Quyết định 124/2004/QĐ-UB Về việc ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Pleiku
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 124/2004/QĐ-UB | Pleiku, ngày 18 tháng 11 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Pleiku
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ điều 10, Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;
- Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
- Xét đề nghị của Sở Tài chính tại Tờ trình số: 122/TT-TC, ngày 11/11/2004
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Pleiku.
Điều 2: Quyết định này áp dụng cho việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế và các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Pleiku.
Điều 3: Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND thành phố Pleiku, Trưởng ban Ban đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư tỉnh, chủ đầu tư của các dự án và các cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký./.
QUY ĐỊNH
Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Pleiku
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 124/2004/QĐ-UB ngày 18 tháng 11 năm 2004 của UBND Tỉnh Gia Lai)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1: Phạm vi áp dụng.
Bản quy định này quy định về bồi thường về đất, bồi thường về tài sản, các chính sách hỗ trợ, bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế và thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Pleiku đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định.
Điều 2: Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng quyết định này:
- Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư theo quy hoạch bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước có hỗ trợ.
2- Khi Nhà nước thu hồi đất không thuộc phạm vi quy định tại Điều 1 của quy định này.
Điều 3: Người bị thu hồi đất.
Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư trên địa bàn thành phố Pleiku đang sử dụng đất bị Nhà nước thu đất gọi chung là người bị thu hồi đất.
Điều 4: Các trường hợp được mở rộng phạm vi thu hồi đất của dự án:
1- Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, xây dựng đại lộ trong đô thị, đường vành đai trong đô thị.
2- Dự án xây dựng cầu, bến xe, đầu mối giao thông (Ngã 3, ngã 4...), xây dựng giao thông đường bộ qua khu dân cư.
3- Các dự án đầu tư khác do Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định.
Điều 5: Đối tượng phải chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
1- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quy định tại Điều 1, Điều 4 của quy định này có nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của quy định này.
2- Các tổ chức được nhà nước giao nhiệm vụ thu hồi đất theo quy định tại Điều 1, 4 của quy định này thì có nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của quy định này.
Điều 6: Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi thường về đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định của quy định này.
Điều 7: Tái định cư.
1- Tái định cư là việc bố trí nơi ở mới cho hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở.
2- Người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bố trí tái định cư bằng các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng giao đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
Điều 8: Phạm vi bồi thường, hỗ trợ
- Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với diện tích đất Nhà nước thu hồi.
- Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất khi Nhà nước thu hồi.
- Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất.
- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu vực tái định cư.
Chương II
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ ĐẤT
Điều 9: Nguyên tắc bồi thường về đất cho người có đất bị thu hồi.
1- Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 10 của quy định này thì được bồi thường; nếu không có một trong các điều kiện bồi thường về đất thì không được bồi thường, trong trường hợp cần thiết Ủy ban Nhân dân tỉnh xem xét hỗ trợ.
2- Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường tính bằng tiền theo giá đất có cùng mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị, thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
3- Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của Pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả Ngân sách Nhà nước.
Điều 10: Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ về đất.
Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường thiệt hại về đất:
1- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật về đất đai.
2- Có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật về đất đai.
3- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban Nhân dân xã, phường xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau:
a/ Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c/ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo đúng quy định của Pháp luật.
d/ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được Ủy ban Nhân dân xã, phường xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15/10/1993;
đ/ Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của Pháp luật bao gồm:
- Có giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước của thủ trưởng cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp Nhà nước là đơn vị được giao quản lý, sử dụng nhà thuộc sở hữu Nhà nước hoặc nhà được tạo lập bằng vốn có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước trước ngày 05/7/1994, kể cả các trường hợp mua thanh lý, hóa giá nhà nhưng giấy tờ không ghi thu tiền sử dụng đất hoặc giá trị đất;
- Có giấy tờ mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước do cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp Nhà nước hoặc tổ chức quản lý nhà thuộc sở hữu Nhà nước bán theo quy định của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.
e/ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
4- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01/7/2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật, nay được Ủy ban Nhân dân xã, phường xác nhận là đất không tranh chấp.
5- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nay được Ủy ban Nhân dân xã phường nơi có đất xác nhận là đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp.
6- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ tại Khoản 1, 2, 3 Điều này, nhưng đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được Ủy ban Nhân dân xã, phường xác nhận là đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp bao gồm:
- Đất đã sử dụng trước ngày 15/10/1993 không phải là đất lấn chiếm trái phép và từ đó đến khi thu hồi đất nằm ngoài phạm vi quy hoạch, ngoài phạm vi hành lang bảo vệ công trình, được Ủy ban Nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không tranh chấp.
- Đất đang nằm trong phạm vi quy hoạch hoặc hành lang bảo vệ công trình, nhưng là đất đã sử dụng trước ngày 15/10/1993 mà tại thời điểm sử dụng đất Nhà nước chưa quy hoạch, chưa lập hành lang bảo vệ công trình và cắm mốc; sau ngày 15/10/1993, Nhà nước có quy hoạch lập hành lang bảo vệ công trình và cắm mốc, nhưng chưa thực hiện thu hồi đất và bồi thường cho người có đất, được Ủy ban Nhân dân xã xác nhận là đất đó không tranh chấp.
7- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này nhưng đã sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ công trình, được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã công bố công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Ủy ban Nhân dân xã, phường xác nhận là đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp.
8- Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
9- Người khai hoang đất (Đất chưa bao giờ được dùng vào sản xuất đất đã bỏ hoang ít nhất 5 năm) để sử dụng vào mục đích nông nghiệp mà đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc phù hợp với quy hoạch và quy định của Pháp luật, được Ủy ban Nhân dân xã, phường nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không tranh chấp thì được bồi thường về đất.
10- Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Ủy ban Nhân dân xã, phường nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không tranh chấp.
11- Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a- Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước.
b- Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước.
c- Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
Điều 11: Người bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất.
Người bị Nhà nước thu hồi đất không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 10 của quy định này và trái với Pháp luật thì không được bồi thường về đất.
Điều 12: Diện tích đất ở, giá đất để tính bồi thường, mức bồi thường, hỗ trợ và chi phí đầu tư vào đất còn lại.
1- Diện tích đất ở được bồi thường:
a- Diện tích đất được tính bồi thường là diện tích thực tế thu hồi nhưng không vượt quá diện tích đất ở ghi trên giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 10; Phần chênh lệch lớn hơn giữa diện tích đất ở thực tế thu hồi và diện tích đất ở ghi trên giấy tờ được coi là đất vườn liền kề, đất nông nghiệp và tính bồi thường theo quy định tại Điều 13 của quy định này.
b- Trường hợp không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 10 thì diện tích đất ở được tính bồi thường là diện tích được xác định theo thực tế thu hồi nhưng không quá 200m2 đối với đất nội thị, 300m2 đối với đất vùng ven.
2- Giá đất để tính bồi thường:
Giá đất để tính bồi thường là giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ.
- Trường hợp trả tiền bồi thường bị chậm do chủ dự án gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Ủy ban Nhân dân tỉnh công bố có sự thay đổi cao hơn so với giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
- Trường hợp trả tiền bồi thường bị chậm do người bị thu hồi đất gây ra, mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Ủy ban Nhân dân tỉnh công bố có sự thay đổi cao hơn so với giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường.
3- Xác định mức bồi thường, hỗ trợ về đất, nếu hình thức bồi thường, hỗ trợ được thực hiện giá trị bằng tiền:
a- Bồi thường 100% tiền sử dụng đất đối với các trường hợp nêu tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10, 11 tại Điều 10 của quy định này.
b- Chỉ bồi thường 60% tiền sử dụng đất đối với trường hợp nêu tại khoản 7 Điều 10 của quy định này.
4- Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất theo mục đích sử dụng đất được phép sử dụng có đầy đủ chứng từ, căn cứ minh chứng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được, bao gồm:
- Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp trước (có chứng từ, hoá đơn nộp tiền) còn lại sau khi trừ đi số tiền tương ứng với số năm đã sử dụng đất;
- Các khoản chi phí đã đầu tư vào đất như chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao, được thuê; các chi phí này phải có căn cứ xác định hoặc có chứng từ chứng minh; phần chi phí còn lại phải được xác định ứng với thời gian sử dụng đất còn lại.
Điều 13: Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
1- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp được bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng. Nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại Điều 12 của quyết định này. Cụ thể như sau:
- Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng thì tuỳ vào thực tế quỹ đất ở địa phương, mức giao đất mới cho mỗi hộ gia đình không vượt quá diện tích đất thu hồi và đảm bảo tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.
- Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi, thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch đó;
- Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi, thì bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi; phần giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi không được bồi thường bằng việc giao đất mới thì được bồi thường bằng tiền.
2- Đất nông nghiệp trong nội thành, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư nông thôn, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng loại còn được hỗ trợ thêm 30% đối với đất nội thành, 20% đối với đất vùng ven và nông thôn được tính chênh lệch giữa giá bồi thường đất ở và giá bồi thường đất nông nghiệp theo diện tích thực tế thu hồi nhưng không quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo Điều 70 của Luật đất đai năm 2003.
3- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức trước ngày 01/01/1999, thì việc bồi thường được thực hiện như sau:
a- Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường thiệt hại về đất.
b- Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp khác không được bồi thường thiệt hại về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
4- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp, không đủ điều kiện để bồi thường về đất theo quy định tại quy định này, mà sau khi bị thu hồi không còn đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp thì Ủy ban Nhân dân tỉnh xem xét hỗ trợ từng trường hợp cụ thể và không quá 10 triệu đồng cho một hộ; nếu còn quỹ đất sẽ giải quyết giao đất hoặc cho thuê đất mới.
Điều 14: Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
1- Đất làm mặt bằng cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân đang sử dụng ổn định lâu dài được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 4 Điều 66 Luật đất đai 2003, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá đất của loại đất đã được công nhận quyền sử dụng đất.
2- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp có thời hạn do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho hoặc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất được bồi thường về đất theo giá đất phi nông nghiệp; trường hợp sử dụng đất do Nhà nước hoặc do Ủy ban nhân dân cấp xã, phường cho thuê, thì khi Nhà nước thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Điều 15: Bồi thường đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức
1- Tổ chức đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đã nộp tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng từ người sử dụng đất hợp pháp, mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước thì khi Nhà nước thu hồi được bồi thường về đất.
2- Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư còn lại nếu tiền đầu tư đó không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
3- Cơ sở của tổ chức tôn giáo đang sử dụng ổn định trước ngày 01/7/2004, khi Nhà nước thu hồi thì được bồi thường về đất. Trường hợp được Nhà nước giao đất sau ngày 01/7/2004 thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi thường, hỗ trợ phù hợp với hình thức giao đất.
Điều 16: Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở
1- Người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng nhà ở, giao đất ở mới tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi, phù hợp với thực tế ở địa phương như sau:
a- Đất ở bị thu hồi tại nội đô thị thì bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở hoặc bằng tiền;
b- Đất ở bị thu hồi tại nông thôn thì được bồi thường bằng giao đất ở mới hoặc bằng tiền.
2- Mức bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi tối đa bằng hạn mức giao đất ở theo quyết định của Ủy ban Nhân dân tỉnh. Trong trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở mới, thì tuỳ theo quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, Ủy ban Nhân dân tỉnh có thể quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi.
Điều 17: Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở.
