đến ngày 25/3/2009, ông Đặng Hữu L1 lập lại Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30, phường T. Ngày 05/8/2009, ông Đặng Hữu L1 lập đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35 tờ bản đồ 30, xã T, thành phố B. Ngày 24/3/2009, Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường B) xác nhận: “Thửa đất số 30, 35 tờ bản đồ số 30 có nguồn gốc của Hợp tác xã N2 cấp cho ông Đặng Hữu L1 vào năm 1985 dùng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (cây hàng năm)”, không tranh chấp, khiếu nại. Ngày 07/5/2009, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B ký xác nhận kết quả thẩm tra “Đủ điều kiện cấp”. Trên cơ sở kết quả thẩm tra hồ sơ, Phòng T có Tờ trình ngày 12/5/2009 trình UBND thành phố B về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 đối với thửa đất số 30, 35 tờ bản đồ số 30, phường T. Ngày 18/5/2009, Ủy ban nhân dân thành phố B ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350769 cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30, xã T, diện tích 628,7m² và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO350768 cho ông L1, bà L2 đối với thửa 35 tờ bản đồ 30, xã T diện tích 522,1m2, mục đích đất trồng cây hàng năm khác. Ngày 22/5/2009, ông Đặng Hữu L1, bà Nguyễn Thị L2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 30, 35 tờ bản đồ số 30, xã T, diện tích 628,7m² và diện tích 522,1m2 cho ông Phan Tấn T, bà Nguyễn Phạm Thảo N đối với thửa đất số 30, 35 tờ bản đồ số 30, phường T được Ủy ban nhân dân phường T chứng thực tại Hợp đồng số 82, 83, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 22/5/2009. Đến ngày 06/9/2011, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B) ký xác nhận nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350769, AO 350768 đứng tên ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Phạm Thảo N. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là đúng trình tự thủ tục, đối tượng sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. [2.3] Ngoài ra, tại Công văn số 68 ngày 23/6/1998 của UBND xã T trả lời đơn khiếu nại của bà Trần Thị Đ1 việc xin lại ruộng đất do ông Đặng Hữu L1 tự ý sử dụng đất của gia đình bà, UBND xã T đã trả lời diện tích đất này thuộc diện nhà nước quản lý (hiến). Ủy ban nhân dân và Hợp tác xã N4 cho nông dân sản xuất trước năm 1986 trong đó có hộ ông Đặng Hữu L1. Theo Báo cáo số 143 ngày 18/8/2004 của UBND xã T về việc quản lý, sử dụng đất của ông Hồ Minh Q (chết năm 1993) và bà Hồ Thị Đ2; Báo cáo số 2618 ngày 02/12/2005 của Sở T4 về việc rà soát nội dung liên quan đến đất đai của bà Trần Thị Đ1 cùng với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có tại hồ sơ đã thể hiện: Các thửa đất số 30 và 35 tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại phường T (cũ) có nguồn gốc của ông Hồ Minh Q và bà Trần 11 Thị Đ1 sử dụng từ trước năm 1975. Thực hiện theo chính sách khoán 10, khoán 100, Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 03/5/1983, đến khoảng năm 1985 Hợp tác xã N2 được thành lập, UBND xã T vận động hộ dân trong xã trong đó có ông Hồ Minh Q đưa đất vào Hợp tác xã, sau đó Hợp tác xã phân phối lại cho các xã viên trong xã canh tác, trong đó 02 thửa đất nêu trên giao cho ông Đặng Hữu Lâm sản X nông nghiệp từ năm 1985. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật đất đai 2013 quy định “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
[3]
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện ông Hồ Minh K, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hồ Minh K có bà Nguyễn Thị Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền kháng cáo cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm tài liệu chứng cứ gì mới, chứng minh cho yêu cầu của mình, nên yêu cầu kháng cáo không có cơ sở để xem xét. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hồ Minh K phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Vì các lẽ trên:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Minh K là người khởi kiện. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 147/2025/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ). Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật tố tụng hành chính; Điều 23, khoản 5 Điều 26 Luật đất đai 2013; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Minh K về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350769 được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 12 18/5/2009 đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30, phường T cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 (trang 4 giấy chứng nhận ngày 06/9/2011): Chuyển nhượng cho ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Phạm Thảo N và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 350768 được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 18/5/2009 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 30, phường T cho ông Đặng Hữu L1 và bà Nguyễn Thị L2 (trang 4 giấy chứng nhận ngày 06/9/2011: Chuyển nhượng cho ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Phạm Thảo N).
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Hồ Minh K phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông K đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002453 ngày 27/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ (nay là thành phố Đ). Như vậy, đương sự đã nộp đủ.
3. Các quyết định khác của Bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
4. Bản án Hành chính phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.